Hôm nay,  

Từ Mã Lai Về

30/03/200400:00:00(Xem: 6308)
Bạn thân,
“Gặp một nạn nhân bị lừa đảo đưa đi Malaysia: Bị bắt, bị giam cầm và... không một xu dính túi.” Đó là nhan đề một bài trên báo Lao Động, kể về hoàn cảnh một thanh niên VN đi “lao động xuất khẩu ở Mã Lai, và rồi bây giờ vêà lại. Chuyện do ký giả Xuân Quang của báo này ghi như sau.
Sau khi bài báo "Nhức nhối nạn du lịch tìm việc" (trong loạt bài về hành trình khốn khó của lao động VN tại Malaysia) được đăng tải, một nạn nhân trong số đó - em Phạm Văn Hữu, 21 tuổi, quê ở thôn Long Lanh, xã Bảo Đài, huyện Lục Nam (Bắc Giang) - sau khi được giới thiệu, đã tìm đến tôi phản ánh về cuộc sống tủi nhục của em ở Malaysia trước khi lên máy bay về nước ngày 26.3 trên chuyến bay VN 756. Khi đó trên người em chỉ độc một chiếc quần soóc, một áo phông, một giấy thông hành và vé máy bay (do Đại sứ quán VN tại Malaysia cấp), tiều tuỵ, hoảng hốt, không một xu dính túi...
Phạm Văn Hữu kể: Em sang Malaysia ngày 6.11.2002 sau khi gia đình đã nộp cho một người đàn ông cùng làng tên là Phạm Văn Chiến 25 triệu đồng với lời hứa sẽ được làm việc với mức lương rất cao tại Malaysia. Sang đến sân bay Malaysia (cùng 18 người khác), em phải đóng thêm 600USD gọi là phí môi giới phía Malaysia cho một người VN tên là Phạm Thị Mí.
Sau vài ngày, em được đưa đến làm việc tại Nhà máy Vitege Tiles ở Serapan nhưng không có hợp đồng lao động. Hộ chiếu của em do Chiến và Mí giữ. Em làm việc ở đây được 9 tháng, đến ngày 13.2.2004 thì bị cảnh sát bắt vì làm việc bất hợp pháp, không hộ chiếu, không giấy phép lao động.

Em được đưa đến giam giữ tại trại tị nạn Linging Kem Sebilan (bấy giờ đã có 33 lao động bất hợp pháp VN và nhiều lao động các nước Indonesia, Nepal... đang ở đây). Cuộc sống ở trại vô cùng cơ cực, không đủ cơm ăn, áo mặc, bị đánh đập, bị chà đạp nhân phẩm. Đến ngày 15.3 (sau hơn 1 tháng bị giam cầm), em được Đại sứ quán VN can thiệp, bảo lãnh cho ra trại, đồng thời cấp giấy thông hành (ngày 24.3) và mua vé máy bay cho em về nước. Theo Hữu, khi em được ra trại, vẫn còn 33 lao động VN ở lại.
Tôi đã đưa em ra sân bay để kịp chuyến bay VN 756 khởi hành lúc 14h10 ngày 26.3 về VN. Em bảo khi về đến Nội Bài, em sẽ phải gọi điện cho người nhà đến đón (hiện gia đình vẫn chưa biết gì về tình hình của em) nhưng em sực nhớ là không còn tiền dù chỉ để gọi một cuộc điện thoại. Tôi đã đưa cho em một số tiền đủ để em mua một tấm áo ấm (thời tiết Hà Nội đang lạnh) và đi xe từ sân bay về Bắc Giang, nhưng em nhất quyết chỉ nhận 100.000 đồng.
Bạn,
Phóng viên kết thúc bài báo một cách bùi ngùi bằng lời cảm ơn của thanh niên trong cuộc bằng hình ảnh vui mừng của ba mẹ em như sau.
Em bảo: "Em chỉ cần tiền để điện thoại cho gia đình. Khi nào về nước, có điều kiện anh đến nhà em chơi, địa chỉ: Thôn Long Lanh, xã Bảo Đài, huyện Lục Nam. Em về, hẳn bố mẹ em sẽ mừng lắm..."

Trong ký ức nhiều thế hệ người Sài Gòn còn in đậm hình ảnh những người thợ bận rộn nhồi bột, vo nhân, in khuôn nướng bánh trung thu phục vụ khách qua đường vào những năm đầu 1960 trên trục đường Trần Hưng Đạo nối liền Sài Gòn - Chợ Lớn lúc nào cũng người mua kẻ bán sầm uất. Đó là hình ảnh những người thợ làm bánh trung thu của Nhà hàng Đồng Khánh, góc đường Trần Hưng Đạo - Đồng Khánh (cũ), quận 5. Báo Người Lao Động viết như sau.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, gần 30 năm qua, hàng chục ngàn dân ở Thủ Đức phải dùng nước không bảo đảm vệ sinh. Điều nghịch lý là nhiều gia đình sống gần nhà máy nước Thủ Đức nhưng luôn "khát nước". Tại nhiều khu vực, nguồn nước để người dân sử dụng chủ yếu vẫn là giếng khoan. Mặc dù độ sâu của giếng thường trên 60m
Tại ở ấp Chánh Mỹ, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, sáng nào người dân cũng thấy một ông lão trạc 80 tuổi mặc cái áo bành tô, quần "bò" bạc màu, đầu trần, chân mang đôi dép da có quai hậu ngồi trên chiếc ghế đá ở đường Bạch Đằng - cạnh bờ sông chuẩn bị cho một ngày mới với công việc đánh xe ngựa. Ông lão này là một trong hai người đánh xe ngựa cuối cùng ở thị xã tỉnh lỵ Bình Dương
Theo báo Thanh Niên, công an CSVN thành phố Sài Gòn vừa bắt 1 tay đạo chích thuốc hàng cao thủ: chỉ trong vòng hơn 1 năm, trộm liên tục đột nhập vào các cơ quan công quyền CSVN (có nhân viên bảo vệ hẳn hoi) giữa ban ngày và ung dung dắt ra khỏi cổng hàng chục chiếc xe của các quan chức, nhân viên. Báo TN ghi lại "thành tích đạo chích" của kẻ trộm này như sau.
Trong thời gian gần đây, tình trạng chơm bản quyền khơng chỉ xảy ra trong giới soạn nhạc, mà cịn lan sang sân khấu cải lương, thoại kịch, và cả hài kịch. Về sân khấu hài, thành phần bị chơm bản quyền là những diễn viên từ quê lên tỉnh. Lợi thế của những diễn viên nàu là biết ca vọng cổ, nên việc sáng tác các tiểu phẩm hài kịch "mì ăn liền" khơng khĩ
Tại SG, có 1 thanh niên kiếm sống nhờ dịch vụ trang điểm cho gái bán bar. Chỉ với bộ đồ nghề đơn giản vài ba thỏi son; hai cây chổi quét mặt loại lớn, nhỏ; một cây chì kẻ; hai, ba hộp phấn màu..., nhưng qua bàn tay của thanh niên này, khuôn mặt các cô phục vụ bar trở thành một "thế giới nổi loạn". Tin Nhanh VN viết về thanh niên này như sau.
Tại VN, luật sư được dân gian gọi là "thầy cãi", phần nào chỉ sự ăn nói khôn khéo của họ trước pháp đình. Tuy nhiên, đôi khi họ cũng phải vướng vào tình cảnh "thần khẩu hại xác phàm". Báo Thanh Niên ghi lại 1 số trường hợp như sau. Cuối tháng 8/2004, ông Nguyễn Xuân Ngữ (59 tuổi, ngụ tại phường Long Thạnh Mỹ, Quận 9, TP.SG) đã gửi đơn đến Tòa án Quận 9
Theo báo quốc nội, toàn thành phố SG có 57 nhóm hài đang hoạt động, trong số đó có đến 2/3 số diễn viên xuất thân từ các đoàn cải lương miền Tây Nam phần. Các đoàn tan rã, họ lên Sài Gòn đi tấu hài kiếm sống. Để được làm diễn viên hài có khi họ phải trả bằng nước mắt.Khi sân khấu cải lương lâm vào cảnh đìu hiu, nhiều nghệ sĩ cải lương rẽ sang nghề tấu hài để nuôi sống gia đình và bản thân.
Tại Sài Gòn, nhà hàng, quán nhậu là nơi tiếng hát bị át đi bởi tiếng cười, nói và tiếng cụng ly của dân ăn nhậu. Do vậy, những nơi này là điểm dừng chân của các ca sĩ mà "sự nghiệp" âm nhạc "lận đận" hay đã kết thúc ở các phòng trà.Báo Người Lao Động ghi nhận tình cảnh của những ca sĩ hát ở quán nhậu qua đoạn ký sự như sau.
Theo báo quốc nội, trên con đường Lê Công Kiều, quận 1 TPSG, có 1 khu phố với những cửa hàng nho nhỏ khiêm tốn bày bán các mặt hàng đồ cổ và đồ mỹ nghệ. Đây là địa chỉ khá quen thuộc của du khách trong và ngoài nước. Việc kinh doanh đồ cổ và giả cổ tại con đường này bắt đầu từ những năm 1980 và bắt đầu phát đạt từ thập niên 1990
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.