Hôm nay,  

Nón Lá ‘thúy’ Ơû Huế

31/05/200300:00:00(Xem: 7359)
Bạn,
Nghề làm nón của VN xuất hiện từ rất sớm, khoảng đời Trần (thế kỷ XII-XIV). Nhưng nhiều người chằm nón nhiều đời ở Huế lại khẳng định, người khai sinh ra chiếc nón lá Huế lại là ông Langlois, một người Pháp. Ông qua Việt Nam và đến Huế năm 1680, là người đã khuyến khích phát triển nghề chằm nón ở Huế. Hiện nay, Huế có 1 phụ nữ tật nguyền làm nón được nhiều du khách Tây phương biết đến qua thương hiệu nón Thúy. Báo Lao Động viết như sau.
Ở Huế, có nhiều vùng chằm nón nức tiếng từ xưa đến giờ như: Phú Hồ, Phước Vĩnh, Dạ Lê, Triều Sơn, Nam Phổ, Kim Long, Dương Nỗ, Tân Mỹ, Hương Sơ, Mỹ Lam, làng Chuồn. Năm cao điểm, mỗi vùng có từ 3 ngàn - 4 ngàn hộ gia đình tham gia chằm nón. Những năm 90, ở Huế có đến 5 hợp tác xã chuyên sấy lá để chằm nón. Nằm sâu trong hẻm 95 của đường Trần Phú, ở Phú Cam, ngôi nhà phóng viên tìm đến trông rất khiêm tốn với sự nổi tiếng của thương hiệu. Chị chỉ còn một tay, đúng hơn là một tay rưỡi. Chị cười giễu cợt: "Mình là nón Thúy đây, Trần Thị Thúy, 36 tuổi, chưa chồng, không con". Chị Thúy vừa soạn nón ra chằm, vừa kể: "Mình sinh ra trong một gia đình chằm nón từ những năm 30 của thế kỷ trước, thời của bà ngoại. Sau này bố mất, cả mình cùng ba anh trai và mẹ đều chằm nón để kiếm sống qua ngày". Mất nửa cánh tay phải từ khi mới lọt lòng mẹ, năm lên 10 tuổi, chị học, chằm được chiếc nón đầu tiên, và nghiệp chằm nón cũng theo chị luôn từ ấy cho đến bây giờ. "Rứa là đã 26 năm mình gắn với nghề này. Cực khổ lắm, nhưng chỉ có một tay rưỡi nên chẳng biết làm gì khác. Người ta đủ tay thì mỗi chiếc nón chỉ cần chằm 2 tiếng đồng hồ, như mình thì phải cần đến 4 tiếng, những chiếc nón loại tốt thì có khi phải 6 tiếng mới xong. Chậm là bởi, người ta có hai tay thì tay trên tay dưới. Tay trên đâm mũi kim xuống là tay dưới lập tức đâm mũi kim lên. Đằng này mình lên xuống chi cũng mỗi tay này. Mỗi ngày thường chằm 2 cái, được khoảng 20 ngàn đồng, nhưng trong đó, tiền mua chất liệu đã gần 10 ngàn đồng/2cái. Hồi nào trúng, gặp khách Tây, giá được hơn đôi ba nghìn đồng/cái.

Thương hiệu Thuý là do khách Tây đặt cho, chứ không có bảng hiệu gì. Năm 1995, thời điểm khách du lịch còn ồ ạt đổ về Huế. Vì chị có nhiều bạn bè làm hướng dẫn viên du lịch, nên hễ có du khách Tây nào hỏi về nón Huế là họ đều dẫn lên chỗ chị Thúy. Một phần vì nón chị làm đẹp, phần vì thấy chị tật nguyền, nên ai nhìn thấy cũng thích, cũng mến. Tiếng lành đồn xa, từ đó đến nay, không biết người ta "đồn" thế nào mà ai đến Huế cũng tìm chị Thúy. Người thì đến mua nón, người thì đến để xem chị chằm nón rồi tặng một ít tiền, gọi là công xem biểu diễn. Khách đông đến nỗi chị hoảng, vì "cùng chằm nón, nhưng nhà mình thì luôn như hội, còn nhìn qua nhà hàng xóm lại vắng như chùa bà Đanh".
Bạn,
Giải thích về thương hiệu Thúy, chị Thúy nhớ lại: "Ban đầu khi mua nón bài thơ, họ chỉ chú ý đến những hình vẽ bên trong về cầu Trường Tiền, chùa Linh Mụ, một đôi trai gái, hay là núi Ngự, sông Hương... Nhưng có một hôm, một ông Tây tự dưng nổi chứng yêu cầu mình vẽ xen vào giữa những hình ảnh ấy một chữ Thúy để làm kỷ niệm. Thấy cũng hay hay, từ đó về sau khi nào làm nón bài thơ, mình cũng thêm vào đấy một chữ Thúy. Dần thành quen, bây giờ khách Tây đến mua nón bài thơ của mình mà không có chữ Thúy là họ không chịu".

Văn bằng đại học trên nguyên tắc sẽ mở ra nhiều cánh cửa thành công, vì nó không chỉ làm cho người giữ văn bằng niềm tự hào vì đứng biệt lập với đám đông đa số, nhưng cũng chứng tỏ một tri thức cần thiết cho một số việc chuyên môn.
Đó là một chữ lạ, “truyện ngôn tình.” Thực ra, thể văn chương này không lạ. Nhưng lạ chỉ là, khi thể truyện này tạo thành một niềm say mê cho tuổi trẻ Việt Nam một cách bất thường. Chúng ta có thể thắc mắc: tại sao tuổi trẻ quay đầu với xã hội, và để rồi vùi đầu vào trang sách truyện ngôn tình?
Có những chuyện không thể cứ để xảy ra hoài. Bởi vì, người xưa nói, như chim thoát chết sau khi bị tên bắn, từ đó về sau hễ gặp cành cong là nghĩ tới cung. Người tất nhiên cũng có những nỗi quan tâm tương tự.
Công ty nào cũng thế, luôn luôn đòi hỏi người lao động phải có khả năng hoàn tất công việc được giao phó. Nghĩa là, đúng nghề, đúng việc.
Cuộc đời luôn luôn đổi dời. Không có gì bất biến, trường cửu. Tuổi thanh xuân của chúng ta rồi già, rồi suy yếu. Những ngôi làng tại Việt Nam cũng thế, những nét truyền thống mờ nhạt dần. Tất nhiên là, đổi mới phaỉ có tốt và cả xấu, ai cũng biết.
Một thời chúng ta nhìn các thầy giáo, cô giáo như những vị thần linh... nhưng bây giờ thì không như thế nữa.
Một thời, chúng ta từng ngồi đọc sách ở các thư viện Sài Gòn. Nơi đó, thời đó, chữ nghĩa còn là cái gì rất mực thiêng liêng.
Hãy hình dung rằng, khi các em bé tiểu học đọc sử, nhìn hình Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nữ Tướng Bùi Thị Xuân... cỡi voi, chỉ huy quân binh ra chiến trường... và rồi sẽ hỏi, xem con thú gì khổng lồ lạ kỳ, đang sử dụng thay cho ngựa chiến...
Có những điều như dường bất khả vẫn xảy ra trong đời naỳ. Không, chúng ta không bàn chuyện phép lạ, hay bất kỳ những gì siêu nhiên nơi đây. Chỉ bàn về cõi người của mình thôi.
Chúng ta đang sống trong một thời lắm bệnh, và do vậy để chữa lắm bệnh tất phải có thuốc đa dụng, đa năng... Làm sao tìm ra phương thuốc đa dụng,đa năng?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.