Hôm nay,  

Triền dốc hoàng hôn

19/07/202217:48:00(Xem: 4160)

Tùy bút

DAONHU

Đi giữa đường chiều dọc theo khu rừng cấm Stow, Ohio. Bóng chiều vừa xuống ánh sáng hoàng hôn dâng cao trên đỉnh những ngọn cây. Chiều nay, chiều cuối tháng Bảy, mùa Hạ rồi sẽ qua. Bóng dáng quê nhà cùng nắng nóng cũng khuất dần theo tháng Bảy. Đứng trước trời chiều chạng vạng, ông đưa cây gậy lên cao trên nền trời xám, như muốn chạm những tia sáng hoàng hôn còn sót lại và níu kéo ngày dài thêm ra. Ông ngồi nghỉ trên ghế đá chợt nhìn thấy bóng mình đổ dài theo triền dốc bên vệ đường. Lòng ngẩn ngơ. Trời chiều đi dần vào chạng vạng. Ông nhớ câu thơ của cụ Phan Khôi: “Nắng chiều tuy chạng vạng, nhưng nắng được thì cứ nắng”. Bạn bè của ông lần lượt ra đi, chỉ còn lại một ít người như ông đang sống trong tuổi chạng vạng của những buổi hoàng hôn cuối cùng của đời.

 

Đã hơn 45 năm, ông sống luu vong, kể từ ngày ly loạn, biết bao nước chảy qua cầu, biển xanh biến thành nương dâu, đổi dời dị biệt, “một triệu người vui cũng có một triệu người buồn”. Thuở ấy!

 

Trong số bạn bè xưa: Có người đã hy sinh vì lý tưởng yêu nước, yêu tự do, dân chủ, độc lập, họ đã bỏ mình dọc đường kháng chiến giải phóng quê hương. Có người vùi thây dưới đáy biển Đông trên đường vượt biên tìm đất sống, tìm tự do, dân chủ, công bằng xã hội.

 

Những người còn sống: Có kẻ đã bỏ cuộc chơi về ở ẩn, thiền định, quyết tâm tìm ra câu trả lời về những hành động yêu nước của mình trước kia và những gì mình thấy trong thế giới Khoa Học Công Nghệ 4.0 hôm nay. Có người vẫn còn gắn bó với đời, cố đi về phía trước bên cạnh cuộc đời bình thường vất vã. Có người vẫn còn mạnh dạn tin vào lý tưởng tất thắng, mặc dầu thế giới đã đổi thay, cái kén năm xưa, giờ nó là con bướm bay nhởn nhơ trong thế giới của chủ nghĩa Toàn Cầu Hóa…

 

“Chuyên Chính Vô Sản

Kinh tế khu vực

Ngăn sông- Cấm chợ”

 

đã bị nhân loại đẩy lùi vào bóng tối của lịch sử.

 

Con người tự do,

Mậu dịch tự do,

Thị trưòng Tự do”

 

đã là lý tưởng để xây dựng kinh tế phồn vinh và  hòa bình bền vững  cho nhân loại. Có người như ông vừa bước qua tuổi 86, đang sống lầm lũi ở xứ người, trong thân phận lưu vong cố tìm ra, đâu là bạo lực, đâu là tự do. Ông cố tìm ra đâu là lý tưởng cho cuộc sống của ông và bạn bè trong quá khứ,

 

Kể cả kẻ đã chết ven rừng, dọc Trường Sơn, trường kỳ kháng chiến.

 

Kẻ vùi thây dưới đáy biển Đông vượt biên tìm đất sống.

 

Kẻ còn sống vất vả vì tai biến của tuổi già. Cuộc đời còn lại chỉ là chiếc xe lăn.

 

Để rồi chiều nay một mình đi bộ trên triền dốc hoàng hôn, nhìn giọt nước mắt trên lưng bàn tay chưa kịp vuốt. Rồi đêm về, đứng trên sân thượng nhìn bầu trời đầy sao lấp lánh, một khoảng trống mênh mông vô hạn. Để rồi mất ngủ triền miên, và đêm nay sẽ là đêm dài vô tận...

 

Đào Như

(Ohio, vào môt chiều cuối Hạ, 2022)

 

Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.