Hôm nay,  

Rượu, Tuyết, và Hoa

29/01/202315:10:00(Xem: 4757)

Truyện

ao-dai 

Người đàn bà khuyết tật bán vé số, chạy chầm chậm chiếc Chaly được gắn thêm hai bánh xe nhỏ phía sau để được an toàn. Đầu đội nón bảo hiểm để được an toàn.

 

Hình như có cái gì đó cần phải suy nghĩ cho trọn vẹn kỹ càng? Tôi dừng lại. Bắt gặp ánh mắt của tôi, người đàn bà tấp xe vào lề, mời mua vé số. Tôi lục tìm tất cả những đồng bạc lẻ. Xác suất rất nhỏ cho hạnh phúc rất lớn, thậm chí có thể đổi đời. Xác suất rất lớn cho nỗi thất vọng rất nhỏ – nhỏ đến độ thường bị lãng quên đâu đó ở ngăn ngoài chiếc ví, trong túi áo quần… Nụ cười người đàn bà lấp lánh niềm vui: “Chúc cô may mắn!”

 

Hê hê… Vậy thì cần xét lại hai mươi viên seduxen mà tôi đã phải mua rải rác ở các tiệm thuốc tây suốt cả buổi chiều. Cần xét lại nỗi đau bị xúc phạm, bị tổn thương, bị phản bội đang cháy lòng bỏng dạ. Đằng kia là quán karaoke. Hộp đèn quảng cáo rực rỡ, liên tục nhấp nháy mời mọc. Tôi tiến đến. Anh chàng phục vụ mặc áo trắng thắt cà vạt đỏ đưa tôi vào thang máy. “Ít thấy phụ nữ đến đây một mình như cô.”  “Vậy à?” “Cô vào phòng hát cho nhau nghe nhé!” “Cũng được!” Cửa mở ra, tôi chóng mặt bởi những luồng đèn nhiều màu sắc quay tít mù, điếc tai bởi âm thanh hết cỡ. Quanh tôi, hầu như ai cũng có đôi có cặp, có bạn có bè. Trên sân khấu, một nường tóc vàng hoe đang lắc lư, giậm chân lia lịa như cố đuổi kịp điệu nhạc giật gân, coi giống đang bị kiến cắn. Màn hình sau lưng nường ta như cũng nhún nhảy theo. “Xin hỏi cô dùng gì ạ?”  “Rượu!”  “Sâm-banh ạ?”  “Ừ, đem nguyên chai ra đây!” “Cô có muốn rượu phun thật cao?” “Ừ! Chừa lại hai ly, tôi và anh!” Chai rượu được lắc mạnh. Tiếng nổ giòn tan. Tiếng vỗ tay. Tiếng huýt sáo… Những tia rượu loang loáng sắc màu. Mùi thơm nồng nàn ngọt ngào quyến rũ. “Xin hỏi, cô hát bài gì ạ?” “Một mình!”

Phía trái tôi, cặp tình nhân chụm đầu nhau thầm thì. Bên phải, hai thằng con trai được hai cô tiếp viên váy ngắn đến nỗi không còn có thể ngắn hơn nữa, nhiệt tình hầu hạ… Vắt vẻo trên hàng ghế cao nghệu bên quầy rượu cạnh sân khấu, mấy tên choai choai vỗ tay tán thưởng cô gái vừa hát xong. Họ vui hết mình! Họ đang tận hưởng cuộc sống hết mình! Trong bao nhiêu mái đầu đang kề nhau âu yếm kia, liệu có con người ấy không? Con người mà tôi từng hết lòng tin cậy, ngưỡng mộ và yêu thương.

 

Tôi thò tay vào túi, sờ gói seduxen. Hê hê… Nhắp ngụm rượu. Chao nghiêng và nóng bừng. Hừ, anh không xứng đáng để tôi phải bận lòng. Những viên thuốc ngủ này tôi sẽ… sẽ nghiền nát ra… nghiền nát ra… Rồi đem phơi sương ba đêm, phơi nắng bảy ngày. Rồi sao vàng. Rồi hạ thổ. Rồi trộn đều với mật ong. Rồi dụ lũ ruồi say ngủ chơi. Hê hê… Trong đời, ai lại không ít nhất một lần đắng cay đến phát rồ phát dại? Cám ơn người đàn bà khuyết tật trên chiếc Chaly an toàn, đội mũ bảo hiểm an toàn, vui mừng khi chỉ bán được vài tờ vé số.

 

Tiếng MC õng ẹo làm tôi ngượng quá xá: “Xin giới thiệu lời thủ thỉ tâm tình của một cô gái đang cô đơn. Giọng ca chắc chắn sẽ lay động tận sâu thẳm cõi lòng chúng ta…” Tôi bước lên sân khấu. Màn hình trên bức tường trước mặt hiện lên lời ca: Gió nhớ gì ngẩn ngơ ngoài hiên. Mưa nhớ gì thì thầm ngoài hiên… Ngoái lại, màn hình sau lưng in rõ hình ảnh một mình tôi. Trời ơi! Sao mà thảm thương tội nghiệp thế này. Không! Không đời nào! Chẳng hợp với tôi tí nào. Thèm vào! “Xin lỗi các bạn, hình như có sự nhầm lẫn.” Tôi quay sang anh chàng điều khiển dàn máy. Điệu cha- cha- cha trỗi lên rộn ràng. Phấn chấn, tôi khoa tay múa chân. Vui lên đi ta với nhau! Cho trọn vẹn ái ân. Ta bên nhau trong nắng ban mai. Cho nhau nụ hồng ngây ngất!… Khán giả sôi nổi đồng điệu. Tiếng cụng ly lanh canh hào hứng. Mọi người gào lên chúc mừng nhau rôm rả: “Vui lên đi!” Phấn khích, thiên hạ kéo nhau ra sàn nhảy, say sưa cuồng nhiệt. Phấn khích, tôi cũng quay cuồng. Lạy trời! Nếu sống được vài trăm năm nữa chắc gì tôi có được giây phút hứng thú kinh khủng như thế này. “Vui lên đi…”

Chếnh choáng, tôi bước ra ngoài. Chà, vừa rồi chắc mình giống bị ong chích! Điên thật! Thôi kệ, nhằm nhò gì. Tôi thấm thía lời một triết gia, điều bất hạnh duy nhất của bạn chính là ở chỗ bạn cho rằng mình là người bất hạnh. Đường phố ken dày người. Len vào dòng đời đang tuôn chảy hối hả rộn ràng, giọng tôi đã khàn đặc: “Vui lên đi…”


*

Em gái út tôi mỏng manh và xanh úa như chiếc lá bị rợp nắng. Đẻ mót mà! Mẹ tôi bảo vậy. Sợ nó không đủ sức khỏe để vượt qua những kỳ thi gian nan trước mặt, mẹ tôi dẫn nó đi khám bệnh khắp nơi. Kết luận cuối cùng là nó chẳng mắc bệnh gì cả, chỉ tại học nhiều, ít hoạt động. Theo lời khuyên của thầy thuốc, nó nên đi bơi, tập thể dục… Và tôi là một trong ba cô chị được mẹ chọn lựa giao phó sứ mệnh lớn lao: Lo cho con Mót!


Cũng hay! Bởi từ sau vụ thất tình, tôi cứ từ từ lên ký. Buồn cười thật, người ta bị phản bội thì vóc hạc xương mai. Còn tôi? Dại gì! Ăn sướng miệng cho hết buồn. Ngủ no giấc cho hết buồn. Đi chơi xả láng cho hết buồn. Để rồi hễ rảnh tôi bước lên bàn cân. Cân tới lui mấy lần. Rồi không tin ở mắt mình, không tin sự chính xác của cái cân, chỉnh nút vặn mấy lần… Buồn năm phút! Vậy thì đưa Mót đi bơi là một công đôi việc.


Ngày đầu tiên, nếu không có Mót, chắc tôi không dám thay đồ bơi. Người đâu mà lắm, đa số lại là nam giới. Bộ đồ bơi kín đáo nhất trên đời nhưng tôi vẫn cảm thấy trống trải. Quàng kín người trong chiếc khăn tắm rộng, tôi líu ríu đi sát cạnh Mót như để được chở che. Hai chị em ghé ngồi chiếc ghế đá cạnh cầu thang xuống hồ bơi. Đội mũ bơi cho nhau. Cũng là lấy tinh thần trước khi bỏ chiếc khăn ra. Tênh hênh. Vừa ngập người trong nước, tôi thở phào nhẹ nhõm.


Nước ngang bụng. Hai chị em bíu chặt tay vào gờ. Tôi nhắc em bài tập đạp chân, thở nước. Tôi cúi mặt tập đạp, không dám nhìn đám đàn ông chỉ phong phanh cái quần bơi bé xíu, ngượng mắt chết được.

 

Sau vài tuần lễ, với tất cả các buổi chiều từ bốn giờ rưỡi đến bảy giờ lặn hụp đạp quẫy, vài lần uống no nê nước hồ bơi, rồi tôi cũng trườn người được trên nước, dồn tất cả sức lực quẫy đạp lũm chũm tung tóe. Tối mặt tối mũi, tôi chụp thành gờ đứng lên. Tưởng đã tới được bên kia chiều ngang của hồ. Ai ngờ mới chỉ vài sải tay, nhưng tôi sung sướng muốn reo to. Coi như tôi đã biết bơi. Bước cơ bản và khó khăn nhất tôi đã vượt qua.

 

Gã đàn ông đứng cạnh có nụ cười rất hóm: “Chúc mừng cô!” “Cám ơn ông!” Tối đó chị em tôi là những người sau cùng lên bờ khi người ta nhắc khéo bằng cách lấy sào vớt mấy chiếc lá. Tắm lại nước sạch, nhẹ thênh trong váy lụa, tôi sung sướng thưởng thức cuộc sống diệu kỳ. Hăm sáu tuổi, không đẹp không xấu, hai bằng đại học, một việc làm khối kẻ mơ ước, một mối tình vừa chết. Và bây giờ điều đáng nói là tôi đã biết bơi! “Chúng mình chia tay em nhé! Xin lỗi em…” Cóc cần anh xin lỗi. Đồ tồi! Nỗi ám ảnh trong tôi đã tựa khói sương.

*


Từ đầu này tới đầu kia và ngược lại, hai mươi lăm mét chiều ngang, một mét độ sâu. Cứ vậy tôi bơi với một kiểu duy nhất: bơi ếch. Dồn hết sức đạp chân, tay khỏa nước, bỏ lại sau lưng nỗi ê chề chua xót và vươn tới niềm vui nhẹ trôi của thân thể. “Bởi anh nghĩ chúng mình sẽ không hạnh phúc, vì…” Vì cái gì mặc xác anh! Đồ phù phiếm! Cảm xúc tinh khôi choáng ngợp ban đầu đã khiến tôi lầm lẫn tệ hại về anh.


Mấy hôm nay, một cô gái thân hình đẹp như người mẫu, bộ ngực bốc lửa, bơi giỏi kinh khủng, trông cứ như bay lướt trên mặt nước với đôi chân vịt màu đen. Cô ta kiêu hãnh biểu diễn đủ kiểu: bơi bướm, bơi sải, bơi ếch… Giờ cô tiên cá kia đang tựa lưng vào thành hồ ngoài xa tít, thỉnh thoảng lại hụp trồi thở nước. Có lẽ mọi đôi mắt đàn ông đều dồn vào cô ta. Tôi cũng chăm chú nhìn cô gái, ngưỡng mộ, ước ao và chút ganh tị. Gã đàn ông – vẫn là gã – hình như đọc thấu khao khát của tôi: “Cố gắng ít hôm cô sẽ ra được ngoài đó. Thoáng đãng và mênh mông. Tuyệt lắm!” Tôi buột miệng cám ơn nhưng gã thoắt biến mất.


Chừng vài tháng sau, men sát bờ hồ, luôn trong tư thế sẵn sàng bám vào gờ, tôi ra được nửa hồ. Dừng lại nghỉ, khoan khoái ngửa mặt hít thở, hài lòng khi nhận ra cuộc sống quá đỗi thú vị. Chợt nhìn xuống đáy hồ, cảm giác lạnh toát, rợn ngợp, sợ hãi xâm chiếm tôi. Nước sâu thăm thẳm, trong vắt, thấy rõ từng viên gạch men lát nền. Chân tôi hụt hẫng. Đang loay hoay tính quay vào thì gã đàn ông – vẫn là gã: “Cô gái ơi! Bơi ra đi, có tôi bên cạnh, đừng sợ!” Tôi tần ngần. Gã cười: “Dũng cảm lên! Cô sẽ có được niềm vui lớn. Niềm vui chiến thắng.” “Chiến thắng chiều dài bốn mươi mét, độ sâu hai mét rưỡi?” “Không! Chiến thắng bản thân mình!” Và vẫn nụ cười hóm: “Thật đấy! Cố lên! Tôi chắc chắn cô sẽ làm được!” Ánh mắt tin cậy của gã lan tỏa sang tôi. Tôi mím môi gật đầu, tiếp tục cuộc hành trình tưởng chừng xa lơ xa lắc. Yên tâm bởi có gã kèm sát: “Cố lên, cố lên!” Càng ra xa, thân thể càng nhẹ hơn. Và cuối cùng tôi đã tới đích! Sung sướng với cái bất ngờ tưởng chừng trong mơ, bám chặt hai tay vào gờ, tôi ngoái đầu nhìn vào trong bờ. Ủa, thì ra bốn mươi mét đâu có xa ngút. Giọng gã bên tai: “Xin chúc mừng!” Tôi xúc động: “Cám ơn ông!” “Nghỉ một lát tôi đưa cô vào. Nhớ đừng nhô mông lên cao quá. Không đẹp.” Tôi đỏ bừng mặt. Sự thẳng thắn bộc trực dẫu chân tình làm tôi thoáng ngượng. “Cô bơi không được bài bản lắm. Chắc cô tự tập? Nào, chúng ta vào thôi!” Tôi ngoan ngoãn bơi sát tường hồ, có gã bên cạnh, phía ngoài. Về được giữa đường, tôi đuối sức. “Cố lên, hễ vượt qua được lúc gay go này, cô sẽ vượt qua tất cả. Cô có thể bơi mãi… bơi mãi… đến tận ngoài khơi xa cơ đấy!” Tôi cố, cố, cố… Và sức mạnh không biết từ đâu dần dần len vào cơ bắp, tôi lấy lại phong độ lúc đầu. “Đó, cô thấy chưa, tôi biết mà. Hồi mới tập bơi, tôi cũng đã từng như cô bây giờ.”

 

Vào được điểm xuất phát, tôi đứng tựa lưng vào tường, thở đều. Gã lại lướt đi, những sải tay khỏe, dài và rộng, chân quẫy nhẹ, mái đầu nghiêng sang trái sang phải đều đặn. Tất cả đều nhịp nhàng, nhuần nhuyễn. Chàng cá kình!


Mót lướt tới: “Em biết rồi! Đừng giấu em à nghen!” “Biết gì hả Mót?” “Hai người tình trong như đã rồi phải hông?” “Bậy nà, chị chưa biết ổng là ai.” Ừ, tôi chưa biết gã là ai, bởi sau những lần chạm mặt dưới hồ, gã biến mất đâu đó giữa bao nhiêu người, rồi gã lên trước hay sau, tôi cũng không hay. “Xì, bày đặt giấu em hoài.” Mót lướt đi. Phải công nhận Mót bơi giỏi hơn tôi nhiều.

 

Gã là ai, tôi không tiện hỏi. Chỉ nhớ đó là khuôn mặt chữ điền ngăm ngăm đen, rắn rỏi nghị lực, cùng nụ cười hóm thường nở trên môi.


*


Tháng mười hai. Sáng sớm và chiều muộn trời se lạnh. Khuôn viên hồ bơi vẫn rộn rịp tưng bừng như ngày hội. Bọn trẻ con bên mấy cái hồ nhỏ reo vui í ới. Chị em tôi vẫn đều đặn đến hồ bơi. Mới xuống nước có nghe lạnh nhưng chỉ cần tung tăng vài vòng cái lạnh đã thành mát. Mọi nhọc nhằn mỏi mệt muộn phiền trong ngày như chuồi đi sau từng vòng tay khỏa nước thỏa thuê. Dạo sau này tôi dạn dĩ, đã dám nhìn những thân hình cơ bắp khắp hồ bơi. Gã đâu rồi? Cả tuần qua sao không thấy?


Xưa nay, tôi vẫn tin những gì đến và đi trong cuộc đời mình đều là may mắn. Hồi nhỏ, mỗi lần cùng bạn bè: “U ập! Tay trắng tay đen tay Chà Và đen thui tay Việt Nam trắng bóc.” thì y như rằng giữa những bàn tay ngửa chỉ mỗi tay tôi úp và ngược lại. Còn “tù tì” thì hễ đối thủ ra cái bao, tôi ra cái kéo, đối thủ cái búa, tôi lại cái bao. Cứ như có sự sắp đặt. Cuộc gặp gỡ thoáng qua trên chuyến bay, cú điện thoại nhầm, mẩu tin nhắn đi lạc… luôn gợi tôi mơ mộng… Có phải nhờ vậy mà hôm sinh nhật nhỏ bạn, chàng trai ngồi đối diện bảo tôi có niềm tin. Tôi hỏi vì sao? Chàng trai nói tại nét mặt tôi sáng tươi hớn hở. Phải! Cuộc sống tôi lúc nào cũng có ước vọng để đợi chờ. Và nếu ước vọng đó không thành sự thật, tôi không buồn mà lại tự nhủ rằng biết đâu lại là may mắn. Rồi nhanh chóng quên đi và chờ đợi. Cứ thế cứ thế… Cho nên nghiền ngẫm lại cuộc tình, tôi tin rằng trong cuộc “tù tì” này, hắn chìa cái kéo, nhưng tôi đã tung cái búa! Cho nên cả tuần nay, sự mất dạng của gã đàn ông vừa nhen nhóm trong tôi chút mộng ước chẳng làm tôi phải thở dài. Mót nhoài đến: “Về đi Tư ơi! Em lạnh!”

Ngồi sau lưng tôi, Mót chợt reo lên: “Tư ơi, ghé ăn chè đi! Có quán mới mở kìa!” Tôi tạt vào. Kiểu quán vườn, nhỏ và thanh lịch. Khách đông nghịt. Mót làm một hơi ba chén chè bưởi, xuýt xoa nước cốt dừa ngon quá, không đâu bằng. Tôi nhón từng muỗng nhỏ, chầm chậm để chế ngự bớt cái khoái khẩu sau hai tiếng đồng hồ hoạt động hết công suất. “Ừ, ngon thiệt. Để chị vô mua cho má.” Người đàn ông đứng cạnh quầy ngẩng lên. Lạy trời! Là gã. Phải, chính gã! Ánh mắt chạm nhau. “Tôi có nhầm không nhỉ? Cô gái ở hồ bơi đây phải không? Cô gái chiến thắng?” Tôi mỉm cười: “Vâng, nói như ông thì tôi đã chiến thắng được chính mình.” “Cuộc chiến gian nan nhất.” “Cám ơn ông!” “Cả tuần nay tôi bận quá, không đến hồ bơi. Thế… bữa nay cô bơi được mấy vòng rồi?” “Ông đoán thử xem!” “Ít nhất là bốn vòng” “Ông nói như thần!” “Nhà tôi bên kia đường kìa. Lúc nào cô rảnh, mời cô ghé chơi.”


*

 

Được hai vòng hồ, tôi dừng lại nghỉ. Sảng khoái không sao tả hết khi ta thỏa sức bơi. Hê hê… Nghĩa lý gì cái mối tình với kẻ tầm thường. Bạn bè thì thầm, hắn đang bám đuôi tiểu thư của ngài giám đốc công ty hắn.

 

Một cái đầu nhô lên cạnh tôi: “Hai vòng vừa rồi không tính nhé! Hãy bắt đầu lại, bốn vòng liên tục xem nào!” Là gã! Ối dào, chuyện nhỏ. Nhưng ông ta là gì của mình mà bày đặt nói giọng kẻ cả? Cái giọng tôi ghét cay ghét đắng. Tôi mím môi đứng im. Gã vẫn cười hóm: “Xin lỗi, tôi không có ý ra lệnh cho cô. Nhưng lúc nào người ta cũng phải uốn lưỡi đủ bảy lần trước khi nói thì cuộc đời hơi nặng nề. Tuy nhiên tôi rất trân trọng sự phản kháng cần thiết.”   

 

Gã có khả năng siêu nhiên chăng? Tôi cười thay lời đáp, sấp người trên nước, co chân đạp mạnh vào tường hồ, lướt ra xa, nhẹ thênh. Tôi khỏa tay, co duỗi chân, trồi hụp nhịp nhàng, cố không nhô mông lên cao. Bữa nay tôi không thèm men theo sát bờ hồ nữa mà ngang nhiên bơi giữa lòng hồ ra dáng ta đây. Khá nhẹ nhàng uyển chuyển. Gã vượt qua tôi bằng những sải tay khỏe khoắn. Nổi hứng, tôi thử bắt chước sải theo nhưng đành chịu thua. Ra tới bờ ngoài, gã tựa lưng vào thành hồ, ngước mặt lơ đãng nhìn trời mây. Gần đến chỗ gã, tôi tính lượn vòng trở vào. “Cô gái ơi, dừng lại chút để nghe ta nhẹ như mây nhờ ông Archimède.” Giọng gã mềm như nhung. “Cô tiến bộ vượt bậc. Không thể ngờ được.” Tôi e thẹn: “Có công lao của ông…” “Không, tôi chưa làm gì được cho cô hết!” Tôi thành thực: “Ông đã giúp tôi khám phá bản thân mình. Xưa giờ tôi chỉ biết tin vào sự may mắn, chứ chưa ý thức mình có thể vượt qua bản thân. Với tôi, điều này rất quan trọng…” “Nếu vậy tôi phải cám ơn cô. Cô đã cho tôi hạnh phúc khi thấy mình làm được chút gì cho ai đó. Vậy là huề nhé!” Cả hai cùng cười. Tiếng cười lăn dài theo từng gợn sóng nhỏ trên mặt hồ lung linh vài sợi nắng. “Chúng ta cùng bơi nhé. Đứng yên một chỗ lâu sẽ bị lạnh.” Gã cùng tôi bơi song song nhau, dọc chu vi hồ. Dòng sông cuộc đời đây chăng? Gã cũng bơi ếch, có lẽ cố tình đạp chân thật nhẹ để không vượt qua tôi.


Sáng chủ nhật, tôi chầm chậm đi qua đó. Giả bộ như vô tình, tôi liếc nhìn vào và lặng người. Gã cùng một phụ nữ đang chăm sóc giàn phong lan trước hiên nhà. Giả bộ bị tắt máy xe, tôi quan sát kỹ hơn. Thôi thì, mộng ước trở thành mộng ảo cũng là lẽ thường. Biết đâu lại là may mắn! Chuyện nhỏ nhằm nhò gì! Tôi tự an ủi và tin rằng rồi cuộc đời sẽ đem đến một cuộc gặp gỡ khác với kết thúc có hậu. Tôi rồ ga cho xe chạy thẳng. “Cô gái ơi! Bộ đang rượt bắt cướp hả?” Tôi lạ lùng cho xe chậm lại. “Cô gái ơi, ghé nhà tôi chút đi.” Giọng gã hiền dịu tha thiết, ánh mắt khẩn khoản: “Ước gì em gái tôi được làm bạn với cô!”


Phòng khách bài trí đơn sơ nhưng khá tinh tế. Những ca khúc mùa xuân rộn ràng niềm vui sống: “Phải chăng nụ hoa mùa xuân đang hé nở, phải chăng ngày xuân đầu tiên đang gõ cửa…” Gã vào trong lấy nước. Tôi đến bên ô cửa sổ mở ra khu vườn nhỏ yên tĩnh, trồng nhiều hoa kiểng. Mấy vạt nắng ban mai tươi hồng óng ả trên thảm cỏ xanh mượt. Tất cả gợi cảm xúc trong lành, êm đềm dễ chịu.


Kìa bức tranh! Bức tranh câm lặng đầy bí ẩn. Tim tôi như thắt lại. Những cành cây khẳng khiu trụi lá dạt về một hướng, nhưng có một chú chim nhỏ xíu đậu ở cành dưới cùng, trông rất cô đơn, đang quay đầu hướng ngược lại, dõi trông. Bên dưới có mấy câu thơ, kiểu thư pháp: “Chim kankodor! Nỗi buồn sâu thẳm. Đọng vào tôi đi.” (Basho). “Cô có nhận xét gì không?” “Không! Thú thật tôi mù tịt về hội họa, thơ ca. Có điều, bức tranh gợi tôi cảm giác buồn, buồn lắm, đến muốn khóc mà không lý giải được.” “Cô nhìn kỹ lại xem! Có phải chú chim ngoái lại kiếm tìm và hy vọng? Bất chấp mọi nghịch cảnh. Vì vậy tuy rất buồn nhưng không hề tuyệt vọng!” Bắt gặp cái nhìn điềm tĩnh cương nghị của gã, tôi mỉm cười đồng cảm: “Vâng, một nỗi buồn đẹp!”


Tôi thẫn thờ trong dòng hoài niệm của gã. Năm bảy mươi, cha mẹ gã sang Nhật du học. Rồi định cư luôn. Anh em gã được sinh ra, lớn lên nơi xứ người. Và cách đây sáu năm, cha mẹ cùng người vợ mới cưới của gã đã ra đi vĩnh viễn trong một tai nạn máy bay. Đọc nhật ký của mẹ, gã quyết định đưa các bình tro về quê nhà. Giọng gã trầm xuống, lắng sâu: “Giờ tôi chỉ còn đứa em gái mù lòa…” Gã nói về em mình bằng giọng thật ấm và nâng niu, như thể dồn vào tất cả yêu thương. Lòng tôi rưng rưng xúc động. “Nó rất thích chè đậu nước cốt dừa. Ngay từ nhỏ, chúng tôi đã được mẹ cho ăn món này.” Chợt gã chuyển đề tài: “Chiều mai cô muốn tập lặn không? Chuồi dưới đáy nước tuyệt lắm. Rồi cô lại có niềm vui chiến thắng. Hình như cuộc sống sẽ giảm đi ít nhiều ý nghĩa nếu chúng ta không còn những khó khăn, để mỗi lần vượt qua, lại thấy mình lớn hơn một chút… Tôi thực sự bị cô cuốn hút từ lần gặp đầu tiên khi cô mím môi, đạp nước bắn đầy người tôi… Khi cô đứng lên, vuốt nước trên mặt, để lộ đôi mắt sáng rực…”

 

Ai đó đang thì thầm: “Cùng đón chúa xuân đang giáng xuống trần. Thế gian lắng nghe tình xuân nồng… Nào ai hững hờ xuân vẫn ngóng chờ…” Gã bỗng đặt tay lên bàn tay tôi. Bàn tay to rộng ấm áp. Giọng gã dịu dàng: “Ngày mai tôi sang Nhật có công việc và sẽ trở về trước Tết. Cô thích chén rượu sakê đêm giao thừa?” Tôi ngoan ngoãn gật đầu. “Và nắm tuyết…” Bàn tay ấy siết chặt tay tôi. Trong khoảnh khắc, tôi cảm nhận được cái bền vững diệu kỳ trong sự hòa hợp giữa nồng say và dịu mát, mạnh mẽ và mềm mại: “Cùng nụ hoa đào ép giữa cánh thiệp xuân.”


– Trương thị Kim Chi

Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.