Hôm nay,  

Đất Ngàn Cau Cứu Đói Khổ

01/12/200200:00:00(Xem: 5869)
Bạn,
Vùng núi Quảng Ngãi có huyện Sơn Tây nơi dân địa phương gọi là đất ngàn cau, vì cau mọc tầng tầng, lớp lớp trong bản làng, trên đồi nương và cả những khu rừng tiếp giáp với rừng già. Cũng nhờ cây cau mà dân huyện miền núi Sơn Tây thoát khỏi nạn đói trong những năm tháng mất mùa. Trong một chuyến đi về vùng núi này, phóng viên SGGP viết về vùng đất ngàn cau này qua đoạn ghi chép như sau.
Khởi hành từ thị xã Quảng Ngãi xe lên đất ngàn cau phải vượt trên 100 cây số đường dốc đèo. Hết đèo Cà Đáo, đến dốc Hoắc Liên, dốc Ông Phó, dốc Tà Mực và rất nhiều dốc núi vô danh với những cua tay áo đầy nguy hiểm. Đến dốc Hoắc Liên ranh giới giữa hai huyện miền núi Sơn Hà- Sơn Tây, bác tài cho xe dừng lại để khách hàng giải mỏi. Tôi (phóng viên) nhìn về phía cầu treo thôn Tà Dô, xã Sơn Tân đã thấy các bản làng ở dưới chân núi cau mọc thành rừng phủ xanh thôn bản. Rồi từ đó ngược đường lên huyện lỵ Sơn Tây đi qua Sơn Mùa, Sơn Bua tiếp giáp với Trà My (Quảng Nam) hay vào Ra Manh, phần đất cuối cùng của xã Sơn Dung (giáp huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) đâu đâu cũng thấy cau mọc quanh bản làng, trên đồi nương và cả những vạt rừng tiếp giáp với rừng nguyên sinh. Theo phòng nông lâm nghiệp huyện Sơn Tây thì diện tích trồng cau khá lớn, chiếm trên 1 ngàn 200 ha.

Đang mùa thu hoạch cau nên bản làng vùng cao này như thức giấc sau cơn ngủ vùi. Đi dọc con đường vào bản, tôi đã thấy những đứa trẻ chừng 15, 16 tuổi, da đen nhẻm với dây rừng quấn tròn trên vai đi hái cau thuê. Còn những tư thương thì lùng sâu vào các thôn bản để mặc cả, mua bán. Theo chân họ là những quầy hàng di động của những người đi buôn, gánh trên vai với đủ mớ đời, từ cây kim, sợi chỉ cho đến muối ăn và cả đồ chơi con nít. Tư thương đi tìm hộ bán cau để gom hàng, còn họ đi tìm những nhà vừa mới bán cau túi rủng rỉnh tiền để chào mời, mua bán. Tôi tạt thôn Huy Em, xã Sơn Mùa. Anh Đinh Văn Chênh kể: Từ hồi còn nhỏ đã thấy cây cau trồng quanh bản rồi. Cây cau dễ trồng lắm. Người siêng thì lấy quả già đem phủ cát dưới ảng nước để trái nảy mầm đến mùa mưa đem trồng. Người biếng thì cứ để trái cau chín vàng rụng xuống đất nảy mầm xanh mới bứng lên trồng.
Hết thế hệ này đến thế hệ khác đều trồng cau nên bây giờ cau mọc thành rừng. Người trồng nhiều từ 4 ngàn-5 ngàn cây, người trồng ít cũng vài trăm cây. Mùa cau trổ bông hương thơm thoang thoảng rồi kết trái, chín vàng trên sườn đồi. Đồng bào thiểu số hái trái đem về chẻ đôi lấy hạt sấy hoặc phơi để ăn trầu và phần lớn là chuyển về xuôi. Mười năm trở lại đây khi hạt cau trở thành món hàng xuất sang thị trường Trung Quốc, ở Quảng Ngãi nhiều lò sấy được dựng lên thì trên đất này cây cau càng có giá.
Bạn,
Cũng theo SGG, cây cau đối với dân sắc tộc Ca Dong cũng như cây quế của dân sắc tộc Cor ở huyện Trà Bồng, đã trở thành loại cứu khổ của dân nghèo miền núi. Trái cau là món hàng duy nhất của vùng đất này đến với thị trường nước ngoài. Nhờ có cây cau nên nhiều gia đình ở Sơn Tây thoát khỏi đói nghèo.

Có những di sản văn hóa mang theo những mảng hồn dân tộc, mà chúng ta khi nhớ tới vẫn luôn luôn cảm động, vì đó là một phần lịch sử mở nước, dựng nước của ông bà mình.
Trong thời toàn cầu hóa, không chỉ kinh tế bị tác động lớn, cả lợi và hại, mà văn hóa cũng thế. Do vậy, bản sắc dân tộc cũng sẽ chuyển biến qua từng thế hệ, có nơi nhạt hơn một chút, và có nơi đậm hơn một chút -- và đôi khi, như ở các thành phố lớn, như tại Sài Gòn, văn hóa trở thành một tổng hợp chuyển biến, tác động lẫn nhau.
Gốm Việt Nam trước giờ nổi tiếng nhất là gốm Bát Tràng. Có lẽ một yếu tố làm cho gốm Bát Tràng được biết nhiều là nhờ vị trí điạ lý thuận lợi, nằm ngay ở Gia Lâm, Hà Nội – nghĩa là bên bờ thủ đô, và do vậy được các phóng viên báo chí viết nhiều. Nhưng như thế không có nghĩa là gốm Việt Nam mình chỉ duy có gốm Bát Tràng.
Làm thế nào có thể giữ gìn những điệu hát dân ca của Việt Nam? Có lẽ, đó làmột trong những khó khăn nhất đối với những người yêu mến nghệ thuật dân tộc.
Câu chuyện bằng giả là bình thường, vì chỉ cần một máy in đặt bên cạnh máy điện toán, nối dây xong, dùng Photoshop phù phép là xong.
Tình yêu đôi khi cần lời khuyên, bất kể rằng trái tim vẫn có những lý lẽ riêng của nó.
Đó là một chữ mới thấy trong hơn một thập niên nay, có thể là gần 2 thập niên: chém gió. Chữ này không rõ dịch chính xác ra ngôn ngữ bạn đang sử dụng thế nào... thôi thì mượn những chữ khá xưa mà bạn đã biết để đối chiếu: “chém gió” có nghĩa là “nổ,” là “xạo,” là “bẹt cà na”...
Nên “có tiếng“ hơn là nên “có miếng”? Những lựa chọn như thế có thể ảnh hưởng nhiều tới, không riêng cho bản thân người lựa chọn, nhưng sẽ tác động ra cả xã hội, nếu đây là một chính sách.
Chúng ta có bao giờ hài lòng với công việc của mình? Hoặc là chỉ hài lòng vào những ngaỳ cuối tuần khi được nghỉ ngơi, và bất mãn vào những ngày lao động nặng nhọc trong tuần?
Thế lào nà lói ngọng? Trời ạ, lại nói ngọng rồi. Không phải giỡn, nhưng nói ngọng là điều không nên, tuy là lỗi rất bình thường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.