Hôm nay,  

Hình hài hư hao

03/12/202213:18:00(Xem: 4922)



Cổng chính chùa KL 1
Cổng chính Chùa Khánh Lâm.

 

Nhân chuyến về thăm ba má bệnh, tôi ghé thăm ngôi chùa xưa ở chốn làng quê ngày trước. Dân quanh vùng xưa nay quen gọi tên thông dụng là Bàu Lương, chẳng có mấy ai gọi tên chữ Khánh Lâm.

Chùa được tổ Toàn Tín khai sơn vào năm Tân Sửu đời Cảnh Hưng 1781, năm 1941 được vua Bảo Đại sắc tứ và đến 1952 thì Pháp dội bom phá hủy hoàn toàn. Năm 1955 hòa thượng Tấm Ấn từ tổ đình Hưng Khánh đứng ra tái thiết lại.

 

Kể từ đó tồn tại cho đến năm 2001 với dáng vóc cổ tự rất đẹp và hài hòa giữa chốn đồng quê. Chùa gồm chánh điện, hai dải đông và tây lang, phía sau là nhà trù, sân cát (giếng trời) ở giữa có trồng cây ngọc lan thơm ngát. Chùa lợp mái ngói âm dương, đầu những máng xối gắn những con cá hoa long, mỗi khi trời mưa nước từ miệng các con cá tuôn ra xối xả trắng cả những giấc mơ. Trước chùa là một cánh đồng xanh ngắt, những bầy cò trắng chao lượn làm cho cảnh vật đẹp đến nao lòng và thanh bình không sao tả nổi. Năm 2001 thì chùa bị phá để xây mới, với vốn tiền ít ỏi nên thiết kế và chất lượng công trình thật tệ, vừa xấu vừa kém chất lượng. Tất cả những hình ảnh cũ của chùa bị phá bỏ, điều này làm đau lòng rất nhiều những Phật tử gần xa quanh vùng.

 

Tôi đến viếng chùa vào một buổi chiều của tháng mười, nhìn vườn chùa hoang phế cỏ dại mọc cao đến bụng, chùa mới xây lại đã xuống cấp trầm trọng, nước dột hoen ố tứ tung, nhện giăng mắc khắp nơi, bụi bặm rác rưới tùm lum. Bàn thờ Phật cũng bụi bặm trông buồn làm sao! Mấy năm nay vị thầy đương trụ trì khắc khẩu và xung đột với các Phật tử quanh vùng làm cho số người đến chùa càng ngày càng ít đi.

Tháp tổ dòng Lâm Tế đời 40 1
Tháp Tổ dòng Lâm Tế đời thứ 40.

 

Tôi vào lễ Phật mà lòng thấy ngậm ngùi thê thiết. Tôi vạch cỏ đi dạo vườn chùa thấy còn hai cổ tháp của tổ đời thứ 40 và 41, có lẽ hai cổ tháp này là những di vật còn nguyên vẹn chưa bị tàn phá bởi bàn tay con người, duy dấu ấn thời gian thì không thể nào khác được, rêu phong phủ kín, cỏ dại ngập đầu. Chùi sơ tấm bia ở một cố tháp tôi còn đọc được dòng chữ: “Lâm Tế tứ thập nhất thế sắc tứ Khánh Lâm trụ trì Thiện Nguyên xà lê bảo tháp” (thật sự thì có sự trợ giúp của bạn bè chứ vốn chữ Hán của tôi chỉ còn đọc được lõm bõm: “Lâm Tế tứ thập nhất thế”). Tôi ngẩn ngơ trước bảo tháp của các tổ, lòng bùi ngùi tưởng nhớ dĩ vãng xa xưa, nhìn cảnh vật và con người hiện tại thì thấy buồn vô hạn. Lững thững nhổ cỏ dại và bẻ bỏ những cây dại mọc các kẽ quanh tháp. Tháp đối diện bên kia thì bia ghi: Lâm tế tứ thập thế… Hai ngôi bảo tháp nằm hai bên chánh điện với những trụ biểu đắp nổi búp sen, lân; Bình phong thì đắp nổi rùa chở cuốn thư… Vòng ra ngoài cổng mới mở, tôi đi xem cổng chính bị khóa đã lâu, dây thép ràng kỹ đã hoen rỉ. Ngày xưa trước mặt chùa là cánh đồng xanh ngắt, giờ bị những đại gia hãng đá granite xây xưởng lấn sát cổng chùa. Con đường mòn trước chùa hầm hố ao tù nước đọng và rác rưới dơ dáy. Cả chánh điện và cổng chùa bí bách đối diện với bức tường cao nghễu nghện của xưởng đá granite. Chùa xưa đã mất hình hài, mất cả khung cảnh thiên nhiên thuở ban đầu, dẫu biết thế gian vô thường, sự thay đổi biến dịch trong từng phút giây, nhưng ở đây sự can thiệp thô bạo của con người đã phá hủy những hình bóng thân thương của một thời.

Cổ tháp chùa KL 1
Cổ tháp.

 

Bảng hiệu Khánh Lâm tự còn nguyên trên cổng chính nhưng giờ chỉ có lưng nhà máy đá Granite nhìn, con đường mòn trước chùa giờ cũng quạnh quẽ hoang vu, chẳng còn ai đi qua lối cũ. Hình hài ngôi chùa sắc tứ xưa giờ đã biến mất, chỉ còn hai ngôi tháp cổ may mắn chưa bị xâm hại nhưng không biết trong thời gian tới liệu có còn nguyên vẹn. Xứ mình giờ hai chữ trùng tu hay tu bổ là đồng nghĩa với làm mới di tích, một sự phá hoại đầy vô minh mà cứ ngỡ mình đang giữ gìn bản sắc. Có rất nhiều di tích cổ, tượng cổ sau khi trùng tu khiến người ta cứ liên tưởng đến những cô gái đi sửa nhan sắc.

 

Chùa xưa đã mất hình hài, chuyện xưa đã trở thành dĩ vãng, hồn xưa giờ trôi dạt phương nào?

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Đồ Bàn thành, 10/22)

 

Trong thế hệ ca nhạc sĩ trẻ của nền âm nhạc Sài Gòn trước 1975, cặp uyên ương Lê Uyên - Phương có một chỗ đứng đặc biệt, độc nhất. Sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ Phương kéo dài từ đầu thập niên 1970s ở Miền Nam sang đến tận Hoa Kỳ sau 1975, cho đến khi ông mất vào năm 1999. Nhiều ca khúc Lê Uyên Phương cho đến nay vẫn chưa được chính thức phổ biến, phát hành. Để tưởng nhớ 25 năm ngày mất của người nhạc sĩ tài hoa, ca sĩ Lê Uyên sẽ tổ chức đêm nhạc chủ đề “Lê Uyên Phương 25 Năm Cuộc Đời– Tình Yêu – Âm Nhạc” tại Saigon Grand Center thành phố Fountain Valley vào ngày 7 tháng 12 2024.
Cộng đồng người Việt tị nạn ở Mỹ và trên toàn thế giới đang tiến tới một cột mốc quan trọng: 50 năm ly hương kể từ sau biến cố Tháng Tư Đen 1975. Nhiều tác phẩm trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật được thực hiện có liên quan đến sự kiện này. Tại đại hội điện ảnh Viet Film Fest 2024 vừa được tổ chức vào đầu tháng 10, bộ phim đoạt giải Trống Đồng dành cho phim dài xuất sắc nhất là New Wave của nữ đạo diễn Elizabeth Ai. Bộ phim tài liệu này ghi nhận lại một hiện tượng âm nhạc quan trọng của thế hệ người Việt trong thập niên 1980s: dòng nhạc new wave. Thế nhưng bộ phim không chỉ dừng lại ở khía cạnh âm nhạc, mà đào sâu hơn vào mâu thuẫn trong những gia đình Việt Nam trong những ngày đầu định cư ở Mỹ.
Thời gian là thứ được người ta ví như vó câu, vụt một cái là biến mất, chẳng bao giờ trở lại, có muốn níu cũng vô ích. Họa sĩ Phan Nguyên không dại chi mà níu, anh ghi lại rồi mặc cho nó sổng ra chạy đi. Tôi muốn nói tới anh, một người đã âm thầm lưu giữ những mảnh vụn thời gian của giới văn học nghệ thuật bằng cách ghi lại trong “Mượn Dấu Thời Gian”, tên tiếng Pháp là “Emprunt Empreinte”. Anh tâm tình: “Là một “sân chơi” rất riêng của Phan Nguyên từ khá lâu với giới văn nghệ sĩ, thân hữu gần xa, trong và ngoài nước, không phân biệt tuổi tác, sắc tộc, tôn giáo, chính kiến gì cả, miễn là họ đã có những tác phẩm hay, đẹp để lại cho đời và cho thế hệ mai sau, miễn là họ đã đóng góp cái phần tinh túy nhất của con người, của chính mình cho văn học nghệ thuật Việt Nam hay thế giới nói chung”.
Để ta cùng vượt thời gian, không gian. Một trăm năm nữa, nếu có cơ duyên hội ngộ, vẫn chuyện trò tự nhiên, vui vẻ, như từng gặp gỡ tự bao giờ. Vui vẻ, vì cả đời chỉ thích viết văn, làm thơ. Viết văn, trừ trường hợp bất khả kháng, tôi vẫn cố gắng viết vui, cho bạn đọc đỡ nản. Nay tự nhiên lâm cảnh ngặt nghèo, phải đem chuyện vật lý, khoa học, Vũ trụ càn khôn, vừa nhàm chán vừa khó hiểu, ra trình làng… nên càng phải cố viết vui, viết giễu. Để may ra vớt vát được phần nào.
Trong lãnh vực sáng tác từ ngôn ngữ cho đến tác phẩm trực quan, các chuyên gia và các tác giả đang quan tâm đến khả năng sáng tạo của AI, sự hiện diện và tác dụng của trí thông minh nhân tạo sẽ làm thay đổi quan niệm và phương pháp, kỹ thuật và nghệ thuật truyền thống. Các chuyên gia về máy học dự đoán rằng AI sẽ "viết" một cuốn sách bán chạy nhất của tờ New York Times vào năm 2049 (Grace và cộng sự, 2018; Hall, 2018). Lãnh vực sáng tạo tính toán đã được xác định là biên giới tiếp theo trong nghiên cứu AI (Colton & Wiggins, 2012) và có ý nghĩa hấp dẫn đối với ngành công nghiệp văn học. Các thuật toán có khả năng tạo ra ngôn ngữ tự nhiên (Gatt & Krahmer, 2018) Các nghiên cứu về sáng tạo tính toán tập trung vào việc xác định các yếu tố cốt lõi của các hình thức sáng tạo (như văn học, nghệ thuật thị giác và âm nhạc) theo góc nhìn thuật toán, với mục đích sao chép hoặc kích thích sự sáng tạo của con người (Turner, 2014; Besold và cộng sự, 2015; Veale và cộng sự, 2019).
1)Tưởng niệm MC Phạm Phú Nam 2)Nhớ về cuộc di cư 1954. 3)Chiếu Phim Sài gòn trước 75 4)Chào đón minh tinh Kiều Chinh đến San Jose. Chiều ngày thứ bẩy 27 tháng 7 năm 2024 vừa qua chúng tôi đã có dịp nhân danh Viet Museum kịp thời trả những món nợ cho lịch sử. Số là anh chị em chúng tôi vẫn còn nhớ về chuyến di cư 1 triệu người từ Bắc vào Nam 70 năm xưa.
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.