Hôm nay,  

Thơ -- Ghi lên đá

26/08/202309:28:00(Xem: 4530)

War arts

Ghi lên đá

 

Ngó lên núi thấy thân mình hắt bóng

Nỗi cực cùng vò xé những mầm xanh

Treo lơ lửng đầu cành ngày nóng bỏng

Mộng ban đầu tiêu tán, mong manh

 

Ngó xuống biển loài san hô bạch tuộc

Ngoi đầu lên hớp hắc khí nặng nề

Mưa thấm đất rắc đôi bờ nhật nguyệt

Cùng sương mờ che khuất bãi sơn khê

 

Tháng tư về nhớ tháng tư hung hãn

Hàng hàng người như kiến giữa chảo rang

Lặn ngụp giữa muôn trùng trùng vây khốn

Núi non nào ghi khắc đá giải oan

 

Ghi lên đá ngày năm xưa vật vã

Để đời sau nhớ mãi tháng tư nào

Cái ảo vọng của lợi danh lắng xuống

Còn lại mình tịnh độ giữa lao xao


*


Xa chỗ em nằm

 

Dù cũng biết tháng ngày qua là gió

Là mây trôi mải miết phía đồi xa

Nhưng có lúc lòng bừng cơn dị mộng

Em đâu rồi một thuở đã lìa xa

 

Thảng thốt nhớ những ngày êm dịu ấy

Lắng sâu vào tâm thức những ngày xanh

Cái hạnh phúc nhỏ nhoi mà, có lẽ

Suốt một đời ta ngóng, rất mong manh

 

Như gió thoảng mây bay về phía núi

Cùng em trôi theo mãi tháng năm rồi

Cũng đã mấy năm ròng không nhìn thấy

Em bây chừ cũng trở bạc như vôi

 

Thấy thấp thoáng mù sương em ngày cũ

Giấc nồng phai hơi hướm lúc em còn

Dan díu với những ngày tình ấm áp

Còn hương hoa, còn bụi đỏ em qua

 

Cơn đồng thiếp giấc mơ ân ái cũ

Đã xa rồi phế tích suốt trăm năm

Hương quanh quất như là em hội ngộ

Bến bờ xa đã rời chỗ em nằm

 

Trở lại đây trên bãi sông vọng nguyệt

Một lần thôi hồn phách có quay về

Xin hãy giữ niềm yêu thương tận tuyệt

Suốt một đời ngó mãi bến trời quê.


*


quạnh hiu tôi

 

Quạnh hiu quá ngày em từ bỏ tôi

Đi xa như về phía chân trời

Mây bay trên núi chừng ngưng lại

Tôi lại mồ côi em xa khơi

 

Cũng như vết lửa khô nứt nẻ

Xước bầm cô quạnh phía không em

Thì ra em chính là đao phủ

Chém xuống đời ta những vết đau

 

Để lại trong ta hiu quạnh lớn

Trăm năm không biết có mờ phai

Như bóng chim trời bay lởn vởn

Một đời nhỏ lệ cơn mưa mau

 

Em còn trong ta hơi hướng hương

Mưa còn ướt cả lối đoạn trường

Ta cố lật từng trang cổ sử

"Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương"

(Tiền Xích Bích phú của Tô Đông Pha)

 
-- Trần Yên Hòa

Thơ của hai thi sĩ Trần Mộng Tú & Đào Văn Bình
Đây là ngôi làng tiêu biểu của người Amish sinh sống ở vùng này. Làng được dựng lên để giới thiệu với du khách ghé thăm những sinh hoạt hàng ngày và những sản phẩm tiểu công nghệ có tính cách cổ truyền đặc thù của người Amish...
Khi tôi về làm dâu mợ, bà còn khá trẻ, khoảng năm mươi. Bà lanh lẹ, vóc dáng nhỏ và có khuôn mặt vui với nụ cười tươi. Bà luôn niềm nở cởi mở với mọi người. Bà như thế đó, chưa bao giờ làm buồn lòng ai và cũng chẳng ai quấy phiền chi bà...
Tôi đành vay mượn tên nhạc phẩm “Con đường mang tên em” của Trúc Phương để đặt cho con đường nhà tôi vì quá hợp lý luôn, không thể đặt tựa đề khác được. Con đường này dài hơn một cây số nhưng chỉ một đoạn đường ngắn nơi khu buôn bán gần những trại lính thật khó mà tin nổi 9 căn nhà liên tiếp nhau đã có 3 người con gái tên Thanh, thật ngẫu nhiên chúng tôi cùng lứa tuổi mới lớn, lại ngẫu nhiên nữa là có hai người cùng họ Nguyễn Thị…
Cuối tuần rảnh, cú phonetalk hai chị em cỡ chừng… hai tiếng chớ nhiêu! Chị hơn tôi 8 tuổi, cùng trang lứa với mấy ông anh tôi, nhưng vì hai chị em đã có dịp đi vượt biên (hụt) với nhau một chuyến, có hơn một tuần lễ vi vu Miền Tây, ăn ngủ cùng nhau, tâm sự đủ điều. Nhất là đêm cuối cùng chờ tàu lớn ra khơi, cả hai thao thức suốt đêm, nghe cả tiếng lục bình vật vờ trôi sông, rồi kể nhau nghe “chuyện con tim”…
Ô hay, đất cỏ bời bời / Xanh như huyễn mộng, ngọt lời hoan ca / Cúi đầu niệm chú Ba la... / Cỏ chôn vào đất... hóa ra thiền vườn?
Không hiểu lý do nào ông bà Hai lấy tên Hụi để đặt cho con mình. Lúc còn nhỏ, Hụi trông khôi ngô sáng sủa lắm. Hụi lại ít bị bệnh hoạn và rất chóng lớn. Năm lên bốn tuổi, Hụi đã lớn kịp anh ruột mình là Hùng, lớn hơn Hụi hai tuổi. Hai anh em cũng ham chơi, cũng nghịch ngợm như bao trẻ con cùng trang lứa trong vùng...
Thật ra, cho đến ngày "tan hàng" khăn gói đi tù, Nhạc chưa có một căn nhà cho vợ con chui ra, chui vào. Là một sĩ quan ở đơn vị tác chiến, anh chẳng có phương tiện gì để làm ra tiền, ngoài một đám lính chỉ biết bóp cò, gài mìn và hô xung phong, khi đụng trận. Với số lương trung úy, cộng thêm một vợ, ba con, được khoảng bốn chục ngàn đồng một tháng, mà tiền để xây hay mua một căn nhà nho nhỏ cũng gần hơn triệu bạc, nên Nhạc cứ khất đi, khất lại hoài, với Hậu...
Như đã có lần thổ lộ với anh: Đại khái là tôi được thả ra từ trại tù cải tạo vào cuối năm 1981, một mình về tạm trú tại căn nhà trong khu Thanh Đa, quận Bình Thạnh. Căn nhà này vốn được cho phép mua hồi bố tôi làm đốc công của Tổng Cục Gia Cư trước Bẩy Lăm. Ở tạm là vì đã có sẵn giấy báo là phải thu xếp ngay để đi vùng kinh tế mới ở nông trường Phước Bình, Phước Long. Vợ con vốn trước đấy, trong thời gian tôi ở tù, đã phải co cụm lại mới mong sống còn, rúm ró về cư ngụ nhà mẹ vợ; mình tôi vác xác đi kinh tế mới.
Sự trân quý đối với nghệ thuật đã giúp Lê Văn Khoa có cái nhìn tích cực, cầu toàn trong quá trình sáng tạo của ông, và xuất phát từ đấy những hoài bão ông ôm ấp từ thuở thiếu thời. Ông có nhiều hoài bão. Riêng bên lĩnh vực âm nhạc, nó là một giấc mơ, giấc mơ làm thế nào nhạc Việt có thể đi sâu vào dòng chính của âm nhạc thế giới, làm thế nào nhạc Việt vang vọng – và lấp lánh qua đó là bản sắc văn hóa Việt – từ các đại thính đường trang trọng khắp nơi...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.