Hôm nay,  

Nón Lá ‘thúy’ Ơû Huế

31/05/200300:00:00(Xem: 7186)
Bạn,
Nghề làm nón của VN xuất hiện từ rất sớm, khoảng đời Trần (thế kỷ XII-XIV). Nhưng nhiều người chằm nón nhiều đời ở Huế lại khẳng định, người khai sinh ra chiếc nón lá Huế lại là ông Langlois, một người Pháp. Ông qua Việt Nam và đến Huế năm 1680, là người đã khuyến khích phát triển nghề chằm nón ở Huế. Hiện nay, Huế có 1 phụ nữ tật nguyền làm nón được nhiều du khách Tây phương biết đến qua thương hiệu nón Thúy. Báo Lao Động viết như sau.
Ở Huế, có nhiều vùng chằm nón nức tiếng từ xưa đến giờ như: Phú Hồ, Phước Vĩnh, Dạ Lê, Triều Sơn, Nam Phổ, Kim Long, Dương Nỗ, Tân Mỹ, Hương Sơ, Mỹ Lam, làng Chuồn. Năm cao điểm, mỗi vùng có từ 3 ngàn - 4 ngàn hộ gia đình tham gia chằm nón. Những năm 90, ở Huế có đến 5 hợp tác xã chuyên sấy lá để chằm nón. Nằm sâu trong hẻm 95 của đường Trần Phú, ở Phú Cam, ngôi nhà phóng viên tìm đến trông rất khiêm tốn với sự nổi tiếng của thương hiệu. Chị chỉ còn một tay, đúng hơn là một tay rưỡi. Chị cười giễu cợt: "Mình là nón Thúy đây, Trần Thị Thúy, 36 tuổi, chưa chồng, không con". Chị Thúy vừa soạn nón ra chằm, vừa kể: "Mình sinh ra trong một gia đình chằm nón từ những năm 30 của thế kỷ trước, thời của bà ngoại. Sau này bố mất, cả mình cùng ba anh trai và mẹ đều chằm nón để kiếm sống qua ngày". Mất nửa cánh tay phải từ khi mới lọt lòng mẹ, năm lên 10 tuổi, chị học, chằm được chiếc nón đầu tiên, và nghiệp chằm nón cũng theo chị luôn từ ấy cho đến bây giờ. "Rứa là đã 26 năm mình gắn với nghề này. Cực khổ lắm, nhưng chỉ có một tay rưỡi nên chẳng biết làm gì khác. Người ta đủ tay thì mỗi chiếc nón chỉ cần chằm 2 tiếng đồng hồ, như mình thì phải cần đến 4 tiếng, những chiếc nón loại tốt thì có khi phải 6 tiếng mới xong. Chậm là bởi, người ta có hai tay thì tay trên tay dưới. Tay trên đâm mũi kim xuống là tay dưới lập tức đâm mũi kim lên. Đằng này mình lên xuống chi cũng mỗi tay này. Mỗi ngày thường chằm 2 cái, được khoảng 20 ngàn đồng, nhưng trong đó, tiền mua chất liệu đã gần 10 ngàn đồng/2cái. Hồi nào trúng, gặp khách Tây, giá được hơn đôi ba nghìn đồng/cái.

Thương hiệu Thuý là do khách Tây đặt cho, chứ không có bảng hiệu gì. Năm 1995, thời điểm khách du lịch còn ồ ạt đổ về Huế. Vì chị có nhiều bạn bè làm hướng dẫn viên du lịch, nên hễ có du khách Tây nào hỏi về nón Huế là họ đều dẫn lên chỗ chị Thúy. Một phần vì nón chị làm đẹp, phần vì thấy chị tật nguyền, nên ai nhìn thấy cũng thích, cũng mến. Tiếng lành đồn xa, từ đó đến nay, không biết người ta "đồn" thế nào mà ai đến Huế cũng tìm chị Thúy. Người thì đến mua nón, người thì đến để xem chị chằm nón rồi tặng một ít tiền, gọi là công xem biểu diễn. Khách đông đến nỗi chị hoảng, vì "cùng chằm nón, nhưng nhà mình thì luôn như hội, còn nhìn qua nhà hàng xóm lại vắng như chùa bà Đanh".
Bạn,
Giải thích về thương hiệu Thúy, chị Thúy nhớ lại: "Ban đầu khi mua nón bài thơ, họ chỉ chú ý đến những hình vẽ bên trong về cầu Trường Tiền, chùa Linh Mụ, một đôi trai gái, hay là núi Ngự, sông Hương... Nhưng có một hôm, một ông Tây tự dưng nổi chứng yêu cầu mình vẽ xen vào giữa những hình ảnh ấy một chữ Thúy để làm kỷ niệm. Thấy cũng hay hay, từ đó về sau khi nào làm nón bài thơ, mình cũng thêm vào đấy một chữ Thúy. Dần thành quen, bây giờ khách Tây đến mua nón bài thơ của mình mà không có chữ Thúy là họ không chịu".

Có những di sản văn hóa mang theo những mảng hồn dân tộc, mà chúng ta khi nhớ tới vẫn luôn luôn cảm động, vì đó là một phần lịch sử mở nước, dựng nước của ông bà mình.
Trong thời toàn cầu hóa, không chỉ kinh tế bị tác động lớn, cả lợi và hại, mà văn hóa cũng thế. Do vậy, bản sắc dân tộc cũng sẽ chuyển biến qua từng thế hệ, có nơi nhạt hơn một chút, và có nơi đậm hơn một chút -- và đôi khi, như ở các thành phố lớn, như tại Sài Gòn, văn hóa trở thành một tổng hợp chuyển biến, tác động lẫn nhau.
Gốm Việt Nam trước giờ nổi tiếng nhất là gốm Bát Tràng. Có lẽ một yếu tố làm cho gốm Bát Tràng được biết nhiều là nhờ vị trí điạ lý thuận lợi, nằm ngay ở Gia Lâm, Hà Nội – nghĩa là bên bờ thủ đô, và do vậy được các phóng viên báo chí viết nhiều. Nhưng như thế không có nghĩa là gốm Việt Nam mình chỉ duy có gốm Bát Tràng.
Làm thế nào có thể giữ gìn những điệu hát dân ca của Việt Nam? Có lẽ, đó làmột trong những khó khăn nhất đối với những người yêu mến nghệ thuật dân tộc.
Câu chuyện bằng giả là bình thường, vì chỉ cần một máy in đặt bên cạnh máy điện toán, nối dây xong, dùng Photoshop phù phép là xong.
Tình yêu đôi khi cần lời khuyên, bất kể rằng trái tim vẫn có những lý lẽ riêng của nó.
Đó là một chữ mới thấy trong hơn một thập niên nay, có thể là gần 2 thập niên: chém gió. Chữ này không rõ dịch chính xác ra ngôn ngữ bạn đang sử dụng thế nào... thôi thì mượn những chữ khá xưa mà bạn đã biết để đối chiếu: “chém gió” có nghĩa là “nổ,” là “xạo,” là “bẹt cà na”...
Nên “có tiếng“ hơn là nên “có miếng”? Những lựa chọn như thế có thể ảnh hưởng nhiều tới, không riêng cho bản thân người lựa chọn, nhưng sẽ tác động ra cả xã hội, nếu đây là một chính sách.
Chúng ta có bao giờ hài lòng với công việc của mình? Hoặc là chỉ hài lòng vào những ngaỳ cuối tuần khi được nghỉ ngơi, và bất mãn vào những ngày lao động nặng nhọc trong tuần?
Thế lào nà lói ngọng? Trời ạ, lại nói ngọng rồi. Không phải giỡn, nhưng nói ngọng là điều không nên, tuy là lỗi rất bình thường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.