Hôm nay,  

Góc Nhạc Cổ Điển:

05/08/200600:00:00(Xem: 3178)

Chúng tôi mong nhận được mọi ý kiến đóng góp và bài vở của bạn đọc về mọi vấn đề liên quan đến nhạc cổ điển như ca kịch opéra, ballet, kỹ thuật (recording), album mới, concert bạn mới đi nghe...Thư từ bài vở xin gởi về [email protected]

Nhạc (Cổ Điển) Thế Kỷ 20: Các Trào Lưu Hậu Hiện Đại

- Jo Ký - Tháng 7, 2006

Nghịch âm và thử nghiệm

Vào đầu thế kỷ 20, các nhạc sĩ theo trào lưu mới đã làm khiếp vía khán giả qua những tác phẩm và cách trình diễn của họ.  Charles Ives (1874-1954) chua (quote) nhạc pop, thường có nhiều lớp nhị trùng âm (bitonal), và nhịp điệu phức tạp đến đỗi không thể chơi được.  Henry Cowell (1897-1965) trình diễn nhạc piano độc tấu của ông dùng những phương pháp như lấy tay búng các dây đàn, gõ lên thùng đàn, dùng cả cánh tay hay miếng bìa cứng đè lên các phím đàn để tạo ra các chùm âm (tone cluster).  Edgard Varèse (1883-1965) viết nhạc cực kỳ nghịch âm và dùng những âm hưởng rất kỳ lạ.  Charles Seeger (1886-1979) cổ súy nhạc đối điểm nghịch âm (dissonant counterpoint).

Năm 1913, Igor Stravinsky cho ra mắt vở ballet Le Sacre du Printemps  tại Paris.  Vở tuồng diễn cảnh dùng người tế thần của một bộ lạc sơ khai.  Stravinsky dùng một nhịp điệu đinh tai nhức óc làm motif cho tác phẩm cùng các hợp âm dầy cộm cực kỳ nghịch âm và phối khí gớm ghiếc (grotesque).  Sau buổi trình diễn, đã xảy ra một cuộc bạo động gồm có đánh nhau và xô xát khiến Stravinsky và nhạc trưởng Sergei Diaghilev đã phải tẩu thoát khỏi đám đông phẫn nộ.  Darius Milhaud và Paul Hindermith phát huy nhạc nhị trùng âm.  Amadeo Roldán viết nhạc đặc biệt cho nhóm gõ (purcussion).  Kurt Weill (1900-1950) viết vở Threepenny Opera dùng hoàn toàn những bản nhạc quán bar (cabaret) của Đức.

Trào lưu hậu hiện đại (post-modernism): nhạc cơ hội (aleatoric)

Cũng vào khoảng thập niên 50, một cách ngẫu tác (improvision) mới đã tạo ra mầm mống cho loại nhạc cơ hội (aleatoric music hay chance music).  Charles Ives thường khuyến khích các nhạc công chơi nhạc của ông ngẫu tác và thường viết các note nhạc một cách không thể nhận diện được khiến các nhạc công bắt buộc phải tạo nhạc theo suy nghĩ riêng của họ.  Năm 1934, Henry Cowell viết String Quartet #3 ("Mosiac") gồm có những đoản khúc rời rạc (fragment) và để cho cách nhạc công tấu các đoản khúc đó theo bất cứ thứ tự nào. 

Môn đệ của Cowell, nhạc sĩ người Mỹ, John Cage (1912-1992) đương đầu với những ý tưởng cốt lõi nhất của quá trình sáng tạo âm nhạc.  Ông lý luận rằng những âm thanh hay tiếng động bất chủ định của một nhạc cụ cũng có giá trị tương đương với những âm thanh có chủ định phát ra từ nó, và ông bắt đầu viết nhạc cơ hội (aleatory).  Tác phẩm Imaginary Landscape #4 dùng 12 cái radio chỉnh ở 12 đài khác nhau đồng loạt phát thanh.  Trong Music of Changes for piano ông ném 3 đồng tiền và dựa vào quyển Kinh Dịch (I Ching) để chọn các note nhạc.  Tác phẩm âm nhạc nổi tiếng nhất của ông mang tên 4'33" (4 phút 33 giây) trình bày trước khán giả một chiếc đàn piano và một người trình diễn.  Người trình diễn, tay cầm đồng hồ bấm và không được gây ra một âm thanh nào cả trong vòng 4 phút 33 giây.  Bản nhạc thật ra chỉ là một sự lặng thinh trong thời gian đó và khán giả có dịp nghe những tiếng động bất định chung quanh.  Hẳn nhiên là nơi chốn trình diễn mới là yếu tố quyết định những gì khán giả sẽ nghe, và không bao giờ có 2 bản nhạc 4'33" nào giống với nhau cả.  Một điều lý thú là bất cứ ai, ở bất cứ nơi đâu, với một chiếc đồng hồ bấm là có thể trình diễn tác phẩm này.  Những người đi theo hướng này gồm có Pierre Boulez, Karlheinz Stockhausen, Gyorgi Ligeti (1923-06/12/2006), và Witold Lutoslawski (1913-1994).

Phong trào cực tiểu (minimalism)

Nhiều nhạc sĩ cuối thế kỷ 20 bắt đầu khám phá một loại nhạc mà ngày nay ta gọi là loại nhạc cưc tiểu (minimalism).  Nhạc cực tiểu được định nghĩa như là một phương pháp viết nhạc dùng nhiều đoản khúc chồng chất lên nhau nhiều lớp và lập đi lập lại rất nhiều lần.

Terry Riley (1935) được xem là cha đẻ của phong trào cực tiểu với tác phẩm In C, một tác phẩm gồm có những giai điệu cơ bản mà mỗi nhạc công chơi với nhịp độ riêng của họ.  Các nhạc sĩ nổi tiếng trong phong trào cực tiểu gồm có Terry Riley, Steve Reich (1936), Mike Oldfield (1953), Philip Glass (1937), và La Monte Young (1935).  Họ muốn nhạc phải đơn giản để quảng đại công chúng có thể hiểu một cách dễ dàng chớ không tiềm ẩn trong trùng trùng kỹ thuật hòa âm.  Một diều cá biệt của nhạc cực tiểu so với nhạc trước kia là các giai điệu cơ bản  trong đó đi so le với nhau hay được quyết định bởi người trình diễn.

Nhạc cực tiểu hay bị phản đối bởi những người theo truyền thống cũ.  Họ cho rằng nhạc cực tiểu lập đi lập lại quá nhiều và rỗng tuếch.  Trong khi giới thuận theo cực tiểu biện hộ rằng những yếu tố tĩnh (static elements) trong đó tạo sự chú ý đến những biến đổi mặc dù rất nhỏ.  Phong trào cực tiểu, tuy nhiên, đã gây ảnh hưởng đến nhiều nhạc sĩ thường không được xếp vào nhóm cực tiểu như  Karlheinz Stockhausen và Gyorgy Ligeti.

Những nhạc sĩ như Arvo Part (1935), John Taverner (1944), và Henryk Górecki (1933) được gọi là những người theo lối cực tiểu tôn giáo (holy minimalism) với những tác phẩm tôn giáo thành công của họ.  Còn nhớ không, Symphony số 3 của Górecki là CD bán chạy nhất liên tiếp mấy năm liền trong thập niên 90"  Đợt sóng kế tiếp của phong trào cực tiểu gồm có những nhạc sĩ --có người cho là cực tiểu, có người không-- như nhà soạn opera John Adams (1947) và môn đệ Aaron Jay Kernis (1960).  Nhạc của họ tuy có vẻ cực tiểu nhưng không cấu tạo bằng phương pháp cực tiểu mà do cơ cấu (texture) tạo nên.

Nhà soạn nhạc Thụy sĩ Arthur Honegger phát biểu: "Công chúng không muốn nhạc mới; điều chính yếu mà họ đòi hỏi từ một nhà soạn nhạc là hắn hãy chết đi."  ("The public doesn't want new music; the main thing it demands from a composer is that he is dead.")

cuộc phỏng vấn Chín mươi sáu phút với Thượng Toạ Thích Trí Quang chiều ngày 5-5-1966 tại Chùa Từ Đàm Huế... đăng trên báo Tình Thương số 29, 1966
trong ba ngày, từ ngày 5 đến 7 tháng Năm, năm 2017 tại Việt Báo Gallery, số 14841 đường Moran, thành phố Westminster
Trong loạt tranh về biển của Ann Phong trước đây những người từng vượt biên bằng thuyền có cái tên chung “thuyền nhân”
Nguyệt san Tình Thương số đầu tiên được ra đời vào đầu năm 1964, sau một cuộc hội thảo sôi nổi của khoảng 50 sinh viên y khoa
Gia tăng chi phí chăm sóc sức khoẻ đã và đang là một trong những mối quan tâm quan trọng nhất đối với người Mỹ; nợ nần chăm sóc sức khoẻ là một trong những lý do chính khiến nhiều người phải tuyên bố phá sản
Các tham dự viên tuổi từ 15 đến 90, cả Việt lẫn Mỹ. Mỗi người đều tuần tự theo chiều kim đồng hồ mà phát biểu (tiếng Việt hay tiếng Anh tùy thích)
Tài lực và thế lực nào đã chống lưng giúp Lào gạt qua phản đối của Cam Bốt và Việt Nam; bất chấp khuyến cáo của các chuyên gia quốc tế về các tác động nặng nề cho môi sinh và kinh tế
Anh chị hỏi rằng liệu nước Mỹ có còn là nơi đáng sống không và giấc mơ Mỹ còn khả thi không?
Nhà văn Ngô Thế Vinh từ California đã ủy quyền cho nhà thơ Lý Đợi nhận và đọc diễn từ nhận giải thưởng Văn Việt 2017... chia xẻ vinh dự và giải thưởng này tới các bạn trẻ chủ trương Nhà Xuất Bản Giấy Vụn
“Trong những ngày điên đảo này của nước Mỹ, dường như không có ai không là nạn nhân. Kể cả kẻ gây nên những điên đảo quay cuồng này: Donald Trump. Ông ta đang là nạn nhân của ảo tưởng cho mình là vĩ đại nhất của chính mình“
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.