Hôm nay,  

Trẻ Lang Thang Đà Nẵng

09/06/200300:00:00(Xem: 6727)
Bạn,
Thành phố Đà Nẵng hiện có hơn 200 trẻ em lang thang, kiếm sống bằng những công việc: đào xới tìm chai lọ tại bãi rác, đánh giày, bán hàng rong…... Trong một phóng sự về thân phận đời trẻ thơ, phóng viên báo quốc nội đã ghi lại một số câu chuyện qua đoạn ký sự như sau.
Mới tờ mờ sáng, mặt trời còn chưa ra khỏi núi, vậy mà bãi rác Khánh Sơn như sôi động hẳn lên, từng đoàn xe lũ lượt đổ về. Rác, mênh mông rác, cao ngất, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc .Từng tốp, từng tốp người ùa về phía bãi rác; già trẻ lớn bé đủ mọi tuổi tác . Miệng bịt khẩu trang, chân mang ủng, trên tay là những cuốc, những chĩa. Họ đào đào, xới xới, thỉnh thoảng khum xuống nhặt những chai lọ, những túi ni lông, những...bất cứ thứ gì có thể bán lại được cho những đề-pô-rác. Lướt nhìn trong đám đông ấy, có khoảng gần 50 em nhỏ ở cái tuổi dưới 15, chúng nhìn tôi (phóng viên) như phớt lờ rồi cắm cúi công việc.
Cậu bé đầu tiên tôi bắt chuyện có tên là T.. Gương mặt đen sạm, nắng gió đã làm em già đi so với cái tuổi 13 của mình. T. là dân địa phương, nhà quá nghèo, chưa hết lớp 4 em đã phải nghỉ học. Bãi rác này là nơi để mỗi ngày em giúp mẹ kiếm thêm tiền mắm muối. "Ba mẹ em làm nghề chi, sao phải nghỉ học sớm rứa" " Tôi hỏi. Cậu bé chỉ tay về phía bãi rác có đám người đang đào xới kia, giọng buồn : " Mẹ em đội nón lá, mặc áo xanh kia kìa, nhà em khổ lắm, tiền đâu mà học hở anh". Im lặng một lúc lâu, cậu bé quay lại nhìn tôi rồi hỏi: "Anh làm chi mà tới đây, ở đây "thối" lắm chịu không nổi đâu ". Loay hoay chưa kịp trả lời, cậu bé vội chào tôi rồi vụt chạy về nơi bãi rác. Mỗi trẻ một cảnh đời, na ná nhau vì nghèo khó, ở bãi rác Khánh Sơn này hầu hết đều thế cả.

Trưa. Cái nắng tháng 5 như đổ lửa, tôi chọn cho mình chiếc ghế đá dưới tán cây phượng già trên đường Bạch Đằng ven bờ sông Hàn để nghỉ chân. Đang lúc tôi lom khom phủi bụi trên quần áo,chợt có tiếng nói là lạ bên cạnh. Ngước nhìn lên, hai cậu bé mặt còn non choẹt đang toe toét mời tôi đánh giày. Từ Khánh Sơn về, giày cũng bẩn thiệt, tưởng đâu chúng "cùng hội cùng thuyền" tôi liền đưa đôi giày cho cậu bé có giọng Thanh Hoá. Ngay lập tức, thằng bé kia tóm lấy tóc của đứa vừa nhận được đôi giày của tôi, trông bộ chúng sắp "choảng" nhau. Hoảng quá, tôi đứng dậy can ngăn, rồi rút trong túi hai tờ giấy bạc loại 2 ngàn đồng chia đều cho mỗi đứa. Đôi giày vẫn chưa kịp đánh.Thì ra trong hai cậu bé ấy, một là người Thanh Hoá, còn một thì ở Quảng Ngãi. Cơm áo lấm lem, bụi đường đã làm vẩn đục những tâm hồn trẻ thơ.
Bạn,
Phóng viên báo quốc nội kể tiếp: chiều, cái oi bức của những ngày đầu Hạ vẫn chưa chịu buông tha. Tôi cùng anh bạn đồng nghiệp rảo xe về hướng Bạch Đằng Đông. "Con phố nhậu" đã tấp nập người và xe, ghé vào nơi chiếc bàn có sẵn 2 ghế nhựa còn để trống, làm vài cốc bia lạnh cho hả cơn khát. Mải mê trong chuyện "đời và nghiệp", bỗng một cô bé xuất hiện. Trên tay em là thúng đậu phụng luộc đã gần vơi, em nằng nặc mời tôi mua. Chẳng biết có phải vì muốn bán được cái lon đậu cuối cùng này không mà em luôn miệng điệp khúc: "Chú ơi còn có chừng ni, chú mua dùm để con còn kịp về theo học lớp tình thương". Dù rất "dị ứng" với cái món em mời, nhưng khi nghe tới cái chữ ở lớp tình thương thì tôi không cầm lòng được. Thúng đậu hết, cô bé ra về, tôi nhìn theo, bóng bé xa dần.

Văn bằng đại học trên nguyên tắc sẽ mở ra nhiều cánh cửa thành công, vì nó không chỉ làm cho người giữ văn bằng niềm tự hào vì đứng biệt lập với đám đông đa số, nhưng cũng chứng tỏ một tri thức cần thiết cho một số việc chuyên môn.
Đó là một chữ lạ, “truyện ngôn tình.” Thực ra, thể văn chương này không lạ. Nhưng lạ chỉ là, khi thể truyện này tạo thành một niềm say mê cho tuổi trẻ Việt Nam một cách bất thường. Chúng ta có thể thắc mắc: tại sao tuổi trẻ quay đầu với xã hội, và để rồi vùi đầu vào trang sách truyện ngôn tình?
Có những chuyện không thể cứ để xảy ra hoài. Bởi vì, người xưa nói, như chim thoát chết sau khi bị tên bắn, từ đó về sau hễ gặp cành cong là nghĩ tới cung. Người tất nhiên cũng có những nỗi quan tâm tương tự.
Công ty nào cũng thế, luôn luôn đòi hỏi người lao động phải có khả năng hoàn tất công việc được giao phó. Nghĩa là, đúng nghề, đúng việc.
Cuộc đời luôn luôn đổi dời. Không có gì bất biến, trường cửu. Tuổi thanh xuân của chúng ta rồi già, rồi suy yếu. Những ngôi làng tại Việt Nam cũng thế, những nét truyền thống mờ nhạt dần. Tất nhiên là, đổi mới phaỉ có tốt và cả xấu, ai cũng biết.
Một thời chúng ta nhìn các thầy giáo, cô giáo như những vị thần linh... nhưng bây giờ thì không như thế nữa.
Một thời, chúng ta từng ngồi đọc sách ở các thư viện Sài Gòn. Nơi đó, thời đó, chữ nghĩa còn là cái gì rất mực thiêng liêng.
Hãy hình dung rằng, khi các em bé tiểu học đọc sử, nhìn hình Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nữ Tướng Bùi Thị Xuân... cỡi voi, chỉ huy quân binh ra chiến trường... và rồi sẽ hỏi, xem con thú gì khổng lồ lạ kỳ, đang sử dụng thay cho ngựa chiến...
Có những điều như dường bất khả vẫn xảy ra trong đời naỳ. Không, chúng ta không bàn chuyện phép lạ, hay bất kỳ những gì siêu nhiên nơi đây. Chỉ bàn về cõi người của mình thôi.
Chúng ta đang sống trong một thời lắm bệnh, và do vậy để chữa lắm bệnh tất phải có thuốc đa dụng, đa năng... Làm sao tìm ra phương thuốc đa dụng,đa năng?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.