Hôm nay,  

Cuộc chiến quỷ ám

11/03/202200:00:00(Xem: 11437)
Vladimir_Putin_with_Aleksandr_Solzhenitsyn-1
 
Trong câu chuyện vô tận về mối quan hệ phức tạp giữa Nga và phương Tây, các nhà văn Nga ngoài vai trò đồng tác giả còn là những nhân vật tiêu biểu. Sa hoàng, Sô-viết, hậu Sô-viết, Putin hay hậu Putin, thời nào chiến tuyến cũng và cũng sẽ hằn sâu giữa giới trọng Nga (russophile) hay trọng Slav (slavophile) và giới thân phương Tây.
 
Biểu tượng quyến rũ nhất của khuynh hướng thân phương Tây cho đến nay vẫn là Ivan Turgenev: Tài năng, danh tiếng, quảng giao, học thức, thành thạo sáu ngoại ngữ, chưa kể giàu sang quý tộc và một ngoại hình nổi bật với chiếc mũi hoàn hảo trên gương mặt khả ái và chiều cao gần hai mét. Đối trọng của ông về mọi phương diện là Dostoyevsky, xuất thân trong khốn khó, vóc dáng khắc khổ, râu thưa, tóc mỏng, da thiếu nắng, má hóp, mắt nhìn bất an, thần thái bồn chồn và thường xuyên chạy nợ. Hành trình của Dos là từ cực tả đến bảo thủ và thậm chí cực hữu, của Turgenev là từ hư vô đến cấp tiến rồi phóng khoáng ôn hòa. Dos thậm mộ đạo, Turgenev ít nhiều vô thần. Dos táo tợn cực đoan, Turgenev khoan dung điềm tĩnh. Dos cục cằn đầy kịch tính, Turgenev lịch lãm nhẹ nhàng. Dos cường độ, Turgenev sâu lắng. Dos khinh bỉ phong cách, bất chấp kỹ thuật, coi ngôn ngữ chỉ là phương tiện và nếu đang cháy túi thì viết ào ào, miễn bán được bản thảo. Turgenev kỹ lưỡng từng câu chữ, khổ sở mãi về một chiếc bàn tròn ở câu trước bỗng có hình bầu dục ở câu sau trong một tác phẩm của Dos. Dos sục xuống tầng hầm của tâm hồn Nga, tìm ra đầu dây cháy chậm của những quả bom người – những thân phận bị đọa đày và châm ngòi nổ. Turgenev mở cánh cửa sổ Nga ra thế giới, phối hiện thực với trữ tình và cho nét u buồn đặc trưng của Nga một vẻ bi quan hiện đại. Song xung đột bất hủ giữa hai vì tinh tú thuộc hàng rực rỡ nhất trên bầu trời văn chương Nga này đến từ câu hỏi "Con đường nào cho nước Nga?", vấn đề thiêu đốt và chia rẽ giới tinh hoa Nga chậm nhất từ giữa thế kỷ 19.
 
Turgenev
Ivan Turgenev

Trong tác phẩm Khói (1867), Turgenev để nhân vật Potugin của mình phát biểu: "Người Anh gặp nhau thì thảo luận về thuế trước bạ hoặc cáp điện ngầm dưới biển, người Đức bàn về Schleswig-Holstein và tiến trình thống nhất nước Đức, người Pháp không thể không đề cập chuyện tình ái, còn người Nga thì lập tức tranh cãi về 'Vai trò và tương lai của nước Nga'. Họ gặm, họ mút, họ nhai cái vấn đề bất hạnh này như trẻ con ăn cao su – và luôn dẫn đến cùng một kết quả." Song Dostoyevsky thì khác, ông đã trả lời câu hỏi đó bằng hai đáp án trái ngược.

Dostoevsky
Dostoyevsky
 
Chàng thanh niên Dos bị bắt, kết án tử hình, ân xá vào phút chót trên pháp trường và lưu đày ở Siberia. Tội của ông là đã đọc bức thư nổi tiếng của Belinsky gửi Gogol trong một buổi họp mặt của Nhóm Petrashevsky, gồm các trí thức trẻ chống đối chế độ Sa hoàng. Belinsky, nhà phê bình văn học sáng chói những năm bản lề ấy thất vọng sâu sắc về bước ngoặt bảo thủ của Gogol sau thành công của Những linh hồn chết mà ông từng nhiệt thành ngưỡng mộ. Toa thuốc mà Gogol kê cho con bệnh là nước Nga, với những thảo dược Nga truyền thống như thần bí, khổ hạnh và sùng tín, theo Belinsky là chẳng những vô tác dụng mà độc hại, bởi nước Nga cần được điều trị bằng liệu pháp Âu hóa, bằng văn minh, khai sáng và nhân văn. "Nước Nga không cần những bài giảng đạo (nó đã nghe quá đủ!), không cần những lời cầu nguyện (nó đã tụng quá nhàm!), mà cần sự đánh động ý thức của người dân về phẩm giá con người bị chôn vùi trong rác rưởi và ô uế suốt nhiều thế kỷ - nước Nga cần và phải áp dụng thật nghiêm khắc những thứ quyền và luật phù hợp với lẽ công bằng và lý trí lành mạnh chứ không phải phù hợp với giáo lý nhà thờ. Nhưng tiếc tay, nước Nga chỉ trình ra bộ mặt ghê tởm của một quốc gia không có đảm bảo nào cho cá nhân, danh dự và sở hữu của con người, một trật tự cảnh sát cũng không có nổi, chỉ thuần túy là một nhà nước trong tay đám sai nha trộm cắp và cướp bóc!".
 
Mươi năm sau, qua những khổ sai, quân dịch, bệnh tật, túng quẫn, chờ đợi một cú huých cho sự nghiệp, Dos đoạn tuyệt với các lý tưởng cực tả thời trẻ để tốt nghiệp bước ngoặt bảo thủ của số phận mình, có phần ít thần bí hơn Gogol, nhưng cũng triệt để quay lưng với các trào lưu khai sáng, cải cách và hiện đại hóa xã hội, chỉ còn cố thủ ở những "giá trị Nga" ăn sâu trong đời sống chất phác, tâm hồn trong sáng và đức chịu đựng vô tận của nông dân Nga, kết tinh trong Giáo hội Chính thống Nga mà ông giao phó sứ mệnh cứu rỗi không chỉ dân tộc mà toàn nhân loại. Dos nhiều lần thăm thú các kinh thành châu Âu, lần cuối hơn bốn năm lang thang trốn nợ, sống ở phương Tây mà như chưa bao giờ rời khỏi nước Nga, không ngoại ngữ, không giao lưu, không hội nhập, không hiếm khi thua trắng ở các sòng bạc và chỉ sống bằng nước trà. Cảm tình ban đầu của ông với phương Tây chuyển dần thành ác cảm, rồi ác cảm trở thành nỗi ghê tởm để củng cố niềm tin về con đường riêng của nước Nga, luận thuyết về đặc cách Nga, một kiểu Russian Exceptionalism mà sau này các nhà lập thuyết của Chủ nghĩa Putin, từ Aleksandr Solzhenitsyn, Aleksandr Dugin đến Vladislav Surkov, sử dụng như một nền tảng nhận thức. Phương Tây trong quan niệm ngày càng bảo thủ của Dos là hiện thân của chủ nghĩa vật chất suy đồi hời hợt, của sùng bái tiến bộ mù quáng, của tự do vô luân và vô đạo. Nước Mỹ xa xôi mà ông không thực sự tiếp cận cũng trở thành đối tượng căm ghét, chưa kể thái độ bài Do Thái, bài Ba Lan và bài Thổ không giấu diếm – để bài Do Thái giáo, Cơ-đốc giáo và Hồi giáo, ba tôn giáo lớn mà ông phỉ nhổ vì kình địch với Chính thống giáo Nga.   
 
Đối tượng căm ghét tất yếu của ông cũng là Turgenev, người đồng nghiệp lẫy lừng có tất cả những gì Dos không sở hữu và hiện thân của tất cả những gì Dos dị ứng. Họ chia tay nhau không đội trời chung sau lần Dos, cháy túi như thường lệ, đến biệt thự của Turgenev ở Baden-Baden vay tiền đánh bạc và giận dữ vì chỉ mượn được một số tiền quá nhỏ. Chín năm sau ông mới trả khoản nợ ấy, nhưng trong Lũ người quỷ ám, tác phẩm lớn cuối cùng của mình, đã kịp dựng một chân dung Turgenev kệch cỡm qua nhân vật Karmazinov, một nhà văn ăn phải bả phương Tây nay đã hết thời, đạo đức giả và mù tịt về những biến động chính trị xã hội tại Nga. Song Turgenev vẫn rơi nước mắt ôm hôn kẻ thù của mình sau những lời đấu dịu đôi chút với phương Tây của Dos trong diễn văn khánh thành tượng đài Pushkin ở Moskva, bởi ngoài Pushkin, ông là "thiên tài mực thước" duy nhất của một nước Nga đầy những vụ tự thiêu và các thái cực hoang dã như nhận định của Dmitry Merezhkovsky. Vài tháng sau Dostoyevsky qua đời.
 
Tôi cũng đã say sưa đọc những tiểu thuyết đầy nhân vật lạ lùng, tình tiết gay cấn và giáo huấn mạnh mẽ của Dos đúng như lời Joseph Conrad, rằng ở chốn hội chợ văn chương, đám đông chỉ đổ xô đi xem một con chim sơn ca hai mỏ hay một gã quái thai khổng lồ, cổ chằng dây nịt ngựa, cười toe toét với khán giả. Chậm nhất, với Nabokov trong hành trang, tôi đã bỏ lại Dos trên sân ga. Song trong những ngày của cuộc chiến quỷ ám này, tôi lại buộc phải nghĩ về Dos và sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử từ Sa hoàng, Sô-viết, hậu Sô-viết, Putin hay hậu Putin, thời nào câu hỏi nước Nga đi về đâu dường như cũng và cũng sẽ nghiêng về câu trả lời của Dos. Rốt cuộc, một đồng nghiệp nổi tiếng khác của ông, Aleksandr Solzhenitsyn, sau hai mươi năm lưu vong ở phương Tây, cũng trở về để cảnh báo hiểm họa một nước Nga trên bờ vực thẳm nếu tiếp tục con đường thân phương Tây của Yeltsin, và – một lần nữa – đề xướng một viễn cảnh Toàn cõi Nga, Toàn cõi Slav, Đại Á-Âu, với nhà thờ Chính giáo và sứ mệnh cứu rỗi một nhân loại đã sa đọa bởi một phương Tây tham lam, tha hóa, dối trá, ẻo lả, phù phiếm, suy tàn. Cho đến khi qua đời năm 2008, nhà văn cựu ly khai trở thành vị minh sư mà viên cựu sĩ quan KGB Vladimir Putin một lòng ngưỡng mộ. Cuộc chiến ở Ukraine hôm nay theo đúng chương trình hành động mà tác giả của Quần đảo ngục tù đề nghị trong hàng loạt bài viết về việc tái thiết một đế chế Nga, ít nhất gồm Đại Nga, Tiểu Nga (Ukraine) và Bạch Nga (Belarus).
 
Ở cõi bên kia, Dos hẳn đẹp lòng. Càng ngày tôi càng thấm nỗi bi quan u buồn của Turgenev.
 
Berlin, 07/3/2022   
 

Tôi đạp xe về nhà với cõi lòng lâng lâng. Chẳng biết từ lúc nào tôi đã thương mến thầm anh Phượng hàng xóm, anh hơn tôi chừng 7, 8 tuổi, hát hay đàn giỏi, thỉnh thoảng buổi tối anh ngồi trước cửa nhà đàn hát, tiếng hát ngọt ngào của anh đã rót vào trái tim 16 tuổi trăng tròn của tôi những tình cảm bâng khuâng. Anh đi lính, xóm vắng anh, vắng cả những đêm khuya tiếng hát tiếng đàn...
Ở vùng quê người ta vẫn dùng một vài thứ lá như lá vối, lá "ngấy" (không phải lá ngái), lá bò bò, dây lá nhãn lồng (có nơi gọi lá mắm nêm) kiếm từ rừng rẫy về xắt ra, phơi khô trữ từng bao để nấu uống dần thay lá chè (trà). Nước các thứ lá ấy ai cũng dùng được, cả nhà sẽ uống suốt ngày...
Tuổi học trò là tuổi mang nhiều kỷ niệm khôn nguôi. Chúng ta nghĩ về thuở xa xưa đó như nghĩ về sân đá banh, suối Đốc Học, suối Mu-ri (Maury), thác Nhà Đèn, hồ Piscine, hồ Trung Tâm hay cột đèn ba ngọn, kể cả con chim, con dế, một thứ keo dính chặt trong trí nhớ học trò...
Thơ của ba người: Quảng Tánh Trần Cầm, Nguyễn Hàn Chung, Vĩnh Ngộ...
Trực thăng vừa đáp, cánh quạt thổi cát bụi tung mịt trời, cỏ tranh bên dưới ngã rạp, thân dập dềnh như sóng. Thăng nhảy xuống trước tiên, đảo mắt quan sát chung quanh rồi quay người lại giơ tay cho Chinh bám lấy để bước xuống. Cũng chiếc máy truyền tin cũ đeo sau lưng, nhưng hôm nay có vẻ nặng hơn vì gương mặt Chinh đanh lại chứ không nhìn Thăng cười và khẽ gật đầu như những lần đổ bộ trực thăng trước. Chinh mang máy cho Thăng đã ba năm, đeo hạ sĩ gần một năm. Thầy trò đã kề cận, cùng vào sinh ra tử không biết bao nhiêu lần, chưa bao giờ Chinh biểu lộ sợ hãi kể cả những lúc nguy khốn nhất, bị địch vây hãm phải mở đường máu để triệt thoái...
Chiều hôm ấy, một buổi chiều cuối mùa Hè năm 1956, trước cổng trường Võ Tánh Nha Trang, Trọng nhìn theo mái tóc dài thả sau hai bờ vai và tà áo dài trắng, và gọi lớn tên nàng nhưng Thu Nguyệt vẫn lặng lẽ tiếp tục đạp xe đạp, không đáp lại lời kêu gọi của Trọng, ngay cả ngoái đầu nhìn lại nhau lần cuối...
Sau khi đưa được gia quyến sang Tàu, Trần Ích Tắc đã được Nguyên chủ Hốt Tất Liệt cấp một dinh thự tại Ngạc Châu để ở. Nguyên chủ cũng ban cho ông nhiều bổng lộc nên gia đình ông vẫn có một cuộc sống sung túc...
Chị Bông gởi tâm sự cho chị Ngân Bình phụ trách mục “Tình Chàng Ý Thiếp” của một tuần báo. Chị than thở chuyện tình cảm hai vợ chồng già nhà chị lúc nào cũng xung khắc cãi nhau. Ông ấy lát gạch vườn sau chỗ cao chỗ thấp làm chị Bông vấp ngã mấy lần đã không biết điều xin lỗi còn mắng vợ xớn xác. Chị Bông tiết kiệm ngân quỹ gia đình, ở nhà chuyên mặc đồ thừa của con gái thì ông ấy nói quần áo ngắn cũn cỡn, váy màu mè xanh đỏ như bà đồng bóng...
Hình như có cái gì đó cần phải suy nghĩ cho trọn vẹn kỹ càng? Tôi dừng lại. Bắt gặp ánh mắt của tôi, người đàn bà tấp xe vào lề, mời mua vé số. Tôi lục tìm tất cả những đồng bạc lẻ. Xác suất rất nhỏ cho hạnh phúc rất lớn, thậm chí có thể đổi đời. Xác suất rất lớn cho nỗi thất vọng rất nhỏ – nhỏ đến độ thường bị lãng quên đâu đó ở ngăn ngoài chiếc ví, trong túi áo quần…
Con gái của tôi, làm Registered Nurse trong một bệnh viện. Bữa đó, nó bước vào phòng thăm một bệnh nhân nam, cỡ tuổi gần 70, đang truyền đạm truyền nước vì gặp vấn đề tiêu hoá, đúng lúc bác ấy đang facetime nói chuyện với người ở nhà bằng Tiếng Việt. Nó sinh ra ở Canada, nhưng có khiếu Tiếng Việt, nghe và nói khá rành rẽ, chỉ có đọc và viết thì nó không biết...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.