Hôm nay,  

Tô Đăng Khoa: Hãy để Tổ Quốc Trăm Năm phán xét chúng ta

19/09/202622:58:00(Xem: 227)

Tô Đăng Khoa: Hãy để Tổ Quốc Trăm Năm phán xét chúng ta
 

--- Lời phát biểu trong buổi ra mắt sách của Lê Lạc Giao
 

(Việt Báo: Buổi ra mắt sách TỔ QUỐC TRĂM NĂM, Hồi Ký Tiểu Thuyết của Lê Lạc Giao, đã thực hiện chiều Thứ Bảy 19/9/2026 tại Coffee Factory, Westminster. Với MC ThụyVy. Các ca sĩ Thương Linh, Thái Hoàng, Lại Tôn Dũng, Băng Tâm (đoàn Lạc Hồng). Các diễn giả Phạm Quốc Bảo, Vũ Hoàng Thư, Tô Đăng Khoa và Phan Tấn Hải.)
 
blank 

Thưa quý vị,

Giữa gần bảy trăm trang của Tổ Quốc Trăm Năm, điều giữ tôi lại lâu nhất không phải một cuộc chuyển trại hay một nhận định chính trị. Đó là một ổ bánh mì.

Sau nhiều năm trong các trại miền Bắc, Hảo nhận được bánh: “Anh chăm chú nhìn nó như gặp lại người thân bấy lâu xa cách của mình.” Ở Little Saigon, ta còn đủ sung túc để tranh luận tiệm nào ngon hơn, nhưng ít ai nhìn bánh mì như nhìn người thân.

Tại sao lịch sử chứa nổi cuộc chiến mà không chứa nổi ánh mắt kia?

Lịch sử cần số người bị giam, chính sách và trại tù. Nhưng khi khái quát, một người dễ bị hút vào phạm trù “tù cải tạo.” Bánh mì thành bằng chứng của thiếu thốn. Ánh mắt Hảo biến mất. Đó là ý nghĩa của câu: Ký ức chống lại sự hấp thụ của lịch sử. Ký ức không chống sự thật; nó không để đời sống trở thành con số.
blankblank

Vũ Hoàng Thư đọc tác phẩm như biên niên sử của miền Nam thất trận: Hảo vừa là nạn nhân, vừa là nhân chứng. Tổ Quốc Trăm Năm mở ra vị thế thứ ba: thân chứng.

Là nạn nhân, Hảo bị gọi từ sĩ quan thành “ngụy quân,” “đối tượng cải tạo,” rồi tù nhân. Là nhân chứng, ông nói: việc ấy đã xảy ra; người này đã từng sống. Ông gọi lại những người lịch sử đã gom thành đám đông.

Thân chứng đi xa hơn sự xác nhận. Kinh nghiệm đi qua thân thể rồi thay đổi cách người ấy hiểu lịch sử. Nạn nhân hỏi: “Họ đã làm gì với tôi?” Nhân chứng nói: “Điều ấy đã xảy ra.” Thân chứng hỏi: “Tôi phải hiểu lại điều gì?”

blankblank

Sử liệu xác nhận tù nhân bị đói. Nhân chứng kể mình nhận bánh. Nhưng “nhìn nó như gặp lại người thân” truyền sang người đọc cái đói, phẩm giá và cảm giác được trở về làm người. Đó là độc điểm mà phạm trù “thiếu thốn vật chất” không giữ được. Văn chương trả lại phần đời sống lịch sử để rơi.

Người thắng gọi lịch sử là “giải phóng,” người thua gọi đó là “mất nước,” bộ máy gọi Hảo là “ngụy quân.” Lê Lạc Giao đưa ra một tên khác: Tổ Quốc Trăm Năm. Tên gọi ấy đặt chế độ dưới một thước đo dài hơn nó. Chính quyền có thể hưng vong; tổ quốc vẫn mang hậu quả.

blank
Đây là chỗ thân chứng khác nhân chứng. Nhân chứng giúp lịch sử gọi đúng tên sự kiện. Thân chứng giành lại quyền gọi tên chính lịch sử. Người từng bị lịch sử gọi tên nay đặt tên cho thời đại đã đi qua mình.

Ổ bánh mì không thay đổi lịch sử. Nhưng nếu lịch sử không còn chỗ cho ánh mắt ấy, nó đã trở nên quá chật đối với con người.

Tổ Quốc Trăm Năm mở lại chỗ ấy: “Hãy để Tổ Quốc Trăm Năm phán xét chúng ta.” Và tôi đồng cảm với anh Lê Lạc Giao và anh Vũ Hoàng Thư, đó là câu nói mang sức nặng triết học nhất của tác phẩm.

Tô Đăng Khoa
19/9/2026



Thầy ngồi trên kia, sau cái bàn rộng, chỉ có một quyển sách mỏng trước mặt và không thấy ông mở ra. Như thói quen, ông không viết bài, viết dàn bài trên bảng, phấn với bảng ít khi ông dùng tới, có thể tất cả đã được sắp xếp chuẩn bị chu đáo và có lớp lang trong đầu ông. Đúng vậy, ông vẫn từ tốn nói theo những ý nghĩ dường như vẫn có sẵn trong tâm trí. Ông nói không vấp váp, từ từ, lôi cuốn và thuyết phục. Ông có một « schéma » trình tự đi tới, đi tới không hề áp đảo...
Sau 1975 những người còn ở lại miền Nam Việt Nam không biết những ai đã nghĩ ra và những ai đã là người đầu tiên ra khơi vượt biển đi tìm tự do, để cho dòng người đi sau tiếp nối không bao giờ ngừng nghỉ nếu các trại tị nạn không đóng cửa chấm dứt chương trình cưu mang những người vượt biển. Ai cũng mơ ước, cũng tính đường đi tìm tự do tùy theo hoàn cảnh khả năng tài chính của mình. Bao nhiêu người đã may mắn đến bến bờ và cũng bao nhiêu người bất hạnh bỏ xác ngoài biển khơi!
Ở xóm tôi, từ đầu xóm đến cuối xóm, hầu như nhà nào cũng có người đi vượt biên. Nhưng không phải ai cũng may mắn đến bờ tự do, bởi nếu đếm số người “đi không về và cũng không bao giờ đến” ở xóm cũng cỡ hai chục mạng người, trong đó có cô bạn rất thân yêu của tôi và một gia đình mất một lúc sáu người, đó là gia đình Bà Già Gân...
Tôi nhớ dạo còn nhỏ, ba tôi thường hay kể về chuyện “chạy giặc” cho anh em tôi nghe. Đại khái là vào những năm 1944-1945 ở Đà Lạt cũng rơi vào tình trang chiến tranh như mọi nơi khi sự hiện diện của hai quân đội Pháp lẫn Nhật trên mảnh đất Hoàng Triều Cương Thổ của nhà Nguyễn...
Thơ về Tháng Tư của hai thi sĩ Nguyễn Hàn Chung & Trần Yên Hòa.
Tôi không phải cậu trai học giỏi nên mãi đến năm mười ba tuổi tôi mới thi đậu vào trường Bưởi. Tôi thi đậu nhờ bố tôi chạy chọt nhờ vả người quen, chứ sức tôi thì tôi biết mình chẳng bao giờ được vào học cái trường trung học danh tiếng ấy...
Án Tử (Án Anh) là Tướng quốc của nước Tề thời Đông Châu. Ông người thấp nhỏ nhưng trí óc cực kỳ thông minh, đầy mưu lược. Người đánh xe cho ông lại là một người cao lớn, dềnh dàng. Anh này rất hãnh diện vì được làm công việc đánh xe cho vị Tướng quốc tài giỏi này. Thường ngày anh ta hay cầm ngọn roi ngựa trên tay, đi đâu cũng hò hét nạt nộ om sòm...
Chiều nay, Vinh ăn cơm sớm để đi họp tổ dân phố. Đường từ nhà đến trường tiểu học, nơi được chọn làm địa điểm hội họp, phải đi qua chợ Tròn. Quận lỵ nhỏ bé này có hai cái chợ không có tên, để phân biệt người ta gọi là chợ cũ và chợ mới, hay theo hình dạng là chợ dài và chợ tròn. Hai cái tên sau được ưa chuộng hơn nên lâu ngày thành tên chính thức. Chợ Tròn, là một phần của cư xá nhân viên nhà máy, được xây cất hình tròn với mái che vành khăn bằng bê tông rất đẹp, có bán gần đầy đủ các thứ cho nhu cầu ăn uống và tiêu dùng hàng ngày. Chợ tuy nhỏ nhưng nằm ở vị trí thuận tiện, chung quanh là đất trống rộng rãi, phố xá khang trang nên sinh hoạt có phần thịnh hơn chợ dài nằm trên liên tỉnh lộ, cách đó chỉ hơn một cây số.
Ngày 30 tháng 4 lại đến gần, chúng ta lại được đọc những câu chuyện kể hay được viết lại về những chuyến vượt biển hiểm nguy đi tìm cái sống trong cái chết. Những hình ảnh đau thương lại tràn về trong tâm khảm của những thuyền nhân như chúng ta. Riêng tôi, ngoài những lo sợ, những kinh hoàng bị bắn, bị rượt đuổi, tôi xin viết lại một câu chuyện buồn mà vẫn phải… cười, gọi nôm na là chuyện buồn cười...
Thơ tháng Tư của hai thi sĩ: Trần Hoàng Vy & Lê Minh Hiền
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.