Hôm nay,  

Ca Trù Cổ Đạm

31/10/199900:00:00(Xem: 11884)
Bạn thân,
Quê hương Nguyễn Du có gì đáng nhớ" Có phải là nơi mà họ Nguyễn ăn rau tới xanh cả mặt sau khi làm loạn bất thành" Tôi tin là bạn chưa biết điều này: đó là nơi có bộ môn nghệ thuật “ca trù.” Không giống gì với các kiểu dân ca trước giờ bạn nghe đâu. Để tôi trích đoạn một bài trong nước về ca trù cho bạn đọc như sau.

Nếu như ở Bắc Ninh có hát quan họ của “liền anh, liền chị” thì vùng đất Nghi Xuân của đại thi hào Nguyễn Du lại là cái nôi của ca trù. Ca trù làng Cổ Đạm, tiếng hát luyến láy được cất lên từ cung đình, đến lễ hội dân gian đã làm mủi lòng biết bao tao nhân, mặc khách... Hát ca trù trước thềm thế kỷ 21 “vẫn còn duyên”…

Theo Đại Nam Sử Ký thì làng Cổ Đạm (nay là xã Xuân Hoa, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) đã có cách đây hơn 2 vạn năm và hát ca trù hay còn gọi hát ả đào đã xuất hiện từ thế kỷ thứ 16. Làng Cổ Đạm xa xưa là một làng yên ả thanh bình, có những ngọn tiểu khê “Nước ngâm trong vắt” và trông ra xa là “Cát vàng, cồn nọ”, là núi Hồng vờn mây ngũ sắc giống như “Chốn bồng lai, tiên cảnh”. Ca trù được hiện hình từ ánh mắt, từ tình yêu hay từ cội nguồn nhân nghĩa của xứ sở này cho tới bây giờ chưa ai cắt nghĩa được... Chỉ biết rằng theo truyền thuyết: Thuở xưa có một người đàn ông tên là Đinh Lễ xuất thân là con nhà nghèo ở làng Cổ Đạm. Mặc dầu phải sống trong cảnh mò cua, bắt ốc nhưng Đinh Lễ càng lớn càng khoẻ mạnh và học hành rất sáng dạ. Do có công dùi mài kinh sử nên qua các kỳ thi ông đỗ đạt cao. Tuy thế vì không màng danh lợi và ghét thói nịnh thần nên ông không chịu ra làm quan. Bản tính phóng túng và đa cảm với cảnh người, cảnh vật nên ông thích những chuyến đi du sơn, du thuỷ để mượn cảnh đề thơ. Vào một buổi chiều thu, lúc mặt trời sắp tắt nắng, Đinh Lễ đang ngồi duỗi chân trên mỏm đá ở đỉnh núi cao, bất ngờ thấy một ông lão phúc hậu, tóc và râu đều bạc như cước tiến về phía mình. Ông lão vui vẻ nói: Ta là người từ trời xuống đây, ta biết con từ lâu thích cầm, kỳ, thi, hoạ vậy ta cho con khúc gỗ bằng cây ngô đồng này, đẽo thành một cây đàn đáy. Có cây đàn huyền diệu, con sẽ biết hát và mang niềm vui đến cho mọi người. Nói rồi ông lão biến mất.

Đinh Lễ cảm thấy mình xốn xang, ông đưa cây gỗ về nhà và hì hục gọt đẽo thành cây đàn đáy. Đinh Lễ lấy tay gõ nhẹ, tiếng đàn đáy ngân lên một thứ nhạc kỳ lạ, không lảnh lót, réo rắt mà tiếng đàn nhẹ nhàng khoan thai, trầm trầm thấm sâu vào lòng vào dạ. Ông Đinh Lễ vừa đàn, vừa hát những bài thơ của mình. Chẳng bao lâu tiếng tăm Đinh Lễ người đàn và hát hay được nổi lên như một đấng siêu nhân của làng, của nước. Một hôm Đinh Lễ đưa bạn bè đi hát chơi ở Thanh Hoá, thì được tin cô công chúa Bạch Hoa con một ông vua bị câm. Nhà vua bèn sai lính ra mời chàng hát thử để giải sầu cho công chúa. Ai ngờ nghe xong tiếng đàn và giọng ca của Đinh Lễ, công chúa mặt ửng hồng và nàng trở lại thỏ thẻ giọng oanh vàng. Nhà vua mừng rỡ khôn xiết thưởng cho Đinh Lễ rất hậu và tiếp tục mời Đinh Lễ hát cho vua, hoàng hậu và các quan trong triều cùng nghe. Thế là nguồn gốc, sự khởi xướng của ca trù được bắt đầu từ đây cho tới bây giờ tại làng Cổ Đạm vẫn còn đền thờ ông Đinh Lễ, ông tổ của ca trù.

Ở làng Cổ Đạm từ xa xưa đã hình thành các giáo phường hát ca trù, người ta gọi là giáo phường ty Cổ Đạm. Ca trù Cổ Đạm bắt đầu từ thôn làng sau đó vươn tới hát cung đình, cửa đình và rồi được bén rễ vào các tỉnh phía bắc như Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên. Đào, kép Cổ Đạm (Phú Lạp) thường được mời đi truyền nghề, hoặc đi hát ở các nơi: Hát lễ thần (hát cửa đình), hát hầu ở các nhà quan (hát cửa quyền) và hát ở hội hè, đình đám. Ngày thường họ ở nhà cày cấy làm ăn. Con gái trong giáo phường lớn lên đều biết hát và đi hát cho đến lúc lấy chồng. Những đào hát, kép đào nổi tiếng thì hành nghề cho tới lúc già.

Lịch sử chẳng bao giờ quên, người hát ca trù hay và cũng là người sáng tác ca trù giỏi, đấy là danh nhân kiệt xuất Nguyễn Công Trứ. Trước năm 1820 khi chưa làm quan, Nguyễn Công Trứ đã từng là một kép đàn giỏi của giáo phường Cổ Đạm. Những lần tham gia cùng gánh hát với người đẹp Huệ Thư. Trái tim phiêu lãng của tướng công uy viễn thời trẻ đã được ả đào nương Huệ Thư chinh phục. Chợt nhớ rồi chợt quên nên mới có câu chuyện giai thoại về mối tình này:
Giang san một gánh giữa đồng/ Thuyền quyên (ứ hự) anh hùng nhớ không…

Dễ đến hơn 4 thập kỷ nghệ thuật ca trù của Nghi Xuân gần như bị mai một dần. Để bảo tồn một di sản văn hoá truyền thống, Phòng Văn hoá huyện Nghi Xuân đã cử cán bộ trực tiếp gặp gỡ và tìm hiểu các nghệ nhân và những người hiểu biết về ca trù Cổ Đạm. May thay làng Cổ Đạm hiện đang còn có nghệ nhân cao tuổi, số nghệ nhân này thực ra không phải là ngự ca, là đào chị mà là con em của hai dòng họ Nguyễn + Phan của giáo phường, theo cha anh học đàn, học hát vào thời kỳ cuối cùng của các gánh hát. Hầu hết những gương mặt nghệ nhân này đã bước vào tuổi thất thập cổ lai hy; đấy là bà Mơn, bà Da, bà Xuân, bà Liên, ông Phùng, bà Khánh. Cái tuổi chân chậm, mắt mờ, đi đứng phải có gậy hoặc người dìu vậy mà khi Phòng Văn hoá huyện muốn đun nóng lại món ăn cổ này thì họ có sá gì tuổi tác. Mời ghi âm lại các bài ca trù trước: Đi! Mời tham gia buổi diễn nhân lễ hội: Đi! Mời hướng dẫn luyện giọng cho lớp trẻ ở một lớp học: Đi! …

Mẹ Mơn dáng cao gầy, răng đen hạt na, nói năng vẫn hoạt bát. Nhắc tới ca trù, mẹ kể vanh vách những ả đào Cổ Đạm xưa theo mẹ Mơn ở làng Cổ Đạm trước đây nổi tiếng hát ca trù hay phải kể đến dòng họ Phan. Mẹ Mơn bảo:
Họ Phan có nhiều người tài hoa. Cuối đời Lê, Phan Phú Giai là con hát có tài trào lộng, mỗi khi hát xong đều được thưởng. Biết chúng tôi muốn thưởng thức giọng ca của bà cụ, mẹ Mơn uống một ngụm nước chè xanh rồi cất giọng ứ hự một giọng rất độc đáo của ca trù, nó khác chèo, khác tuồng, khác ví dặm. Bài mẹ hát chính là bài Yêu Hoa của nhà thơ Nguyễn Công Trứ. Dẫu không đàn, không trống, mẹ Mơn chỉ hát chay, vậy mà hồn câu ca được truyền tải qua giọng bà mẹ 80 tuổi này vẫn làm cho chúng tôi bồi hồi xúc động.

Tôi nghe nhiều nam thanh, nữ tú trong làng Cổ Đạm kháo nhau: Hát ca trù hiện nay đang dấy lên phong trào sôi nổi ở khắp nơi, không chỉ bó hẹp ở làng Cổ Đạm, nó đã lan rộng ra nhiều làng, nhiều xã. Huyện Nghi Xuân hiện nay có 3 thế hệ hát ca trù: Thế hệ già, thế hệ thanh niên và thế hệ thiếu niên.

Ca trù là di sản văn hoá cũ, nhưng lại là cái rất mới đối với lớp hậu sinh. Học hát ca trù khó hơn công việc trồng khoai, cấy lúa. Học hát ca trù khó hơn cả học ngoại ngữ nữa. Ấy thế mà bây giờ, trên quê đại thi hào Nguyễn Du này đang xuất hiện những dáng kiều thơm đưa được chất liệu ca trù của quá khứ đến với thời đại xoáy lốc của công nghệ tin học. Nâng niu bản sắc văn hoá dân tộc là nâng niu cái hay, cái đẹp, cái tài hoa, tinh tế. Ca trù là di sản như vậy đấy. Mẹ hát cho con nghe, ông hát cho cháu nghe. Rồi chẳng biết tự bao giờ, đứa cháu luyện được giọng điệu của ông và trở thành ca sĩ nhí. Không vui nào bằng, giữa những ngày lễ hội, người ta lại bắt gặp các cháu nhỏ với bộ xiêm y rỡ ràng ngồi vào chiếu biểu diễn ca trù…

Bạn thân,
Bạn thấy đó. Những thiên tài như Nguyễn Du phải nhiều trăm năm mới có một người, và nếu trong ra đời giữa một chiếc nôi nghệ thuật thì có khi còn hiếm hơn nữa. Chỉ mong là những ngôi làng nghệ thuật như vậy sẽ không bao giờ biến mất trên quê mình.

Tôi chỉ kinh ngạc khi nghĩ tới má chạy vào vùng bom đạn để cứu đứa con gái mới hai tháng. Đây là câu chuyện đầu tiên về đời mình tôi được biết – câu chuyện của một đứa bé kẹt ở khúc quanh lịch sử; câu chuyện về tình thương vô điều kiện của người mẹ dành cho đứa con; và câu chuyện trong giờ phút đất nước đổi chủ
Năm đầu tiên vào Sài gòn, tôi được anh chở trên chiếc vespa cà tàng đi khắp nơi. Anh đã giúp tôi chuẩn bị tốt cho kỳ thi vào Cao đẳng Mỹ Thuật Sài gòn dù về sau tôi không theo đuổi nghệ thuật hội họa... Kỷ niệm với anh Du Tử Lê tôi không bao giờ quên và chúng tôi thường nhắc lại mỗi khi ngồi uống café rồi cười với nhau
Đến Ai Cập và Jordan, chúng tôi tự sắp xếp chương trình thăm những nơi mình muốn. Qua Do Thái mấy ngày đầu tự lên lịch tham quan, sau đó nhập vào đoàn người đến từ Mỹ và Úc, trong chuyến hành hương do linh mục Dòng Tên Nguyễn Tầm Thường hướng dẫn.
Tướng Khuyên còn ở Sài Gòn đến ngày 28 tháng 4/1975 mới ra đi. Ông đã ra đi trong khi Sài Gòn đang cơn hấp hối vô phương cứu vãn nổi. Tới Mỹ, Ông xuất gia và tu hành lặng lẽ trong một ngôi chùa cũng lặng lẽ ít đồng hương lễ lạc. Kiếm sĩ Đặng Dung ngày xưa cũng sống như vậy
Truyện Thạch Sanh Lý Thông lưu truyền trong dân gian dưới hình thức chuyện kể truyền miệng chắc có đã lâu. Phải hiện hữu trước khi ông Dương Minh Đức đưa bản văn sáng tác của mình sang bên Quảng Đông khắc ván cũng như từng đưa vài chục tác phẩm khác của nhóm nhờ đó miền Nam Kỳ Lục tỉnh có được một số tác phẩm Nôm đáng kể mà người nghiên cứu Nôm thường gọi là Nôm Phật Trấn
Nhật Bản: Người Việt đứng đầu danh sách người ăn cắp đến từ nước ngoài. Năm 2017, khoảng 260 000 người Việt sống tại Nhật Bản, tăng 8 lần so với 2008. Tội phạm trong Cộng Đồng Việt cũng tăng. Thống kê tại Nhật cho thấy năm 2017, số tội phạm gốc Việt là 5140, chiếm hơn 30% tổng số tội phạm
đài phát thanh yêu cầu người dân phải về nhà trước 23 giờ để đợi thông báo quan trọng. Lúc 2 giờ ngày 22.09.1975, đài loan tin về quy định đổi tiền và kéo dài thời gian giới nghiêm đến 11 giờ sáng. Thời gian đổi tiền sẽ bắt đầu vào lúc 11 cho đến 23 giờ cùng ngày, tức chỉ có 12 giờ đồng hồ để hoàn thành việc thu và đổi tiền
người có danh, có chức mới viết hồi ký khi về già. Tôi chỉ là một nhà giáo bình thường, chẳng có gì to lớn cả, nên chẳng bao giờ nghĩ đến việc tự viết về mình. Tuy nhiên, qua bao năm sống còn, nghĩ lại mình cũng còn những điều đáng nhớ
Trong thời đại ngày càng gia tăng sự bất ổn và bất an trên khắp toàn cầu, lời Phật dạy về bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết nhau ngày phù hợp đối với tất cả những ai muốn thiết lập một thế giới tốt đẹp và hòa bình.
Nhắc đến biến cố 30 tháng 4 năm 1975 thì người Việt sống ở hải ngoại đều bùi ngùi thương cảm khi nhắc đến cái chết oai hùng của 5 vị tướng đã tự tử trong thời gian kể trên. Nay tôi xin góp nhặt tin tức được kể lại từ nhiều người thân cận tướng Nguyễn Khoa Nam về cuộc sống đời thường của ông
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.