Hôm nay,  

Vũ Hoàng Thư: Từ Quê Hương Tinh Thần Đến Tổ Quốc Trăm Năm

19/09/202622:48:00(Xem: 268)

Vũ Hoàng Thư: Từ Quê Hương Tinh Thần Đến Tổ Quốc Trăm Năm

--- Lời phát biểu trong buổi ra mắt sách của Lê Lạc Giao


(Việt Báo: Buổi ra mắt sách TỔ QUỐC TRĂM NĂM, Hồi Ký Tiểu Thuyết của Lê Lạc Giao, đã thực hiện chiều Thứ Bảy 19/9/2026 tại Coffee Factory, Westminster. Với MC ThụyVy. Các ca sĩ Thương Linh, Thái Hoàng, Lại Tôn Dũng, Băng Tâm (đoàn Lạc Hồng). Các diễn giả Phạm Quốc Bảo, Vũ Hoàng Thư, Tô Đăng Khoa và Phan Tấn Hải.)

blank

Kính thưa quý vị,

Tháng Sáu, năm mươi mốt năm trước, bắt đầu bằng một lời hứa ba mươi ngày của Ủy ban Quân Quản TP Sài Gòn. Ba mươi ngày để học tập, để rồi ba mươi ngày trôi qua, tháng nối tháng, năm chồng lên năm của tù đày cải tạo, và có những người đã không bao giờ trở về. Mùa hạ năm ấy, chiến tranh được tuyên bố là đã chấm dứt, nhưng đối với hàng trăm ngàn quân cán chính miền Nam, một cuộc chiến khác vừa mở ra: cuộc chiến không còn tiếng súng, chỉ còn tường cao, vọng gác, đói rét, lao động cưỡng bách và sự chờ đợi mòn mỏi kiếp người.

Tổ Quốc Trăm Năm của Lê Lạc Giao đi ra từ mùa hạ đó. Qua nhân vật Hảo, tác giả kể lại tám năm lưu đày từ Long Thành, Thủ Đức, Tân Lập, Nam Hà đến trại Z30D. Nhưng nếu chỉ đọc tác phẩm như một hồi ký tù cải tạo, chúng ta sẽ bỏ lỡ phần sâu xa và đáng nói nhất của cuốn sách. Nhà tù trong tác phẩm không chỉ giam giữ thân xác. Nó còn tìm cách chiếm đoạt ký ức, đổi tên con người, tái định nghĩa căn cước của kẻ chiến bại và buộc họ phải nhìn chính mình qua những danh xưng do quyền lực áp đặt. Trước năm 1975, Hảo là một sĩ quan, sau đó anh trở thành “ngụy quân”, “đối tượng cải tạo”, “lao động cải tạo”, rồi “tù nhân”. Mỗi tên gọi là một vòng kẽm gai quấn thêm vào căn tính.

blank


Vậy mà ở giữa hệ thống muốn biến con người thành một hồ sơ ấy, Hảo vẫn giữ được một vùng của riêng mình không ai xâm phạm hay giành giật nổi. Vùng ấy không có tường thành, không có bản đồ, nhưng có một cái tên thân thuộc: miền Nam. Hay gần gũi hơn nữa: Nha Trang.

Trong Tổ Quốc Trăm Năm, Long Thành, Tân Lập, Nam Hà là những địa danh của lưu đày. Nha Trang lại là nơi chốn của trở về. Nha Trang hiện lên khi Hảo ăn một chén cháo loãng mà chợt nhớ đến ông nội và mẹ. Khi gặp một người từng sống ở Đồng Đế, anh đã nghe trong giọng nói xa lạ một chút hương âm đồng điệu. Khi nhắc đến Phú Vinh, chiếc ga xe lửa cô đơn và con đường rầy chạy vào chân núi từ thời thơ ấu bỗng trở về. Nha Trang không còn là một thành phố bên ngoài song sắt. Nha Trang đã chuyển từ địa lý vào tâm thức, từ quê hương như lãnh thổ thành quê hương như ký ức.

Chính trong sự chuyển dịch âm thầm ấy, văn hóa miền Nam trở thành một quê hương tinh thần. Khi quyền công dân, tự do và tương lai đều bị tước đoạt, người tù vẫn còn thơ Đường, Truyện Kiều, Kim Dung, một câu “Hoa lạc tri đa thiểu”, một lời hát Mưa Rừng trong tiếng mưa đêm trên mái trại tù, mùi thuốc lào, ổ bánh mì Sài Gòn, một giọng nói quê nhà. Mới nghe qua, toàn là những điều nhỏ bé, tưởng chẳng có sức mạnh gì đối đầu với súng đạn và nhà tù. Nhưng đôi khi cái nhỏ bé nhất lại là nơi cái toàn thể ẩn mình. Một câu thơ có thể mở lại cả bầu trời xưa cũ. Một tiếng mưa có thể gọi về căn nhà đã mất. Một mùi vị thoảng qua cũng đủ làm sống dậy một miền Nam mà lịch sử vừa xóa tên trên bản đồ chính trị.
 
blank

 
Lê Lạc Giao không để Hảo chống lại nhà tù bằng những hành động anh hùng khác thường. Anh chống lại sự hủy diệt bằng khả năng nhớ. Nhớ, ở đây, không phải là quay lưng với hiện tại để trú ẩn trong hoài niệm. Nhớ là giữ cho mình không bị biến thành kẻ khác. Nhà tù có thể quy định giờ thức, giờ ngủ, phần ăn, công việc và cả tên gọi của người tù nhưng nhà tù không thể ra lệnh cho một tiếng mưa phải gợi lên điều gì trong tâm trí tù nhân, hoặc một câu Kiều phải đi về đâu trong lòng người, hay Nha Trang phải chết lúc nào trong ký ức. Văn hóa vì thế là thành trì cuối cùng của nhân phẩm. Đó là hình thức phản kháng lặng lẽ nhất, mà cũng bền bỉ nhất, của con người miền Nam trước một guồng máy muốn đồng hóa quê hương với chủ nghĩa xã hội, muốn tình yêu đất nước phải đi qua một ý thức hệ duy nhất.

Từ vùng tự do nội tâm ấy, tác phẩm đi đến điểm thứ hai, mà theo tôi là tư tưởng quan trọng nhất của Lê Lạc Giao trong tác phẩm này: từ ý thức hệ đến Tổ Quốc Trăm Năm như một triết lý lịch sử hậu chiến.

Lịch sử của những cuộc nội chiến thường được viết bằng tiếng nói của người chiến thắng. Người thắng trận không chỉ chiếm lĩnh lãnh thổ mà còn giành quyền đặt tên quá khứ, phân chia chính nghĩa và phi nghĩa, quyết định ai được nhớ và ai phải bị quên. Tổ Quốc Trăm Năm được viết từ phía những người thất trận, nhưng cuốn sách không dừng lại trong tâm thế thất trận. Nó khởi đi từ nỗi đau của một cộng đồng để bước tới một câu hỏi lớn hơn: có một Tổ quốc nào rộng hơn phần đất của bên thắng cuộc, dài hơn tuổi thọ của một chế độ, và đủ chỗ cho ký ức của mọi người Việt Nam hay không?
 
blank


Câu trả lời của Lê Lạc Giao nằm trong chính nhan đề tác phẩm, Tổ Quốc Trăm Năm. Tổ Quốc Trăm Năm không phải là tổ quốc của một chính quyền, một đảng phái hay một thế hệ. Đó là Tổ quốc được nhìn trong chiều dài lịch sử, nơi mọi chế độ chỉ là những kẻ tạm thời đi ngang qua. Chủ nghĩa có thể thành công hoặc thất bại, có thể đem đến vinh quang cho người này và nhục nhã cho người khác, nhưng dân tộc đã hiện hữu trước mọi chủ nghĩa và sẽ còn lại sau khi những chủ nghĩa ấy tàn phai. Vì vậy, lòng yêu nước của một Tổ Quốc Trăm Năm phải độc lập với ý thức hệ. Nó sinh ra từ nỗi xót xa trước bi kịch chung, từ ý thức rằng không phe nào có quyền thu nhỏ đất nước bằng chiến thắng của mình.

“Hãy để Tổ Quốc Trăm Năm phán xét chúng ta.” Tôi nghĩ đây là câu nói mang sức nặng triết học nhất của tác phẩm. Nó đảo ngược vị trí của con người trước lịch sử. Hôm nay, chúng ta thường vội vàng nhân danh lịch sử để phán xét nhau nhưng trong cái nhìn trăm năm, chính chúng ta mới là những người sẽ bị lịch sử phán xét. Điều hôm nay được dựng lên như chân lý vĩnh cửu, ngày mai có thể chỉ còn là một sai lầm. Điều hôm nay được tung hô như chiến thắng tuyệt đối, trong ký ức mai sau có thể chỉ là một vết thương dân tộc chưa khép miệng. Tổ Quốc Trăm Năm vì thế không phải là triết lý của chiến thắng hay thất bại. Đó là triết lý của sự khiêm tốn trước lịch sử.

Sự khiêm tốn ấy không đòi hỏi chúng ta quên nhà tù, xóa nhòa tội ác hay đánh đồng kẻ gây khổ đau với người gánh chịu khổ đau. Trái lại, nó buộc chúng ta phải nhớ cho đúng, phải trả lại tiếng nói cho những ký ức từng bị đẩy ra bên lề. Nhưng nhớ để thấu hiểu, không phải để dựng thêm một nhà tù khác trong tâm tưởng. Sau năm 1975, chiến tranh đã chấm dứt trên chiến trường nhưng vẫn tiếp tục trong ngôn ngữ, trong sách giáo khoa và trong cách người Việt nhìn nhau. Muốn thật sự chấm dứt cuộc chiến, chúng ta phải học cách sống với ký ức thay vì sống bằng ký ức: mang quá khứ theo mình mà không để bóng ma quá khứ giam giữ tương lai.

Ở điểm này, hai mạch tư tưởng tưởng như khác biệt của cuốn sách gặp nhau. Văn hóa miền Nam giữ cho Hảo còn là Hảo giữa nhà tù; Tổ Quốc Trăm Năm giúp anh vượt khỏi căn cước chỉ được tạo nên bởi nhà tù. Một bên bảo tồn cái riêng không được phép đánh mất: ký ức Nha Trang, tiếng nói miền Nam, nền giáo dục nhân bản, tình bạn và phẩm giá của người thất trận. Và một bên kia mở cái riêng ấy vào số phận chung của dân tộc. Không có ký ức, hòa giải chỉ là sự quên lãng do kẻ mạnh áp đặt. Nhưng nếu chỉ có ký ức mà không có một chân trời lớn hơn, con người sẽ mãi là tù nhân của thương tích. Tổ Quốc Trăm Năm chính là chân trời lớn hơn ấy.
 
blankblank

 
Bởi vậy, hành trình của Hảo từ Long Thành đến ngày trở về không chỉ là đường đi của một người tù qua những trại giam. Đó còn là hành trình từ một miền Nam bị tước mất lãnh thổ đến một miền Nam được bảo tồn trong văn hóa, từ căn cước bị ý thức hệ gọi tên đến căn cước được lịch sử dân tộc trả lại, từ nhà tù của kẻ chiến bại đến khoảng trời của một Tổ quốc không thuộc riêng kẻ thắng hay người thua.

Con người có thể có nhiều quê hương trong đời, nhà văn Lê Lạc Giao viết, nhưng chỉ có một Tổ quốc. Và có lẽ sau hơn nửa thế kỷ ly tán, điều cuốn sách gửi đến chúng ta không chỉ là lời chứng về những năm tháng tù đày, mà còn là một lời mời: hãy mang ký ức trở về, đặt nó dưới bầu trời rộng hơn mọi ý thức hệ, để một ngày nào đó người Việt có thể gặp lại nhau – không phải trong bóng tối của nhà tù lịch sử, mà trong ánh sáng của Tổ Quốc Trăm Năm.

Xin trân trọng giới thiệu cùng quý vị tác phẩm Tổ Quốc Trăm Năm của nhà văn Lê Lạc Giao và xin chúc mừng anh!
 

Vũ Hoàng Thư
19/9/2026

Sau khi ghé thăm Thành phố Baltimore thuộc Tiểu bang Maryland, hôm nay chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình để đến thăm Tiểu bang Pennsylvania, một tiểu bang rộng lớn, trù phú, có nhiều cảnh đẹp và di tích lịch sử của quốc gia Hoa Kỳ...
Ngày Thước bước ra, nàng không mang theo bất cứ thứ gì nàng đã sắm trong tám năm. Nhờ nàng, Thụy có ê hề những thứ nàng để lại, nào bàn, ghế, sô pha. Những TV nhỏ, lớn. Những hình, ảnh, những giỏ hoa, nàng thường để trên bàn trang điểm, vẫn còn...
Hải đảo Ga Lang vào thời điểm 1978. Hải âu bay rợp trời. Cơm xấy, cá khô, đậu hộp và là những món ăn quen thuộc của người việt tị nạn trên đảo. Cứ đến giờ là mọi người xếp hàng đi ăn, có khi không phải là đói mà vì cả thói quen, kể cả thói quen chờ đợi, chờ đợi được làm giấy tờ. Chờ đợi được ra đi đến một quốc gia nào đó… Mỹ, Pháp, Úc, Đức… đâu cũng được thôi. Quê hương Việt Nam đã rời bỏ đi rồi, thì nổi trôi đến đâu bám tới đó...
Hôm qua / ở đây là ngày đầu mùa xuân / tờ lịch rơi xuống một nụ đào / Tháng Ba sắp hết / Tháng Tư như lệ sắp trào...
Lúc đầu tôi không biết chị bị bệnh tâm thần. Về sau tôi được nghe kể về cuộc đời của chị từ một người phụ nữ Việt Nam khác, tên Loan, đã sống ở đây nhiều năm. Nhưng những chi tiết về cuộc đời ấy hầu như ngay tức khắc trượt ra khỏi trí nhớ của tôi, tôi chỉ còn nhớ người phụ nữ mắc bệnh ấy sống ở thành phố này có lẽ ít nhất cũng hai mươi năm, nhiều người bảo chị khá đẹp khi còn trẻ, bây giờ nhìn cũng vẫn hình dung được điều đó...
Bầu không khí trong phòng giam lúc nào cũng ngột ngạt khó chịu. Nỗi khó chịu ấy cứ liên tục bao trùm đến nỗi mọi người phải quen đi như một lẽ tất nhiên. Tôi càng khổ sở hơn nhiều vì đã vướng phải bệnh ghẻ mấy tháng nay. Ghẻ mỗi ngày mỗi lan ra trên tấm thân gầy còm của tôi kéo theo luôn cả sự tàn tạ về sức khỏe. Mới vài hôm đây tôi lại mắc thêm chứng tê bại, cử động tay chân rất khó khăn. Thuốc men quá thiếu, ăn uống cũng quá thiếu, tình trạng chữa trị đối với tôi thật là bi quan...
Thơ của hai nhà thơ: Trần Mộng Tú & Vĩnh Ngộ...
Mùa xuân 2023. Ngoài chuyện nhớ lại mùa xuân cách nay 48 năm với “Tháng Ba Gãy Súng” (1) và “Tháng Tư Mất Nước” (2) tôi còn nhớ đến nhiều chuyện khác nữa, nhớ nơi tôi sinh ra, nhớ nơi tôi lớn lên và học hành, nhớ nơi tôi từng công tác, nhớ Sài Gòn, nhớ Đà Lạt, nhớ Nha Trang, nhớ Cần Thơ, nhớ An Giang, nhớ đèo Hải Vân, nhớ sông Vàm Cỏ…và nhớ nhớ nhiều lắm. Nằm trong bộ nhớ của tôi còn có rất nhiều người bạn – bạn thân – bạn rất thân nữa. Một người bạn rất thân là Nguyễn Đức Quang, cùng xứ, cùng trường, cùng chơi Hướng Đạo, cùng hát Du Ca…
Có thể nói ai cũng có lần nói lái ở trong đời, đôi lúc chỉ vô tình thôi. Nếu bạn buột miệng nói “đi giữa trời nắng cực quá” hoặc khi đèn điện không sáng mà bạn nói “điện sao lu quá chừng”, người nghe sẽ cho là bạn nói tục, có oan cũng đành chịu vì, dù bạn không cố ý nhưng nắng cực, điện lu nói lái nghe tục thật. Tương tự như thế, hãy cẩn thận đừng nói dồn lại, dồn lên, đồn láo, đồn lầm…
Không biết có phải do được học tập và làm việc trong môi trường lập trình điện toán nên tôi cứ nghĩ rằng mọi việc xảy ra trên thế gian này đều được an bài qua việc lập trình sẵn. Có người cho rằng sự lập trình sẵn này là định mệnh, là do ông trời sắp đặt hay do thượng đế an bài. Tuy nhiên, sau khi được tiếp cận với giáo lý nhà Phật, tôi cho rằng không ai lập trình sẵn cho cuộc đời mình, tất cả đều do nhân duyên.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.