Hôm nay,  

Lượm 50 Triệu, Trả Lại

29/07/200200:00:00(Xem: 6070)
Bạn,
Cách đây hơn 1 tháng, báo quốc nội có loan tin một cư dân nghèo ở Gò Vấp nhặt được của rơi trị giá gần 50 triệu đồng đem trả lại cho người mất. Cuối tuần qua, một phóng viên báo Lao Động đã đến tận nhà thăm và đã ghi lại tình cảnh khốn khó của gia đình người dân nghèo này qua đoạn ký sự như sau.
Như Lao Động đã đưa tin ngày 21-6-2002 về trường hợp anh Dương Đức Mạo (tạm trú A24 cư xá Lam Sơn, phường 17, quận Gò Vấp) nhặt được của rơi trị giá gần 50 triệu đồng đem trả lại cho người mất. Chúng tôi đã tìm đến nhà anh 5 lần nhưng không lần nào thành, mãi đến lần thứ 6 mới gặp được anh. Ngồi đối diện chúng tôi là anh Dương Đức Mạo, 39 tuổi, quê ở Hà Tây. Trông anh già hơn so với tuổi, bởi dáng người gầy gò, khuôn mặt đen và hằn những nếp nhăn.
Từ sáng sớm mỗi ngày, anh đạp chiếc xe đạp cà tàng lên tuốt quận 10, Tân Bình để lượm ve chai kiếm sống qua ngày. Cuộc sống mưu sinh nơi đất khách quê người đầy những khó khăn, vất vả, thiếu thốn nhưng anh luôn có lòng tốt đối với mọi người. 18 giờ ngày 19.6.2002, trên đường đi làm về đến ngã năm Nguyễn Thái Sơn (P.3, Q.Gò Vấp) anh lượm được một túi xách. Trong đó có 2 sợi dây chuyền vàng, 1 nhẫn hột xoàn, 1 đôi bông tai, 1 điện thoại di động, 33 triệu đồng tiền kỳ phiếu gởi ngân hàng, 57 ngàn đồng tiền mặt và nhiều giấy tờ quan trọng khác. Anh cố kêu thật to cho người nào đó đánh rơi biết được, nhưng không thấy ai quay lại. Sau đó anh ghé vào quán cơm gần ngã năm Nguyễn Thái Sơn. Nhờ chủ quán cơm này lần theo địa chỉ, điện thoại trong túi xách, gọi điện trực tiếp báo cho người mất là chị Đậu Bích Thủy (ngụ 90/981 đường 26-3, Q.Gò Vấp) lên nhận lại. Chị Thủy không giấu được xúc động khi nhận lại của rơi. Chị kể: “Vừa về đến nhà, tôi nghe người nhà nói lại mới hay túi xách bị rơi. Tôi nghĩ sẽ không bao giờ tìm lại được, nào ngờ... Trong thời buổi kinh tế thị trường như hiện nay mà có được một tấm lòng tốt như anh Mạo quả là rất hiếm”.

Bạn,
Phóng viên LĐ viết tiếp: “Chúng tôi càng xúc động hơn khi nghe anh kể về hoàn cảnh gia đình mình. Năm 1989, anh về quê nhà lấy vợ và sinh được 4 cháu nhỏ. Cuộc sống gia đình ngày càng khó khăn. Năm 1995, anh quyết định để 3 cháu lớn ở lại quê với bà nội, còn mình cùng vợ và cháu út vào Sài Gòn kiếm sống. Ước mơ của anh thật giản dị đời thường, chỉ mong có chút tiền dư gửi về quê nuôi 3 cháu. Anh tâm sự: “Vào Sài Gòn đã 7 năm, làm đủ nghề nhưng chưa lần nào có đủ tiền để về thăm quê. Dư chút đỉnh thì tôi gởi về cho bà nội nuôi các cháu ăn học”. Còn vợ anh cho biết, hai vợ chồng đi lượm ve chai cả ngày nên cháu nhỏ phải gửi nhà trẻ, có khi nửa tháng mới đón về. Hai vợ chồng lao động rất vất vả, ngày may mắn kiếm được khoảng 50 ngàn đến 60 ngàn đồng. Nhiều ngày mưa to gió lớn chỉ đủ tiền cơm. Khi hỏi về chuyện lượm của rơi, anh nói: “Tôi rất vui sướng khi người mất vui mừng nhận lại của rơi”. Câu chuyện của chúng tôi bị cắt đứt bởi tiếng khóc oa ... oa của cu Tí, con anh. Chúng tôi chia tay anh với bao nỗi niềm xúc động... Còn anh lúi cúi lo chất những bao phế liệu ra trước sân, tiếp tục một ngày lao động nhọc nhằn trong nắng mới.”

Văn bằng đại học trên nguyên tắc sẽ mở ra nhiều cánh cửa thành công, vì nó không chỉ làm cho người giữ văn bằng niềm tự hào vì đứng biệt lập với đám đông đa số, nhưng cũng chứng tỏ một tri thức cần thiết cho một số việc chuyên môn.
Đó là một chữ lạ, “truyện ngôn tình.” Thực ra, thể văn chương này không lạ. Nhưng lạ chỉ là, khi thể truyện này tạo thành một niềm say mê cho tuổi trẻ Việt Nam một cách bất thường. Chúng ta có thể thắc mắc: tại sao tuổi trẻ quay đầu với xã hội, và để rồi vùi đầu vào trang sách truyện ngôn tình?
Có những chuyện không thể cứ để xảy ra hoài. Bởi vì, người xưa nói, như chim thoát chết sau khi bị tên bắn, từ đó về sau hễ gặp cành cong là nghĩ tới cung. Người tất nhiên cũng có những nỗi quan tâm tương tự.
Công ty nào cũng thế, luôn luôn đòi hỏi người lao động phải có khả năng hoàn tất công việc được giao phó. Nghĩa là, đúng nghề, đúng việc.
Cuộc đời luôn luôn đổi dời. Không có gì bất biến, trường cửu. Tuổi thanh xuân của chúng ta rồi già, rồi suy yếu. Những ngôi làng tại Việt Nam cũng thế, những nét truyền thống mờ nhạt dần. Tất nhiên là, đổi mới phaỉ có tốt và cả xấu, ai cũng biết.
Một thời chúng ta nhìn các thầy giáo, cô giáo như những vị thần linh... nhưng bây giờ thì không như thế nữa.
Một thời, chúng ta từng ngồi đọc sách ở các thư viện Sài Gòn. Nơi đó, thời đó, chữ nghĩa còn là cái gì rất mực thiêng liêng.
Hãy hình dung rằng, khi các em bé tiểu học đọc sử, nhìn hình Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nữ Tướng Bùi Thị Xuân... cỡi voi, chỉ huy quân binh ra chiến trường... và rồi sẽ hỏi, xem con thú gì khổng lồ lạ kỳ, đang sử dụng thay cho ngựa chiến...
Có những điều như dường bất khả vẫn xảy ra trong đời naỳ. Không, chúng ta không bàn chuyện phép lạ, hay bất kỳ những gì siêu nhiên nơi đây. Chỉ bàn về cõi người của mình thôi.
Chúng ta đang sống trong một thời lắm bệnh, và do vậy để chữa lắm bệnh tất phải có thuốc đa dụng, đa năng... Làm sao tìm ra phương thuốc đa dụng,đa năng?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.