Hôm nay,  

Làng Dệt Vải Bên Sông

01/10/200600:00:00(Xem: 3309)

Bạn,

Theo báo quốc nội, tại miền núi tỉnh Quảng Ngãi có một làng nghề  dệt vải thổ cẩm, một loại vải đặc biệt của nhiều sắc dân thiểu số tại VN.  Đó là ngôi làng Teng thuộc xã Ba Thành, huyện Ba Tơ. Đây là ngôi làng duy nhất của người Hrê hiện nay còn giữ được nghề dệt thổ cẩm. Gần như toàn bộ phụ nữ các sắc dân thiểu số vùng cao của Quảng Ngãi đều lấy vải của làng này để may những bộ váy áo đẹp nhất dùng trong các lễ hội của sắc tộc mình. Báo Bình Định ghi nhận những chuyện lạ về làng này qua đoạn ký sự như sau.

Sông Liêng hung dữ lao từ trời xanh của vùng rừng thượng nguồn Ba Tơ, đến đoạn xã Ba Thành, đột ngột dừng lại, lượn một vòng như thể làm dáng. Kết quả của việc "làm dáng" của con sông đã để lại một doi đất có tên làng Teng. Làng Teng đặc biệt không chỉ là ngôi làng duy nhất của người sắc tộc thiểu số ở Quảng Ngãi biết dệt thổ cẩm mà phụ nữ làng Teng có khuôn mặt không giống với phụ nữ Hrê hiện nay. Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, nhà nghiên cứu văn hóa các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi gọi làng Teng bằng một tên khác: Làng Chăm Hrê. Ai cũng đẹp một cách hoang dại với sống mũi rất cao, da trắng hoặc ngăm ngăm, mắt thẳm một màu huyền bí, khác với phụ nữ Hrê thường có chiếc mũi tẹt, da rất đen. Tiến sĩ Vũ đưa ra giả thiết cho rằng, nhiều thế kỷ trước đây, trong cuộc tao loạn giữa các đế chế của hai quốc gia Việt-Chăm, một bộ phận người Chăm dưới vùng xuôi chạy dạt lên vùng núi này để lánh nạn. Sau nhiều đời, những cuộc hòa huyết giữa Chăm và Hrê đã tạo nên một bộ phận người Hrê hơi khác lạ này. Đó là giả thiết, song điều có thể tin được rằng người làng Teng đã kế thừa truyền thống dệt vải của dân Chăm một cách hoàn hảo.

Chọn mảnh đất ven sông để định cư rồi lập làng, gắn với nghề dệt thổ cẩm, biến nó thành một thứ hàng hóa để bán cho trên 200 làng sắc tộc thiểu số khác, thì chỉ có dân mang dòng máu Chăm mới làm được mà thôi.Bà Thảo, 70 tuổi, một trong những cựu trào của nghề dệt thổ cẩm ở làng Teng nói: "Bà nội tôi là người truyền nghề cho tôi từ năm tôi 12-13 tuổi. Trước đây, phụ nữ làng Teng ai cũng biết nghề này, xem đó như một bảo chứng cho phụ nữ làng này. Vả lại, dệt thổ cẩm còn là một nghề để kiếm sống và tồn tại nữa". Theo các già làng ở đây thì, dệt thổ cẩm bị tàn lụi kể từ sau 1975. Hiện tại, phụ nữ người sắc tộc thiểu số thay đổi rất nhiều về trang phục. Họ ăn mặc gần như người Kinh nên các loại thổ cẩm chỉ còn tồn tại trong các lễ hội mà thôi.Tuy nhiên, trên 30 phụ nữ, được gọi là nghệ nhân của làng thì vẫn còn duy trì nghề này.

Bạn,

Cũng theo báo Bình Định, trước đây, một tấm vải thổ cẩm (khoảng 1 mét), đổi được một chiếc "nồi bảy" (loại nồi đúc bằng đồng rất có giá trị), thì nay chỉ bán được 200 ngàn đồng, trong khi tiền chỉ để dệt đã chiếm 40 ngàn đồng. Dệt trên 10 ngày mới xong một tấm, tính ra ngày công kiếm được 10 ngàn đồng. Tuy quá ít, nhưng người làng Teng vẫn không bỏ nghề, họ xem đó như một cách để "giữ làng" vậy.

Theo các trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phố Sài Gòn, nhu cầu tuyển người giúp việc nhà tại các gia đình ở các quận nội thành rất lớn nhưng không tìm đủ người. Trước thực tế khó tìm được người giúp việc nhà ở luôn trong nhà, nhiều gia đình chuyển hướng tìm người giúp việc đến làm theo giờ. Theo họ, tuyển lao động làm việc theo giờ có nhiều cái lợi như đỡ phải lo ăn, ở và chi phí thấp hơn nhiều.
Theo báo Người Lao Động, hơn 1 năm trở lại đây, tranh được bày bán ở phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam, đột ngột rớt giá, nguyên nhân là bởi hiện tượng tranh nhái tràn lan. Theo 1 họa sĩ có thâm niên trên 35 năm trong nghề, 5 năm trước đây các phòng tranh ở Hội An không có tranh nhái. Du khách rất an tâm khi mua tranh và tranh bán cũng rất chạy.
Theo báo SGGP, tại Sài Gòn, mỗi năm có thêm hàng ngàn phòng học mới nhưng các cơ quan ngành giáo dục tại các quận, huyện năm nào cũng than thiếu phòng học, người dân phiền vì sĩ số học sinh của các lớp học đã "quá tải". Trình bày về hiện trạng trường lớp tại các quận, huyện của SG, báo SGGP ghi nhận rằng chỉ trừ một vài huyện ngoại thành không bị áp lực tăng dân số
Tại miền Đông Nam phần, có xã Phú Lộc là một trong nhiều xã ở huyện Tân Phú (tỉnh Đồng Nai) là "miền đất hứa" của bò cạp. Ở vùng đất đá này, bò cạp sinh sôi nhiều đến mức người dân địa phương có thể tìm thấy chúng bất kỳ chỗ nào, nhất là dưới các tảng đá lớn.Trước đây, cứ sau mỗi trận mưa to là bò cạp "tung tăng" khắp nơi, người dân phải tránh.
Theo ghi nhận của báo SGGP, tại miền Tây Nam phần VN, xăng dầu, đường cát, hàng điện máy, điện thoại di động, thuốc lá, vải... ở khu vực biên giới Việt Nam và Cam Bốt đang chênh lệch giá rất cao. Hàng lậu vì thế đang tràn về như nước lũ, xâm nhập ào ạt vào thị trường nội địa. Báo SGGP ghi nhận hiện trạng này như sau.
Theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, tại các trường đại học của VN, dường như nghiên cứu khoa học chỉ là công việc "tay trái" của các giảng viên , khi trung bình cứ hai, ba giảng viên mới có một người "liên quan" đến các công trình nghiên cứu. Đa số các giảng viên làm công việc mà một số nhà giáo dục gọi là "thợ dạy". Báo TT ghi nhận thực trạng này như sau.
Trên địa bàn thành phố Sài Gòn, 65 năm nay tồn tại một làng mà hầu hết trai tráng sống bằng nghề lặn tìm sắt thép phế liệu. Làng lặn hiện đã trở thành khu phố, nhưng trông vẫn chẳng khác gì những ngôi làng miệt sông nước miền Tây với những chiếc ghe neo san sát dưới sông, còn trên bờ là những ngôi nhà tuềnh toàng.
Theo báo Tuổi Trẻ, trong những ngày vưà qua, tại miền Tây Nam phần, đại dịch bướm đã khiến người dân tỉnh Hậu Giang thức trắng "đánh đàn" vì ngứa. Tại thị xã Vị Thanh, dịch bướm đã hoành hành từ một tháng này, nhiều người dân trong thị xã khổ vì bị bướm bám theo gây ngứa. Báo TT ghi nhận tình trạng dịch bướm tại địa phương này như sau.
Tại phường 4 quận 8 thành phố Sài Gòn, có 1 lớp học rất đặc biệt do 1 nữ giáo viên già phụ trách. Lớp học này là chiếc phao cứu sinh cho những đứa trẻ không có điều kiện đến trường, cho dù là trường bổ túc. Với 1 ngàn/buổi học, có học sinh đã học hết lớp 4, rồi vào lớp 5 bổ túc, sau đó học tiếp lên trung học. BáoNgười Lao Động viết về lớp học này như sau.
Theo báo quốc nội, trong năm 2003, công suất bia của cả VN đạt 1.29 tỷ lít, đến năm 2004 đã vượt lên 1.37 tỷ lít. Dự kiến năm 2005 sản lượng bia của toàn VN vượt xa mức 1.5 tỷ lít. Về tình hình kinh doanh, trong những năm qua đã có hàng chục nhà máy bia địa phương được đầu tư để rồi thua lỗ, vì không chen chân tìm được chỗ đứng trên thị trường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.