Hôm nay,  

Làng Đan Thúng 100 Năm

17/12/200600:00:00(Xem: 4470)

Bạn,

Tại khu vực ngoại thành Đà Nẵng, có làng Phước Hưng nằm cheo veo trên một vùng bán sơn địa của xã Hòa Nhơnlà nơi cung cấp thúng chai nhiều nhất cho ngư dân Đà Nẵng. Cả thôn chỉ có 7 gia đình mưu sinh bằng nghề đan thúng, nhưng nghề này  đã tồn tại cả trăm năm. Báo Thanh Niên ghi nhận toàn cảnh về  làng nghề này qua đoạn ký sự như sau.

Tại làng Phước Hưng,ông Trần Phi là người đan chiếc thúng đầu tiên, nay đã thành người thiên cổ. Hiện nay, trong 7 gia đình làm nghề đan thúng ở Phước Hưng có 3 người con trai của ông Trần Phi là Trần Phiệt, Trần Ngưu và Trần Quyệt nối nghiệp cha. Trong đó, thúng do ông Trần Quyệt đan luôn được ngư dân tín nhiệm nhất về độ sắc sảo và bền chắc. Vì được ngư dân tin tưởng, mùa mưa cũng như mùa nắng, ngày cũng như đêm, công việc đan thúng của ông Quyệt không bao giờ ngơi nghỉ. Đôi lúc, ông nhận đặt hàng của ngư dân rồi nhượng lại cho anh em đan nhưng riêng việc vót vành lận thúng - khâu quan trọng nhất để tạo nên sự sắc sảo, bền chắc của thúng, đều do ông đảm nhiệm.

Thúng chai được đan bằng tre nhưng phải từ 2 loại: tre mỡ dùng để chẻ nan và tre đực (tre có gai) dùng để vót vành lận thúng. Người đan thúng thường giỏi luôn cả nghề chặt tre, họ phải lên tận Hòa Phong, Hòa Phú, Tùng Sơn, An Ngãi tìm mua tre. Tùy theo tre lớn hay nhỏ, để đan được một chiếc thúng, thợ đan cần từ 10-15 cây tre, đặc biệt, tre phải từ một năm tuổi trở lên mới bảo đảm được độ bền, dẻo dai của thúng. Đường kính của thúng từ 7- 8.5 mét và người bán thường tính theo đơn vị mét để  bán. Theo giá hiện nay, thúng chai trơn khoảng 750- 800 nghìn đồng/thúng, nếu trét dầu thì lên đến 1.4 - 1.5 triệu đồng/thúng.

Ông Trần Quyệt cho biết: "Nghề đan thúng chai là một nghề khó, công kỹ, ngoài việc cần có đôi bàn tay khéo léo, khỏe mạnh, người đan thúng phải có kinh nghiệm và kỹ thuật điêu luyện để làm công đoạn vót vành lận thúng". Trước nhà thợ đan thúng chai nào cũng có những cọc tre ngắn đóng xuống đất làm khuôn đan thúng. Thúng cho ngư dân vùng Nam Ô có hình hột xoài và thúng cho ngư dân Thanh Khê đi câu mực thì tròn vành vạnh. Hình dáng của thúng là do yêu cầu đặc điểm đánh bắt của ngư dân. Ngư dân Nam Ô chỉ đánh bắt thủy sản ven bờ, sáng sớm đi chiều tối đã về, mũi thúng hơi nhọn,  tựa như mũi ghe, tàu để dễ lướt đi trên biển. Trong khi đó, thúng cho ngư dân Thanh Khê đi câu mực phải tròn để lênh đênh hàng tháng trời trên biển.

Bạn,

Cũng theo báo Thanh Niên, ở Đà Nẵng, số người sinh sống bằng nghề biển rất đông, có cả gần 2 nghìn chiếc tàu đánh bắt thủy hải sản nên những người đan thúng chai luôn có việc để làm. Các gia đình đan thúng ở làng này đều ở tuổi trung niên trở lên, nỗi lo của họ là không có người kế nghiệp. Hầu hết con cái của những hộ này đều không theo nghề của cha mẹ.

Đã tới lúc phải cảnh giác đủ thứ về thức ăn. Người xưa có nói, trăm bệnh là từ miệng vào. Câu này không chỉ nói đơn giản về tâm bệnh, như tật nói xấu, tật chửi mắng, tật gièm pha, tật ton hót... mà thân bệnh là nói về sức khỏe.
Sau khi nhận ra rằng đang có hàng loạt Giáo Sư Tiến Sĩ tại Việt Nam khi giao tiếp với người ngoaị quốc chỉ bằng ngôn ngữ tay quơ chân múa, nhà nước bấy giờ mới ra quyết định buộc phải giao tiếp bằng ngoại ngữ.
Mới hôm trước, nghe một quan chức ra lệnh đánh thuế đàn bà đẻ... May mắn bây giờ, các quan đổi ý, cho miễn thuế đẻ... Đó là thuế thu nhập cá nhân (TNCN)...
Không ai ngờ rằng Việt Nam rồi cũng trở thành một trung tâm động đất.
Đó là chuyện xảy ra tại những nơi được xem là trí tuệ của tương lai đất nước, mà thông tấn VietnamNet gọi bằng ngôn ngữ văn chương khi nêu lên tựa đề “Báo động đại học Việt thiếu 'linh hồn'...”
Cuộc đời có những chuyện cực kỳ bí hiểm. Không cách nào hiểu được. Như trường hợp mới đây ở. Tây Ninh “Cụ bà tắt thở, chết đi sống lại rồi "biến thành người khác"...”
Một thời chúng ta có cơ duyên học về Đào Tấn, và những dòng thơ trong tuồng ông viết vẫn làm rung động nhiều thế hệ về sau. Đó là những dòng thơ ngậm ngùi của thời Pháp thuộc, hồi cuối thế kỷ 19, khi thấy vua quan lơ laó, đất nước bị chà đạp dưới gót giày Tây.
Nghề nông hầu như khi nào cũng nghèo. Đó là lý do chúng ta thấy những đợt dân nhập cư nhiều thập niên qua bỏ quê lên tỉnh. Không chỉ vì việc làm ở tỉnh thành lương cao hơn, đỡ cực nhọc hơn, mà cơ hội lúc nào cũng sẵn sàng cho con em mình. Bởi thế, tuổi trẻ miền quê ước mơ lớn vẫn là lên tỉnh thành để học...
Tiền chùa là tiền của chùa.... Trước giờ dân chúng Việt Nam hễ nói chuyện tiền chùa, không thực sự nói là tiền nhà chùa, mà hầu hết trường hợp là ám chỉ tiền chính phủ được cán bộ xài vô tội vạ.
Thật là vô lượng phước đức khi có ai dùng lời ca tiếng nhạc để xưng tán Đức Phật.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.