Hôm nay,  

Nón Lá ‘thúy’ Ơû Huế

31/05/200300:00:00(Xem: 7222)
Bạn,
Nghề làm nón của VN xuất hiện từ rất sớm, khoảng đời Trần (thế kỷ XII-XIV). Nhưng nhiều người chằm nón nhiều đời ở Huế lại khẳng định, người khai sinh ra chiếc nón lá Huế lại là ông Langlois, một người Pháp. Ông qua Việt Nam và đến Huế năm 1680, là người đã khuyến khích phát triển nghề chằm nón ở Huế. Hiện nay, Huế có 1 phụ nữ tật nguyền làm nón được nhiều du khách Tây phương biết đến qua thương hiệu nón Thúy. Báo Lao Động viết như sau.
Ở Huế, có nhiều vùng chằm nón nức tiếng từ xưa đến giờ như: Phú Hồ, Phước Vĩnh, Dạ Lê, Triều Sơn, Nam Phổ, Kim Long, Dương Nỗ, Tân Mỹ, Hương Sơ, Mỹ Lam, làng Chuồn. Năm cao điểm, mỗi vùng có từ 3 ngàn - 4 ngàn hộ gia đình tham gia chằm nón. Những năm 90, ở Huế có đến 5 hợp tác xã chuyên sấy lá để chằm nón. Nằm sâu trong hẻm 95 của đường Trần Phú, ở Phú Cam, ngôi nhà phóng viên tìm đến trông rất khiêm tốn với sự nổi tiếng của thương hiệu. Chị chỉ còn một tay, đúng hơn là một tay rưỡi. Chị cười giễu cợt: "Mình là nón Thúy đây, Trần Thị Thúy, 36 tuổi, chưa chồng, không con". Chị Thúy vừa soạn nón ra chằm, vừa kể: "Mình sinh ra trong một gia đình chằm nón từ những năm 30 của thế kỷ trước, thời của bà ngoại. Sau này bố mất, cả mình cùng ba anh trai và mẹ đều chằm nón để kiếm sống qua ngày". Mất nửa cánh tay phải từ khi mới lọt lòng mẹ, năm lên 10 tuổi, chị học, chằm được chiếc nón đầu tiên, và nghiệp chằm nón cũng theo chị luôn từ ấy cho đến bây giờ. "Rứa là đã 26 năm mình gắn với nghề này. Cực khổ lắm, nhưng chỉ có một tay rưỡi nên chẳng biết làm gì khác. Người ta đủ tay thì mỗi chiếc nón chỉ cần chằm 2 tiếng đồng hồ, như mình thì phải cần đến 4 tiếng, những chiếc nón loại tốt thì có khi phải 6 tiếng mới xong. Chậm là bởi, người ta có hai tay thì tay trên tay dưới. Tay trên đâm mũi kim xuống là tay dưới lập tức đâm mũi kim lên. Đằng này mình lên xuống chi cũng mỗi tay này. Mỗi ngày thường chằm 2 cái, được khoảng 20 ngàn đồng, nhưng trong đó, tiền mua chất liệu đã gần 10 ngàn đồng/2cái. Hồi nào trúng, gặp khách Tây, giá được hơn đôi ba nghìn đồng/cái.

Thương hiệu Thuý là do khách Tây đặt cho, chứ không có bảng hiệu gì. Năm 1995, thời điểm khách du lịch còn ồ ạt đổ về Huế. Vì chị có nhiều bạn bè làm hướng dẫn viên du lịch, nên hễ có du khách Tây nào hỏi về nón Huế là họ đều dẫn lên chỗ chị Thúy. Một phần vì nón chị làm đẹp, phần vì thấy chị tật nguyền, nên ai nhìn thấy cũng thích, cũng mến. Tiếng lành đồn xa, từ đó đến nay, không biết người ta "đồn" thế nào mà ai đến Huế cũng tìm chị Thúy. Người thì đến mua nón, người thì đến để xem chị chằm nón rồi tặng một ít tiền, gọi là công xem biểu diễn. Khách đông đến nỗi chị hoảng, vì "cùng chằm nón, nhưng nhà mình thì luôn như hội, còn nhìn qua nhà hàng xóm lại vắng như chùa bà Đanh".
Bạn,
Giải thích về thương hiệu Thúy, chị Thúy nhớ lại: "Ban đầu khi mua nón bài thơ, họ chỉ chú ý đến những hình vẽ bên trong về cầu Trường Tiền, chùa Linh Mụ, một đôi trai gái, hay là núi Ngự, sông Hương... Nhưng có một hôm, một ông Tây tự dưng nổi chứng yêu cầu mình vẽ xen vào giữa những hình ảnh ấy một chữ Thúy để làm kỷ niệm. Thấy cũng hay hay, từ đó về sau khi nào làm nón bài thơ, mình cũng thêm vào đấy một chữ Thúy. Dần thành quen, bây giờ khách Tây đến mua nón bài thơ của mình mà không có chữ Thúy là họ không chịu".

Mọi chuyện của nhà nước y hệt như bàn cờ đầy tăm tối. Chúng ta là con dân, ngó hoài mà không thấy lối ra, nghe hoài mà không quán triệt nổi chính sách, chờ hoài mà vẫn đói nghèo thê thảm, lỡ có tin nhau lâu dài rồi cũng sững sờ khi thấy đất rừng và biển đảo bị Bắc Phương chiếm từng mảng.
Bây giờ thứ gì cũng tăng giá, nhưng lương công nhân vẫn là bèo. Không biết rồi dân mình sẽ sống ra sao nữa.
Có vẻ như chính phủ đang lúng túng về chuyện tìm một quốc phục... Cũng lạ, có vẻ không gì là khó, thế sao nhà nước lại mất công ngồi bàn, họp, chỉ thị... đi tìm đặc tính văn hóa Việt.
Chuyện đánh giá năm 2012 bi thảm là từ các chuyên gia tài chánh trang mạng CafeF khi tổng kết tình hình kinh tế trọn năm 2012.
Người Việt ít hạnh phúc thứ nhì thế giới? Đó là kết quả từ một bản khảo sát của một viện nghiên cứu quốc tế.
Để xây dựng một đại học, cần biết bao nhiêu là công sức tiền bạc. Khi điều hành và giảng dạy lên tới vài trăm, vài ngàn, vài chục ngàn sinh viên... đó là những nỗ lực khổng lồ, không chỉ là nơi bỏ vốn, nếu là đaị học tư nhân, mà cả nhiều năm hy sinh của hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn phụ huynh.
Quê nhà lúc nào cũng nghịch lý. Trong khi nhà nước xiết chặt nền giáo dục công lập dưới quyền chỉ huy của các chi bộ đảng từng trường học, tới một thời gian đành phải chấp nhận cho tư nhân thiết lập một số cơ sở giáo dục bởi vì nhà nước không bao giàn nổi; phần vì cạn ngân sách, phần vì nghề giáo không giữ lại đủ người giỏi khi xã hội mở ra....
Đời người có những con số đáng sợ. Vì không phải con số nào cũng như nhau. Thí dụ, tuổi càng chất chồng, bệnh ngày càng nhiều, ngày tháng gây biết bao nhiêu nỗi lo.
Chuyện quê nhà nói sao cho xiết. Thiên đường xã hội chủ nghĩa ai cũng biết là xây dựng trên những giấc mơ đẫm máu, nhưng người dám nói lên sự thật là kể như đời sẽ hết bình yên.
Mọi chuyện có vẻ như càng lúc càng bí hiểm... Không ai hiểu chính xác những diễn biến nơi Sài Gòn này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.