Hôm nay,  

Chùm thơ Lê Hưng Tiến

28/11/202220:08:00(Xem: 4217)
Crazy
Tranh Đinh Trường Chinh.



Chiếc bình thủy tinh đựng nhiều gió

(Quý tặng nhạc sĩ Trương Quang Minh Đức)

 

Thinh không động hưởng

Những giấc mơ đi cày ánh sáng

Chiếc bình thủy tinh đựng nhiều gió

Trong khoảng lặng đã vỡ

 

Ở nhiều con đường mới

Là những vết xiên sẹo thời gian

Đôi khi mặt trời mở

Là những lần đẫm mình trong kho sách

 

Nếu ước mơ có bay lên được

Thì con thuyền phải đựng nhiều gió

Nếu dòng sông không phẳng

Thì núi lại càng duỗi thẳng chân mây

 

Ai cũng đến gần mình hơn

Những con chữ đôi lúc cũng đánh mất phận mình

Làm giấc mơ đi cày ánh sáng

Trong chiếc bình thủy tinh đựng nhiều gió

 

*

 

Tôi chưa bao giờ bật khóc như thể

(Đau thương vì người con gái ra đi từ chuyến xe qua)

                       

Tôi luôn gọi sáng tạo thức dậy

Bình mình không có lý gì ửng nắng

Nhiều bài thơ ra đời khoảnh khắc ấy

Gội sạch từng cái tên làm vỡ mùa nghi thức

 

Tôi hiến dâng mình cho mỗi cái tên THƠ định danh

Sống hay chết đều trở về lòng đất

Thơ cũng vậy. Cũng có mộ phần của riêng nó

Và tôi đã khóc cho nhiều bài thơ như thể

 

Tôi luôn yêu những cái nhạy cảm

Vì tạo hóa đã cho mình cái của ngã thể

Nhưng tôi cũng khóc nhiều cái nhạy cảm ấy

Bởi đất trời là con Tạo quanh quẩn vòng thử thách chưa qua

 

Như buổi sáng nay

Tôi đã bật khóc như thể

Như thể chưa từng ra đời mỗi bình minh

Mỗi bình minh là mỗi bài thơ khác

 

Mỗi bài thơ khác là sự tồn tại cái khác

Nhưng cái khác có thể sẽ chết đi

Và có thể tồn tại trong thế giới khác

Thế giới khác cũng mất đi một phần con người

 

Như buổi sáng nay

Một cô gái không biết tung tích

Như bài thơ không biết tên mình

Đã từ cõi sống trong một chuyến xe qua

 

Một cô gái bỏ lại thế giới này

Một bài thơ bỏ lại thế giới khác

Cả hai đều bỏ lại sự khác biệt tồn tại

Như bỏ quên nghi thức để mùa chuyển kiếp đau thương

 

*

 

Cánh mỏng chao nghiêng

                     

Nắng đung đưa nụ cười

Em ngây ngô những bước cỏ mềm

Đẫm ướt vạt sương làm cánh mỏng chao nghiêng tóc xõa

 

Phố vừa lên xanh

Sân trường lụa là không khí

Tiếng thở làm gót hồng kéo mặt trời xuống thấp

 

Những đôi mắt rỗng

Va đập mùa đậu biếc

Gọi thinh không chạm hờ nhau vọng tưởng

 

Nhịp nhịp bước bước

Những suy tư chưa đến lúc mơ hồ vỗ về

Chỉ nghe lòng đất thầm thì ai đáu

 

Dẫu khoảnh khắc chưa lên ngôi

Em vẫn ngây ngô những bước cỏ mềm

Đẫm ướt vạt sương làm cánh mỏng chao nghiêng tóc xõa

 

– Lê Hưng Tiến

Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.