Hôm nay,  

Từ Mã Lai Về

30/03/200400:00:00(Xem: 6777)
Bạn thân,
“Gặp một nạn nhân bị lừa đảo đưa đi Malaysia: Bị bắt, bị giam cầm và... không một xu dính túi.” Đó là nhan đề một bài trên báo Lao Động, kể về hoàn cảnh một thanh niên VN đi “lao động xuất khẩu ở Mã Lai, và rồi bây giờ vêà lại. Chuyện do ký giả Xuân Quang của báo này ghi như sau.
Sau khi bài báo "Nhức nhối nạn du lịch tìm việc" (trong loạt bài về hành trình khốn khó của lao động VN tại Malaysia) được đăng tải, một nạn nhân trong số đó - em Phạm Văn Hữu, 21 tuổi, quê ở thôn Long Lanh, xã Bảo Đài, huyện Lục Nam (Bắc Giang) - sau khi được giới thiệu, đã tìm đến tôi phản ánh về cuộc sống tủi nhục của em ở Malaysia trước khi lên máy bay về nước ngày 26.3 trên chuyến bay VN 756. Khi đó trên người em chỉ độc một chiếc quần soóc, một áo phông, một giấy thông hành và vé máy bay (do Đại sứ quán VN tại Malaysia cấp), tiều tuỵ, hoảng hốt, không một xu dính túi...
Phạm Văn Hữu kể: Em sang Malaysia ngày 6.11.2002 sau khi gia đình đã nộp cho một người đàn ông cùng làng tên là Phạm Văn Chiến 25 triệu đồng với lời hứa sẽ được làm việc với mức lương rất cao tại Malaysia. Sang đến sân bay Malaysia (cùng 18 người khác), em phải đóng thêm 600USD gọi là phí môi giới phía Malaysia cho một người VN tên là Phạm Thị Mí.
Sau vài ngày, em được đưa đến làm việc tại Nhà máy Vitege Tiles ở Serapan nhưng không có hợp đồng lao động. Hộ chiếu của em do Chiến và Mí giữ. Em làm việc ở đây được 9 tháng, đến ngày 13.2.2004 thì bị cảnh sát bắt vì làm việc bất hợp pháp, không hộ chiếu, không giấy phép lao động.

Em được đưa đến giam giữ tại trại tị nạn Linging Kem Sebilan (bấy giờ đã có 33 lao động bất hợp pháp VN và nhiều lao động các nước Indonesia, Nepal... đang ở đây). Cuộc sống ở trại vô cùng cơ cực, không đủ cơm ăn, áo mặc, bị đánh đập, bị chà đạp nhân phẩm. Đến ngày 15.3 (sau hơn 1 tháng bị giam cầm), em được Đại sứ quán VN can thiệp, bảo lãnh cho ra trại, đồng thời cấp giấy thông hành (ngày 24.3) và mua vé máy bay cho em về nước. Theo Hữu, khi em được ra trại, vẫn còn 33 lao động VN ở lại.
Tôi đã đưa em ra sân bay để kịp chuyến bay VN 756 khởi hành lúc 14h10 ngày 26.3 về VN. Em bảo khi về đến Nội Bài, em sẽ phải gọi điện cho người nhà đến đón (hiện gia đình vẫn chưa biết gì về tình hình của em) nhưng em sực nhớ là không còn tiền dù chỉ để gọi một cuộc điện thoại. Tôi đã đưa cho em một số tiền đủ để em mua một tấm áo ấm (thời tiết Hà Nội đang lạnh) và đi xe từ sân bay về Bắc Giang, nhưng em nhất quyết chỉ nhận 100.000 đồng.
Bạn,
Phóng viên kết thúc bài báo một cách bùi ngùi bằng lời cảm ơn của thanh niên trong cuộc bằng hình ảnh vui mừng của ba mẹ em như sau.
Em bảo: "Em chỉ cần tiền để điện thoại cho gia đình. Khi nào về nước, có điều kiện anh đến nhà em chơi, địa chỉ: Thôn Long Lanh, xã Bảo Đài, huyện Lục Nam. Em về, hẳn bố mẹ em sẽ mừng lắm..."

Văn bằng đại học trên nguyên tắc sẽ mở ra nhiều cánh cửa thành công, vì nó không chỉ làm cho người giữ văn bằng niềm tự hào vì đứng biệt lập với đám đông đa số, nhưng cũng chứng tỏ một tri thức cần thiết cho một số việc chuyên môn.
Đó là một chữ lạ, “truyện ngôn tình.” Thực ra, thể văn chương này không lạ. Nhưng lạ chỉ là, khi thể truyện này tạo thành một niềm say mê cho tuổi trẻ Việt Nam một cách bất thường. Chúng ta có thể thắc mắc: tại sao tuổi trẻ quay đầu với xã hội, và để rồi vùi đầu vào trang sách truyện ngôn tình?
Có những chuyện không thể cứ để xảy ra hoài. Bởi vì, người xưa nói, như chim thoát chết sau khi bị tên bắn, từ đó về sau hễ gặp cành cong là nghĩ tới cung. Người tất nhiên cũng có những nỗi quan tâm tương tự.
Công ty nào cũng thế, luôn luôn đòi hỏi người lao động phải có khả năng hoàn tất công việc được giao phó. Nghĩa là, đúng nghề, đúng việc.
Cuộc đời luôn luôn đổi dời. Không có gì bất biến, trường cửu. Tuổi thanh xuân của chúng ta rồi già, rồi suy yếu. Những ngôi làng tại Việt Nam cũng thế, những nét truyền thống mờ nhạt dần. Tất nhiên là, đổi mới phaỉ có tốt và cả xấu, ai cũng biết.
Một thời chúng ta nhìn các thầy giáo, cô giáo như những vị thần linh... nhưng bây giờ thì không như thế nữa.
Một thời, chúng ta từng ngồi đọc sách ở các thư viện Sài Gòn. Nơi đó, thời đó, chữ nghĩa còn là cái gì rất mực thiêng liêng.
Hãy hình dung rằng, khi các em bé tiểu học đọc sử, nhìn hình Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nữ Tướng Bùi Thị Xuân... cỡi voi, chỉ huy quân binh ra chiến trường... và rồi sẽ hỏi, xem con thú gì khổng lồ lạ kỳ, đang sử dụng thay cho ngựa chiến...
Có những điều như dường bất khả vẫn xảy ra trong đời naỳ. Không, chúng ta không bàn chuyện phép lạ, hay bất kỳ những gì siêu nhiên nơi đây. Chỉ bàn về cõi người của mình thôi.
Chúng ta đang sống trong một thời lắm bệnh, và do vậy để chữa lắm bệnh tất phải có thuốc đa dụng, đa năng... Làm sao tìm ra phương thuốc đa dụng,đa năng?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.