Hôm nay,  

Trang Thơ Tháng Chạp

12/17/202209:39:00(View: 4102)

NGUYỄN HÀN CHUNG


về quê

ngày lạc xứ

lúc đã ném vào sương gì ngại nỗi mù
cơn xoắn vật con ngươi không ngưng nghỉ
ngày khánh tận rồi sao còn níu kéo
cuộc mơ hồ phảng phất mái tranh quê

 

em thoáng bóng thở ra hình lịm tắt
phía mây xa gấp gáp chảy qua mưa
anh ngọng nghịu trâu cỗi cằn nhớ cỏ
cỏ xanh um mà chẳng nhấm cho vừa

 

buồn trơ trất cho ngưòi lau áo tuyết
xác xơ rơi từng sợi mỏng manh mơ
còn mấy nỗi mà tái tê riết róng
đào thoát đâu cũng chạm những ngai thờ

 

niềm quan ải mù mưa không biệt lệ
chân bước mau mắt rớt rụng chân cầu
ừ đã thế thì thôi thì cứ thế
miễn là còn chắp nhặt nhớ thưong nhau

 

lúc đã ném trống không về dĩ vãng
là trái tim thất lạc chẳng ra gì
bị huyễn hoặc bởi con hồng con nhạn
lá vàng rơi chưa hẳn đã vàng thu

 

 

cuối đông

 

rêu nhập ùa cơn mưa vào xuân rậm rịch
tóc vàng mắt xanh biết ai ngưòi riêng rớt tha hương
bọt sóng Thu Bồn bây giờ mới là huyền hư cõi thực
âm hồn giống như em quá hà
không tán không tan

 

bèo cứ giạt cứ phì phò xúc tuyết
ngụp sao đang
lạnh cóng rẻ xương rồi
vị quan đá ngày xưa có nhạo mình cũng đai râu mão giáp
con chó cưng xứ người liếm láp nỗi buồn đôi

 

di dân ạ uống đến quành quạnh tiếng
bèo nơi đâu bấu chặt cũng hên là
cuống rau muống mọc mầm quên rổ rá
cũng bày trò mướt mượt đến xanh da

 

thèm một chút hiếm hoi cù lần chơi vơi véo ngắt
em ỉm im thấm tháp nụ hôn đầu
phút hiện đại có ngưòi trải đời hôn bị sặc
sợ quýnh ngày chẳng kịp  nữa mòn  hơi

 

biết còn mai mang rêu rớt quay về
ực một tiếng ngực Thu Bồn âm ấm

 

Xứ xang

 

Tháng tận tôi về thăm mộ chí

Môi nhớ mùi thơm hương ổi ta

Con chim lẻ bóng trên cành khế

Nhìn tóc người xưa bỗng hót oà

 

Mẹ ra trước cửa đêm thường mộng

Em hắt hiu chiều thấp thoáng am

Tiếng kinh cứu khổ chừng lay động

Tiếng kệ u trầm nhói cuống tim

 

Ao cũ vườn xưa con chó lác

Giếng rêu nhà bếp vẫn điêu tàn

Thắp hương chú út buồn không khóc

Người về phương viễn nhẹ nhàng hơn

 

Mười mấy giờ thôi cờ đã khác

Hôm qua nghe chưởi bữa nay mời

Anh em nhà nẫu nhìn khang khác

Không tự nhiên như buổi thiếu thời

 

Người vẫn sa đà trong tiệc rượu

Học đòi quan cách tụng pho kinh

Người ở phương về như thiếu ốm

Thấy học trò xưa giật cái mình

 

Còn mấy lần thăm quê xứ nữa

Thương bao nhiêu nữa cũng quay đầu

Tưởng gặp quê rồi thôi nước mắt

Nào ngờ nước mắt lại càng sâu

 

– Nguyễn Hàn Chung

 

*

 

LÊ HƯNG TIẾN

the-gray-forest-1927.jpg!PinterestLarge
Tranh Max Ernst.

 

 

Ngã ba tự thức

 

Ta không hiểu được dòng sông

Bao thế kỷ đã thành bao nhiêu lưu vực

Những nhạc sĩ không hay biết mình chết trên không phận mình

Thế giới cũng chẳng hề biết tên tuổi nào hóa vùng đất mới

Nhưng mặt trời vẫn khóc nhiều cơn mưa đẫm mồ tác phẩm

 

Ta không hiểu được mặt trời

Những con chữ lò cò đói nắng đói mưa

Cánh đồng hoang hóa bao vụ mùa núi tưởng

Khi đòng đỏng ướt trang giấy trắng

Những nhà văn tự giết mình trong đáy thẳm

Sệch soạt sệch soạt phận đời

Sệch soạt sệch soạt phận thời

Cũng không nghĩ đến mặt trời mọc hướng Đông

 

Ta không hiểu được chính ta

Khi tôn giáo là tất cả

Khi bản ngã là ta bà

Khi tha ma là nhục dục

Khi nước đục là nước trong

Khi ước mong là không ước muốn

 

Ta không hiểu được dòng sông

Ta không hiểu được mặt trời

Ta không hiểu được chính ta

 

Ta không hiểu được dòng sông

Ta không hiểu được mặt trời

Ta không hiểu được chính ta

 

Ta không hiểu được dòng sông

Ta không hiểu được mặt trời

Ta không hiểu được chính ta

 

 

Căn trọ nhỏ với cây đàn piano cũ

 

Tôi hái cô đơn trên từng ngón phím piano tơ ngẫu

Âm thanh vỡ vụn rơi từng khối đá trắng dã

Những ngọn nắng săm soi vào khu cấm vận không gian

Những nốt nhạc cũng săm soi vào khu bảo tồn trí tưởng

Ánh sáng bắt đầu thủng thỉnh trong căn trọ cất giấu nhiều đáy hồn tận

 

Khi mười đầu ngón phím piano chảy máu

Mặt trời rụng từng trái tim đau

Thời đại mới bắt đầu săm soi vào vùng kín của nhiều thế kỷ trước

Chất vấn những vết sẹo trinh nguyên

Chất vấn bản thể và tính thể

Chất vấn tâm linh

Chất vấn dòng Magma xáo trộn lẫn lộn nhiều không gian thế kỷ

Chất vấn những tên tuổi dám đánh đổi thời đại mới này

Vivaldi, Bach, Mozart, Beethoven, Tchaikovky, Wagner, Haydn, Brahms, Schubert, Schumann, Glinka,...

 

Căn trọ nhỏ với nhiều cái tên bí mật vỡ vọng

Những ngón phím piano đan luồng ánh sáng

Thêu thùa cô đơn

Thêu thùa tội thấu cảm

Thêu thùa những ngõ ngách thời đại mang váy vó phố phó xẩm mặt

Thêu thùa những ý tưởng nhảy lò cò trong khu bảo tàng tiếng nói

Thêu thùa những cái tên cái tuổi làm mắt ướt khao mùa

 

 

Tiếng nói từ lỗ thủng

 

Những ngày không ngủ được

Tôi sợ trái tim đất vỡ hoang

Ly cà phê không biết thở

Rượu bia đổ không vào bể

 

Những tuyến đường không phố

Bạn bè lạc lỏng trong địa hạt chữ nghĩa

Tiếng nói rỗng từ rỗng ngữ

Vắt vẻo phần tinh khiết của cô đơn

 

Khi bài thơ mở giọng

Tôi sợ trái tim đất vỡ hoang

 

Khi bài thơ mở giọng

Những bạn bè không biết tiếng nói từ lỗ thủng

Vá víu từng tháng ngày vụn vỡ

 

Khi bài thơ mở giọng

Những con chữ bắt đầu cô đơn

 

Khi bài thơ mở giọng

Ngọn lửa tắt mùa sáng

Những ngày thức không tồn tại

Tôi sợ trái tim đất vỡ hoang

 

 

Áp lực từ những cánh hoa rơi

 

Những ngọn núi không số

Khối lượng công việc chất chồng trên đỉnh đồi

Hai bầu sữa đổ vào lũng con gái không xanh

Cánh đồng lúa trẩy hạt hạt hạt

Nước mắt cũng chảy hạt hạt hạt tươi vui vụ mùa

 

Bay bay bay

Không gian chật chội ký ức

Ngôi nhà thiếu tiếng đùa giỡn của những con chữ

Tôi hái tay mình trên hàng cây long não

Khối việc chất chồng ánh sang

 

Hây da... hây da... hây da...

Tiếng gọi của những con chữ đòi phóng sinh

Đòi tôi bỏ khối núi tưởng

Điểm vào những cánh hoa rơi không số

Hoa hồng, hoa bằng lăng tím, hoa bò cạp vàng và đo đỏ đường cong môi mắt

 

Bóc tách không số cái đẹp

Hãy phóng sinh những cánh hoa rơi

Hãy phóng sinh những con chữ chưa sống qua mùa ý tưởng

Hãy phóng sinh khối việc chất chồng trên lũng con gái không xanh

Và hãy phóng sinh tôi

 

– Lê Hưng Tiến

 

*

 

TRỊNH Y THƯ

 

Kandinsky_d
Tranh Kandinsky.

 

Những nghịch âm tháng chạp

 

 

1.

 

Sự thật là đàn cá voi chết cạn

     bên bờ đại dương bao la

     nhưng có hề chi đâu

     bởi cùng muôn triệu điều

     không hiểu khác

     tôi đánh mất tinh cầu.

 

Đôi mắt sâu đêm kéo tôi vào bóng tối

     hàng cây ngây tạnh chẳng thể tỏ khúc nôi

     rồi tôi khờ dại đánh đổi linh hồn

     để lấy một câu ước nguyện

     làm thân bến lạ

     tôi chong đèn chờ đêm qua đi.

 

 

2.

 

Nơi trú ẩn đó có bóng đêm che phủ

     cho tôi lắng nghe điệu hát phù trầm

     nhưng sự vắng mặt kéo dài thao thiết

     phía bên kia màn đen tôi không rõ là gì.

 

 

3.

 

Trận mưa đêm day dứt đêm mất ngủ

     tiếng gõ lên mặt kính thoi thót hồi kinh

     trong bóng tối sao góc bàn này hoang vắng lạ

     và tôi hình dung những giọt nước lăn tròn

     chảy xuống con phố nhỏ thâm đen.

 

Tôi tự hỏi rồi mai người có đến

     đất trời vô lượng bóng tối khôn cùng

     tiếng côn trùng nỉ non bên bờ cát

     cùng tiếng gió thảng thốt âm âm.

 

 

4.

 

Thanh âm tháng Chạp

     tôi quên mất từ lâu

     chỉ còn tràng cười nhiếu nháo

     như trêu chọc những âm hồn lưu cư.

 

 

5.

 

Những người đàn bà khỏa thân mặt nạ hóa trang

     bước ra từ bóng tối

     tôi bỗng thất vọng

     khi nhận ra em đứng ở hàng đầu.

 

 

6.

 

Chẳng hiểu sao tôi vẫn tìm về chốn đó

     có gì đâu ngoài những mái nhà nâu cũ

     và một mớ ký ức ngổn ngang.

 

Con đường lở lói thảm thương

     như muốn phân trần trong ngày tang chế

     điểm hẹn ở đâu khi mưa đổ ngập quan tài.

 

Tôi vẫn làm những chuyến hành hương bí mật

     kiếm tìm những gì định mệnh khước từ tôi

     trong muôn một tôi thấy một đốm lửa

     từ xa trông như ánh mắt ngọn hải đăng mù.

 

Sự thật là tôi đã kiệt sức

     và chỉ dám tiêu pha thật dè sẻn

     những gì còn lại của cái gọi là tình yêu.

 

Một ngày cửa đóng linh hồn u hiển

      nghịch âm tháng Chạp

      trôi về những bản nháp thời gian

      khi tôi không biết làm gì với chính tôi.

 

– Trịnh Y Thư

 

 

Tôi có một số kỷ niệm với Miền Đông Hoa Kỳ. Nhớ những ngày cùng theo nhà thơ Giang Hữu Tuyên ôm báo dưới mưa tuyết lất phất. Nhớ những buổi chiều ngồi tới khuya ở nhà anh Ngô Vương Toại, một nhà báo nổi tiếng từ thơi sinh viên ở Sài Gòn vì bị bắn trên một sân khấu nhạc ngoài trời và cuối đời trở thành một nhà truyền thông nổi tiếng trên đài Á Châu Tự Do RFA. Tôi nhớ giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người cực kỳ uyên bác với vốn học và nghiên cứu, và cũng là người cực kỳ thơ mộng với các phân tích về thơ Việt Nam và quốc tế. Và nhớ tới họa sĩ Đinh Cường, người khi vừa mới tới định cư ở Hoa Kỳ là đã có những cuộc triển lãm sôi nổi.
Biết cụ từ lâu, nhưng chúng tôi không được vào lớp học của cụ, tuy vậy có nhiều lần thầy Nguyễn Đăng Thục, mời cụ thỉnh giảng ở đại học văn khoa Saïgon, chúng tôi đã được nghe những lời giảng giải, , những lời vàng ngọc của cụ, hôm đấy cụ nói về vấn đề “dinh tê”, là chỉ dậy cho thanh niên sinh viên tại sao lại có vấn đề dinh tê, là việc đi kháng chiến, rồi lại đổi ý về thành phố… đã lâu rồi, tôi vẫn nhớ lơ mơ là thầy giảng cặn kẽ từ đầu, từ ngôn từ… dinh là đi, là đi về (như trong câu: anh đưa nàng về dinh, vậy đó, vậy đó, phải đúng không, anh Nguyễn Viết Sơn?) còn tê là nhại theo chữ tây thời Pháp thuộc, ý nghĩa của chữ rentrée! Nếu tôi nhớ lơ mơ thì xin một chữ đại xá! Tại vì lâu quá lâu rồi.
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.