Hôm nay,  

TRANG THƠ

06/07/202314:51:00(Xem: 4679)
Derkovits,_Gyula_-_Mother_(1934)
Mother (1934) của Gyula Derkovits (1894-1934).


QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

mẹ tôi trên xe thổ mộ

 

(Kính dâng hương hồn mẹ).

 

đã rất nhiều năm trong thế kỷ trước

đôi khi còn nghe âm vọng người và ngựa

lốc cốc trên đường

nắng chói chan nung thời gian chảy nhựa

 

gõ từng chữ từng câu

chầm chậm xuống hàng

ký ức chìm nổi của loài ba khía

chầm chậm xuống hang

thảng thốt nghe tiếng người và ngựa

 

giữa đất trời hanh hao

nằm ngửa lắng nghe tiếng lốc cốc trên đường

sau hàng cây xanh ngát

từng lớp sóng xôn xao nhả bọt

tựa những lời mẹ căn dặn buổi chia tay

 

quanh quất trên con lộ thưa vắng

mẹ tôi vẫn còn trên chiếc xe thổ mộ

đôi guốc mộc quai đen

hai bàn chân chai cứng

khuôn mặt màu da bánh ít in đậm nỗi buồn

 

đôi khi mẹ lau nước mắt bằng vạt áo vải thô

những giọt long lanh lăn trên má

quặn thắt trong nắng gió thờ ơ

từ hai hốc mắt sâu không đáy

u uất câm lặng triền miên

 

sáng nay mẹ ngồi bất động

như đã ngồi trong nhiều kiếp

trên chiếc xe thổ mộ

duy nhất

rong ruổi trên con lộ khắc khoải này. 

 

***

 

NGUYỄN HÀN CHUNG

 

Lời kêu cứu của thơ
     

Thả ra đừng bắt tôi lên

trời đâu không thấy chênh vênh lạnh lùng

thả tôi về với ruộng đồng

có mồ cha mẹ núi sông bưng biền

 

Thả ra hãy để tôi yên

ngắm trăng hải đảo nghía thuyền viễn dương

cho tôi ca hát phàm thường

bắt tôi phải đạo đau thương bao rồi

 

Thả tôi thả tôi thả tôi

lên hay xuống đứng hay ngồi tự thân

thích thì phụng hiến giai nhân

vẫn hơn ca tụng cái cần triệt linh

 

Thả ra đừng bắt chúng sinh

rác tai nghe những bài tình giả nhơn

thả tôi về với rạ rơm

cho tôi tận hưởng mùi thơm suối nguồn!

Thả ra tôi có vĩ cuồng
hay thơ ca có trần truồng, mặc tôi.

một buổi sáng mở mắt / bắt gặp mình nằm co ro trong trại súc vật ...
Mỗi người Việt chúng ta cảm nhận cuộc chiến tranh Việt Nam bằng nhiều cách khác nhau, ở nhiều thời điểm khác nhau. Đối với riêng tôi, nhận thức về cuộc chiến Việt Nam bắt đầu bằng một câu hỏi của một thiếu niên vừa lớn, mới có trí khôn, dành cho Ba tôi: “Ba ơi, tại sao người Mỹ ở một nơi xa xôi lại đến Việt Nam như vậy?” Câu trả lời của ông vẫn còn rõ trong trí nhớ của tôi: “Cũng giống như nhà mình bị cháy mà người hàng xóm giúp mình chữa để nhà họ khỏi bị cháy lan qua vậy, con à.”
Trời tối dần tại bến xe Bà Hạt, chúng tôi lên đường. Tôi nhìn lại Sài Gòn lần cuối (lần nào đi vượt biên cũng có tiết mục nhìn Sài Gòn lần cuối, và lần này là… lần cuối thật sự). Xe chạy ra xa lộ hướng về Mộc Hoá, Long An, gió đêm mát rượi. Nửa khuya, tôi đang chập chờn ngủ thì xe dừng lại, mọi người nhốn nháo bảo nhau “đã tới biên giới Cambodia”.
Xứ Hoa Dương xinh đẹp và thanh bình, những cánh đồng hoa dương bạt ngàn rực rỡ một màu vàng tươi tắn, những cánh đồng lúa mì óng ả như mái tóc phụ nữ Hoa Dương. Đất đai phì nhiêu, trù phú đủ để người Hoa Dương sống sung túc an lành dưới bầu trời xanh thanh bình. Điều này đã làm cho ma vương sanh tâm đố kỵ, y thèm khát mảnh đất ấy từ lâu, y có tham vọng ngông cuồng như những tiền bối của y là phải chiếm lấy cho bằng được.
Từ hơn hai năm nay, kể từ khi đại dịch Covid-19 hoành hành, như mọi người lớn tuổi, tôi ít khi ra ngoài nhà, trừ phi bắt buộc đi mua chút đồ ăn, đi bác sĩ, đi chích ngừa… Phần lớn thời gian là cách ly với mọi người, một hình thức như là mort sociale. Nhưng không mình vẫn sống nhăn và phải sống để thấy « thương hải biến vi tang điền ».
Không biết có nơi mô giống quê tôi, vùng bán sơn địa miền tây Quế Sơn, gọi cây sống đời bằng tên lụp bụp. Mỗi lần nghe có chút mưa phùn gió bấc, dù ở đâu, làm gì tôi vẫn nhớ về quê nhà với những chùm hoa lụp bụp và những kỉ niệm êm đềm thời thơ ấu!
Tôi chưa được may mắn ghé thăm Đà Lạt trước mùa xuân 1975. Phải đến mười năm sau nhân hè muộn 1985, như một duyên may, gia đình nhỏ của tôi mới đặt chân lên Đà Lạt. Một chuyến đi chơi đáng nhớ những năm tháng quạnh hiu ấy.
Sài Gòn có con đường nối liền hai đường song song Bùi Viện và Phạm Ngũ Lão, nối khúc gần rạp hát Thái Bình ngày xưa với khúc đuôi của Phố Tây Bùi Viện. Con đường không dài hơn 2km đâm ra bến xe buýt mới Sài Gòn, chỗ trước đây nằm trong khu ga xe lửa Sài gòn tên là Đỗ Quang Đẩu. Cái tên Đỗ Quang Đẩu của con đường nầy ngày nay hình như vẫn còn, vẫn mang tên cũ... Nhưng Đỗ Quang Đẩu là ai, sao lại có tên đường ngay một vùng rất gần với những khu tấp nập của Sài gòn? -- Học giả Nguyễn Văn Sâm, nổi tiếng với những công trình biên khảo văn chương nghệ thuật đặc thù Nam bộ, cho chúng ta câu trả lời qua bài viết sau. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Rồi sau đó tôi hét lên, hét thật lâu, và có hết sức lực để hét, rồi tôi trở nên điếc thật, và chết thật sự. Nhưng điều đó đã không xảy ra, tôi chỉ không thể nói được trong rất nhiều tuần lễ.
Mùa đông xuân năm nay, trời lạnh sớm, cái lạnh tái tê kéo dài từng đợt trên khắp cả nước, từ miền cao đến châu thổ. Có những nơi như đèo Ô Qui Hồ, Mẫu Sơn, Y Tý… tuyết rơi trắng xóa. Tuyết nơi miền chí tuyến! Cùng với tiết trời là những đợt gió rét mướt vi vu dễ làm chùng lòng, chẳng dám dậy sớm đi biển. Nên nhớ vẩn vơ. Nhớ gió qua bao nỗi niềm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.