Hôm nay,  

Từ Mã Lai Về

30/03/200400:00:00(Xem: 6797)
Bạn thân,
“Gặp một nạn nhân bị lừa đảo đưa đi Malaysia: Bị bắt, bị giam cầm và... không một xu dính túi.” Đó là nhan đề một bài trên báo Lao Động, kể về hoàn cảnh một thanh niên VN đi “lao động xuất khẩu ở Mã Lai, và rồi bây giờ vêà lại. Chuyện do ký giả Xuân Quang của báo này ghi như sau.
Sau khi bài báo "Nhức nhối nạn du lịch tìm việc" (trong loạt bài về hành trình khốn khó của lao động VN tại Malaysia) được đăng tải, một nạn nhân trong số đó - em Phạm Văn Hữu, 21 tuổi, quê ở thôn Long Lanh, xã Bảo Đài, huyện Lục Nam (Bắc Giang) - sau khi được giới thiệu, đã tìm đến tôi phản ánh về cuộc sống tủi nhục của em ở Malaysia trước khi lên máy bay về nước ngày 26.3 trên chuyến bay VN 756. Khi đó trên người em chỉ độc một chiếc quần soóc, một áo phông, một giấy thông hành và vé máy bay (do Đại sứ quán VN tại Malaysia cấp), tiều tuỵ, hoảng hốt, không một xu dính túi...
Phạm Văn Hữu kể: Em sang Malaysia ngày 6.11.2002 sau khi gia đình đã nộp cho một người đàn ông cùng làng tên là Phạm Văn Chiến 25 triệu đồng với lời hứa sẽ được làm việc với mức lương rất cao tại Malaysia. Sang đến sân bay Malaysia (cùng 18 người khác), em phải đóng thêm 600USD gọi là phí môi giới phía Malaysia cho một người VN tên là Phạm Thị Mí.
Sau vài ngày, em được đưa đến làm việc tại Nhà máy Vitege Tiles ở Serapan nhưng không có hợp đồng lao động. Hộ chiếu của em do Chiến và Mí giữ. Em làm việc ở đây được 9 tháng, đến ngày 13.2.2004 thì bị cảnh sát bắt vì làm việc bất hợp pháp, không hộ chiếu, không giấy phép lao động.

Em được đưa đến giam giữ tại trại tị nạn Linging Kem Sebilan (bấy giờ đã có 33 lao động bất hợp pháp VN và nhiều lao động các nước Indonesia, Nepal... đang ở đây). Cuộc sống ở trại vô cùng cơ cực, không đủ cơm ăn, áo mặc, bị đánh đập, bị chà đạp nhân phẩm. Đến ngày 15.3 (sau hơn 1 tháng bị giam cầm), em được Đại sứ quán VN can thiệp, bảo lãnh cho ra trại, đồng thời cấp giấy thông hành (ngày 24.3) và mua vé máy bay cho em về nước. Theo Hữu, khi em được ra trại, vẫn còn 33 lao động VN ở lại.
Tôi đã đưa em ra sân bay để kịp chuyến bay VN 756 khởi hành lúc 14h10 ngày 26.3 về VN. Em bảo khi về đến Nội Bài, em sẽ phải gọi điện cho người nhà đến đón (hiện gia đình vẫn chưa biết gì về tình hình của em) nhưng em sực nhớ là không còn tiền dù chỉ để gọi một cuộc điện thoại. Tôi đã đưa cho em một số tiền đủ để em mua một tấm áo ấm (thời tiết Hà Nội đang lạnh) và đi xe từ sân bay về Bắc Giang, nhưng em nhất quyết chỉ nhận 100.000 đồng.
Bạn,
Phóng viên kết thúc bài báo một cách bùi ngùi bằng lời cảm ơn của thanh niên trong cuộc bằng hình ảnh vui mừng của ba mẹ em như sau.
Em bảo: "Em chỉ cần tiền để điện thoại cho gia đình. Khi nào về nước, có điều kiện anh đến nhà em chơi, địa chỉ: Thôn Long Lanh, xã Bảo Đài, huyện Lục Nam. Em về, hẳn bố mẹ em sẽ mừng lắm..."

Có những di sản văn hóa mang theo những mảng hồn dân tộc, mà chúng ta khi nhớ tới vẫn luôn luôn cảm động, vì đó là một phần lịch sử mở nước, dựng nước của ông bà mình.
Trong thời toàn cầu hóa, không chỉ kinh tế bị tác động lớn, cả lợi và hại, mà văn hóa cũng thế. Do vậy, bản sắc dân tộc cũng sẽ chuyển biến qua từng thế hệ, có nơi nhạt hơn một chút, và có nơi đậm hơn một chút -- và đôi khi, như ở các thành phố lớn, như tại Sài Gòn, văn hóa trở thành một tổng hợp chuyển biến, tác động lẫn nhau.
Gốm Việt Nam trước giờ nổi tiếng nhất là gốm Bát Tràng. Có lẽ một yếu tố làm cho gốm Bát Tràng được biết nhiều là nhờ vị trí điạ lý thuận lợi, nằm ngay ở Gia Lâm, Hà Nội – nghĩa là bên bờ thủ đô, và do vậy được các phóng viên báo chí viết nhiều. Nhưng như thế không có nghĩa là gốm Việt Nam mình chỉ duy có gốm Bát Tràng.
Làm thế nào có thể giữ gìn những điệu hát dân ca của Việt Nam? Có lẽ, đó làmột trong những khó khăn nhất đối với những người yêu mến nghệ thuật dân tộc.
Câu chuyện bằng giả là bình thường, vì chỉ cần một máy in đặt bên cạnh máy điện toán, nối dây xong, dùng Photoshop phù phép là xong.
Tình yêu đôi khi cần lời khuyên, bất kể rằng trái tim vẫn có những lý lẽ riêng của nó.
Đó là một chữ mới thấy trong hơn một thập niên nay, có thể là gần 2 thập niên: chém gió. Chữ này không rõ dịch chính xác ra ngôn ngữ bạn đang sử dụng thế nào... thôi thì mượn những chữ khá xưa mà bạn đã biết để đối chiếu: “chém gió” có nghĩa là “nổ,” là “xạo,” là “bẹt cà na”...
Nên “có tiếng“ hơn là nên “có miếng”? Những lựa chọn như thế có thể ảnh hưởng nhiều tới, không riêng cho bản thân người lựa chọn, nhưng sẽ tác động ra cả xã hội, nếu đây là một chính sách.
Chúng ta có bao giờ hài lòng với công việc của mình? Hoặc là chỉ hài lòng vào những ngaỳ cuối tuần khi được nghỉ ngơi, và bất mãn vào những ngày lao động nặng nhọc trong tuần?
Thế lào nà lói ngọng? Trời ạ, lại nói ngọng rồi. Không phải giỡn, nhưng nói ngọng là điều không nên, tuy là lỗi rất bình thường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.