Hôm nay,  

Nón Lá ‘thúy’ Ơû Huế

31/05/200300:00:00(Xem: 7263)
Bạn,
Nghề làm nón của VN xuất hiện từ rất sớm, khoảng đời Trần (thế kỷ XII-XIV). Nhưng nhiều người chằm nón nhiều đời ở Huế lại khẳng định, người khai sinh ra chiếc nón lá Huế lại là ông Langlois, một người Pháp. Ông qua Việt Nam và đến Huế năm 1680, là người đã khuyến khích phát triển nghề chằm nón ở Huế. Hiện nay, Huế có 1 phụ nữ tật nguyền làm nón được nhiều du khách Tây phương biết đến qua thương hiệu nón Thúy. Báo Lao Động viết như sau.
Ở Huế, có nhiều vùng chằm nón nức tiếng từ xưa đến giờ như: Phú Hồ, Phước Vĩnh, Dạ Lê, Triều Sơn, Nam Phổ, Kim Long, Dương Nỗ, Tân Mỹ, Hương Sơ, Mỹ Lam, làng Chuồn. Năm cao điểm, mỗi vùng có từ 3 ngàn - 4 ngàn hộ gia đình tham gia chằm nón. Những năm 90, ở Huế có đến 5 hợp tác xã chuyên sấy lá để chằm nón. Nằm sâu trong hẻm 95 của đường Trần Phú, ở Phú Cam, ngôi nhà phóng viên tìm đến trông rất khiêm tốn với sự nổi tiếng của thương hiệu. Chị chỉ còn một tay, đúng hơn là một tay rưỡi. Chị cười giễu cợt: "Mình là nón Thúy đây, Trần Thị Thúy, 36 tuổi, chưa chồng, không con". Chị Thúy vừa soạn nón ra chằm, vừa kể: "Mình sinh ra trong một gia đình chằm nón từ những năm 30 của thế kỷ trước, thời của bà ngoại. Sau này bố mất, cả mình cùng ba anh trai và mẹ đều chằm nón để kiếm sống qua ngày". Mất nửa cánh tay phải từ khi mới lọt lòng mẹ, năm lên 10 tuổi, chị học, chằm được chiếc nón đầu tiên, và nghiệp chằm nón cũng theo chị luôn từ ấy cho đến bây giờ. "Rứa là đã 26 năm mình gắn với nghề này. Cực khổ lắm, nhưng chỉ có một tay rưỡi nên chẳng biết làm gì khác. Người ta đủ tay thì mỗi chiếc nón chỉ cần chằm 2 tiếng đồng hồ, như mình thì phải cần đến 4 tiếng, những chiếc nón loại tốt thì có khi phải 6 tiếng mới xong. Chậm là bởi, người ta có hai tay thì tay trên tay dưới. Tay trên đâm mũi kim xuống là tay dưới lập tức đâm mũi kim lên. Đằng này mình lên xuống chi cũng mỗi tay này. Mỗi ngày thường chằm 2 cái, được khoảng 20 ngàn đồng, nhưng trong đó, tiền mua chất liệu đã gần 10 ngàn đồng/2cái. Hồi nào trúng, gặp khách Tây, giá được hơn đôi ba nghìn đồng/cái.

Thương hiệu Thuý là do khách Tây đặt cho, chứ không có bảng hiệu gì. Năm 1995, thời điểm khách du lịch còn ồ ạt đổ về Huế. Vì chị có nhiều bạn bè làm hướng dẫn viên du lịch, nên hễ có du khách Tây nào hỏi về nón Huế là họ đều dẫn lên chỗ chị Thúy. Một phần vì nón chị làm đẹp, phần vì thấy chị tật nguyền, nên ai nhìn thấy cũng thích, cũng mến. Tiếng lành đồn xa, từ đó đến nay, không biết người ta "đồn" thế nào mà ai đến Huế cũng tìm chị Thúy. Người thì đến mua nón, người thì đến để xem chị chằm nón rồi tặng một ít tiền, gọi là công xem biểu diễn. Khách đông đến nỗi chị hoảng, vì "cùng chằm nón, nhưng nhà mình thì luôn như hội, còn nhìn qua nhà hàng xóm lại vắng như chùa bà Đanh".
Bạn,
Giải thích về thương hiệu Thúy, chị Thúy nhớ lại: "Ban đầu khi mua nón bài thơ, họ chỉ chú ý đến những hình vẽ bên trong về cầu Trường Tiền, chùa Linh Mụ, một đôi trai gái, hay là núi Ngự, sông Hương... Nhưng có một hôm, một ông Tây tự dưng nổi chứng yêu cầu mình vẽ xen vào giữa những hình ảnh ấy một chữ Thúy để làm kỷ niệm. Thấy cũng hay hay, từ đó về sau khi nào làm nón bài thơ, mình cũng thêm vào đấy một chữ Thúy. Dần thành quen, bây giờ khách Tây đến mua nón bài thơ của mình mà không có chữ Thúy là họ không chịu".

Các bạn vàng Trung Quốc vào đất Việt để làm gì? Có nhiều lý do, tất nhiên.
Chúng ta có thể thắc mắc rằng tại sao con số tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam lúc nào cũng quá thấp, trong khi số người thất nghiệp ngoaì phố thị và trong làng xã lại quá đông tới đếm không xuể.
Có ai đã từng bảo rằng dân tộc mình vốn ưa thích thi ca. Hẳn là không hoàn toàn đúng đâu, vì nếu thế, nhà thơ hẳn là có thể tự lực tự cường về mặt tài chánh bằng những dòng thơ của họ.
Câu chuyện ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2009 tuyên bố hùng hồn rằng khai thác bauxite Tây Nguyên là chủ trương lớn của “Đảng và Nhà Nước,” bác bỏ hết những phản biện từ nhiều ngàn vị trí thức, chuyên gia... bây giờ mới thấy khủng hoảng. Đỉnh cao trí tuệ của nhà nước bây giờ mới trở thành trò giễu cho cả thế giới.
Nếu chúng ta không phải bác sĩ, và ngay cả nếu có là bác sĩ nhưng thiếu những máy thử nghiệm y khoa tối tân để đo lường các số liệu kích thích tố trong cơ thể, làm sao chúng ta có thể xác định giới tính của một người nào là nam hay nữ?
Chúng ta đang sống trong thời đủ thứ giả mạo.
Từ nhiều thập niên, chúng ta vẫn nhìn về phương Bắc như cội nguồn, như ngưỡng vọng về những quê hương tâm linh xa thẳm nghìn năm của Núi Tản, của Sông Hồng, của Yên Tử, của Hoa Lư... nơi phát tích những cổ xưa văn hóa Việt.
Đó là chuyện rất lạ, khi một người xứ lạ vào VN, tự xưng là Tiến Sĩ Nông Nghiệp Tứ Xuyên, thuê dân mình trồng lúa lạ.
Đó là chuyện hiếm khi nói tới. May mắn, nhờ cuộc cách mạng tin học, và nhờ các blog mọc lên như nấm, cuối cùng mới có chuyện khó nói lại được nói lên.
Nhớ hồi đi học, mỗi lần ra sân trong giờ thể dục thể thao là ông thầy bắt vừa chạy, vừa hát bài “Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau...” Mới biết, kỷ niệm tuyệt vời, một lần in vào trí nhớ thơ trẻ, là chúng ta khó quên vậy.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.