Hôm nay,  

Nón Lá ‘thúy’ Ơû Huế

31/05/200300:00:00(Xem: 7207)
Bạn,
Nghề làm nón của VN xuất hiện từ rất sớm, khoảng đời Trần (thế kỷ XII-XIV). Nhưng nhiều người chằm nón nhiều đời ở Huế lại khẳng định, người khai sinh ra chiếc nón lá Huế lại là ông Langlois, một người Pháp. Ông qua Việt Nam và đến Huế năm 1680, là người đã khuyến khích phát triển nghề chằm nón ở Huế. Hiện nay, Huế có 1 phụ nữ tật nguyền làm nón được nhiều du khách Tây phương biết đến qua thương hiệu nón Thúy. Báo Lao Động viết như sau.
Ở Huế, có nhiều vùng chằm nón nức tiếng từ xưa đến giờ như: Phú Hồ, Phước Vĩnh, Dạ Lê, Triều Sơn, Nam Phổ, Kim Long, Dương Nỗ, Tân Mỹ, Hương Sơ, Mỹ Lam, làng Chuồn. Năm cao điểm, mỗi vùng có từ 3 ngàn - 4 ngàn hộ gia đình tham gia chằm nón. Những năm 90, ở Huế có đến 5 hợp tác xã chuyên sấy lá để chằm nón. Nằm sâu trong hẻm 95 của đường Trần Phú, ở Phú Cam, ngôi nhà phóng viên tìm đến trông rất khiêm tốn với sự nổi tiếng của thương hiệu. Chị chỉ còn một tay, đúng hơn là một tay rưỡi. Chị cười giễu cợt: "Mình là nón Thúy đây, Trần Thị Thúy, 36 tuổi, chưa chồng, không con". Chị Thúy vừa soạn nón ra chằm, vừa kể: "Mình sinh ra trong một gia đình chằm nón từ những năm 30 của thế kỷ trước, thời của bà ngoại. Sau này bố mất, cả mình cùng ba anh trai và mẹ đều chằm nón để kiếm sống qua ngày". Mất nửa cánh tay phải từ khi mới lọt lòng mẹ, năm lên 10 tuổi, chị học, chằm được chiếc nón đầu tiên, và nghiệp chằm nón cũng theo chị luôn từ ấy cho đến bây giờ. "Rứa là đã 26 năm mình gắn với nghề này. Cực khổ lắm, nhưng chỉ có một tay rưỡi nên chẳng biết làm gì khác. Người ta đủ tay thì mỗi chiếc nón chỉ cần chằm 2 tiếng đồng hồ, như mình thì phải cần đến 4 tiếng, những chiếc nón loại tốt thì có khi phải 6 tiếng mới xong. Chậm là bởi, người ta có hai tay thì tay trên tay dưới. Tay trên đâm mũi kim xuống là tay dưới lập tức đâm mũi kim lên. Đằng này mình lên xuống chi cũng mỗi tay này. Mỗi ngày thường chằm 2 cái, được khoảng 20 ngàn đồng, nhưng trong đó, tiền mua chất liệu đã gần 10 ngàn đồng/2cái. Hồi nào trúng, gặp khách Tây, giá được hơn đôi ba nghìn đồng/cái.

Thương hiệu Thuý là do khách Tây đặt cho, chứ không có bảng hiệu gì. Năm 1995, thời điểm khách du lịch còn ồ ạt đổ về Huế. Vì chị có nhiều bạn bè làm hướng dẫn viên du lịch, nên hễ có du khách Tây nào hỏi về nón Huế là họ đều dẫn lên chỗ chị Thúy. Một phần vì nón chị làm đẹp, phần vì thấy chị tật nguyền, nên ai nhìn thấy cũng thích, cũng mến. Tiếng lành đồn xa, từ đó đến nay, không biết người ta "đồn" thế nào mà ai đến Huế cũng tìm chị Thúy. Người thì đến mua nón, người thì đến để xem chị chằm nón rồi tặng một ít tiền, gọi là công xem biểu diễn. Khách đông đến nỗi chị hoảng, vì "cùng chằm nón, nhưng nhà mình thì luôn như hội, còn nhìn qua nhà hàng xóm lại vắng như chùa bà Đanh".
Bạn,
Giải thích về thương hiệu Thúy, chị Thúy nhớ lại: "Ban đầu khi mua nón bài thơ, họ chỉ chú ý đến những hình vẽ bên trong về cầu Trường Tiền, chùa Linh Mụ, một đôi trai gái, hay là núi Ngự, sông Hương... Nhưng có một hôm, một ông Tây tự dưng nổi chứng yêu cầu mình vẽ xen vào giữa những hình ảnh ấy một chữ Thúy để làm kỷ niệm. Thấy cũng hay hay, từ đó về sau khi nào làm nón bài thơ, mình cũng thêm vào đấy một chữ Thúy. Dần thành quen, bây giờ khách Tây đến mua nón bài thơ của mình mà không có chữ Thúy là họ không chịu".

Núi Cấm vẫn không ngưng các huyền thoại: từ nơi tu hành của các bậc kỳ nhân, cho tới nơi ẩn tích của các đaị võ sư danh trấn giang hồ, tới chuyện cọp ra nằm nghe tụng kinh.... và bây giờ là chuyện đại gia lên núi Cấm mua đất 'long mạch' để con cháu đời đời giàu sang phú quý.
Chuyện vừa mới xảy ra tại VN, làm biết bao nhiêu Phật Tử nản lòng: một nhà sư lên sân khấu hôn môi với ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng. Chưa hết, đây là buổi văn nghệ gây quỹ, nghĩa là sư đã phạm giới vui chơi văn nghệ. Chưa hết, sư lại lấy tiền ra mua một chai rượu -- Nghĩa là xài tiền chúng sinh cúng dường, và mua một món bị giới luật cấm.
Với lòng tin, chúng ta có thể nhìn ra đủ thứ hình Phật, Chúa, Tiên, Thánh... trên các chòm mây. Tất nhiên, nói thế chỉ đơn giản có ý rằng chính nhân loaị đã nhận ra đủ thứ hiện tượng tùy tâm hóa hiện. Có thể là có thật, cũng có thể là ảo tưởng. Nhưng ít nhất, niềm tin vào cảnh giới siêu hình sẽ gìn giữ chúng ta trong cương vực đaọ đức. Không dám làm ác nữa. Hoặc giả, sẽ giảm bớt làm ác.
Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng biệt, trong đó âm nhạc là một mảng gìn giữ di sản trao truyền nhiều đời. Dĩ nhiên, qua thời gian rồi sẽ có những mảng biến mất, nhưng không vì thế mà chúng ta phải hấp tấp chạy theo nhạc Tây,
Có cầu, tất có cung. Đó là quy luật thị trường. Tự nhiên như thế. Có những chuyện muôn đời đã thấy như thế. Cứ nhìn vào thị trường cũng thấy, các cửa khẩu biên giới đang là nơi tuôn vào gà lậu, gạo lậu, điện thoại lậu, vàng lậu, vân vân... nghĩa là đủ thứ thượng vàng hạ cám.
Người nông dân trước giờ được ca ngợi là chỗ dựa của đảng và nhà nước CSVN, nhưng bây giờ thì hết rồi. Bất kể rằng, nông dân thời nào cũng muốn bình yên, vì muốn lo chuyện cơm no, áo ấm là đủ.
Ngày xưa, đọc truyện Tàu, cứ nghe chuyện dân giang hồ ưa đặt trạm để thu tiền mãi lộ, tớ chẳng hiểu bao nhiêu. Bây giờ ngẫm chuyện nước mình thì mới ngộ ra lắm chuyện.
Một thời chúng ta nghe chuyện rằng xã hội chủ nghĩa là nơi ai cũng có cơ hội bình đẳng, nơi ai cũng “làm theo lao động, hưởng theo nhu cầu,” nhưng rồi những hình ảnh mơ tưởng này đã tan vỡ từ mấy thập niên nay, kể từ khi Miền Bắc khám phá ra một Miền Nam của thịnh vượng, của tự do, của dân chủ, và của tử tế nhiều lần hơn.
Có vẻ như Việt Nam đang lạm phát văn bằng. Kể cả văn bằng Tiến sĩ. Chuyện mới lạ, nước vẫn nghèo, mà văn bằng Tiến sĩ đầy phố, chẳng thấy phát minh gì, chỉ thấy “thật, giả” không còn phân biệt nổi.
Đất nước vẫn còn lúng túng, cứ như dường chưa biết phải đổi mới giáo dục ra sao để có thể chạy kịp với các nước láng giềng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.