Hôm nay,  

Tô Đăng Khoa: Hãy để Tổ Quốc Trăm Năm phán xét chúng ta

19/09/202622:58:00(Xem: 380)

Tô Đăng Khoa: Hãy để Tổ Quốc Trăm Năm phán xét chúng ta
 

--- Lời phát biểu trong buổi ra mắt sách của Lê Lạc Giao
 

(Việt Báo: Buổi ra mắt sách TỔ QUỐC TRĂM NĂM, Hồi Ký Tiểu Thuyết của Lê Lạc Giao, đã thực hiện chiều Thứ Bảy 19/9/2026 tại Coffee Factory, Westminster. Với MC ThụyVy. Các ca sĩ Thương Linh, Thái Hoàng, Lại Tôn Dũng, Băng Tâm (đoàn Lạc Hồng). Các diễn giả Phạm Quốc Bảo, Vũ Hoàng Thư, Tô Đăng Khoa và Phan Tấn Hải.)
 
blank 

Thưa quý vị,

Giữa gần bảy trăm trang của Tổ Quốc Trăm Năm, điều giữ tôi lại lâu nhất không phải một cuộc chuyển trại hay một nhận định chính trị. Đó là một ổ bánh mì.

Sau nhiều năm trong các trại miền Bắc, Hảo nhận được bánh: “Anh chăm chú nhìn nó như gặp lại người thân bấy lâu xa cách của mình.” Ở Little Saigon, ta còn đủ sung túc để tranh luận tiệm nào ngon hơn, nhưng ít ai nhìn bánh mì như nhìn người thân.

Tại sao lịch sử chứa nổi cuộc chiến mà không chứa nổi ánh mắt kia?

Lịch sử cần số người bị giam, chính sách và trại tù. Nhưng khi khái quát, một người dễ bị hút vào phạm trù “tù cải tạo.” Bánh mì thành bằng chứng của thiếu thốn. Ánh mắt Hảo biến mất. Đó là ý nghĩa của câu: Ký ức chống lại sự hấp thụ của lịch sử. Ký ức không chống sự thật; nó không để đời sống trở thành con số.
blankblank

Vũ Hoàng Thư đọc tác phẩm như biên niên sử của miền Nam thất trận: Hảo vừa là nạn nhân, vừa là nhân chứng. Tổ Quốc Trăm Năm mở ra vị thế thứ ba: thân chứng.

Là nạn nhân, Hảo bị gọi từ sĩ quan thành “ngụy quân,” “đối tượng cải tạo,” rồi tù nhân. Là nhân chứng, ông nói: việc ấy đã xảy ra; người này đã từng sống. Ông gọi lại những người lịch sử đã gom thành đám đông.

Thân chứng đi xa hơn sự xác nhận. Kinh nghiệm đi qua thân thể rồi thay đổi cách người ấy hiểu lịch sử. Nạn nhân hỏi: “Họ đã làm gì với tôi?” Nhân chứng nói: “Điều ấy đã xảy ra.” Thân chứng hỏi: “Tôi phải hiểu lại điều gì?”

blankblank

Sử liệu xác nhận tù nhân bị đói. Nhân chứng kể mình nhận bánh. Nhưng “nhìn nó như gặp lại người thân” truyền sang người đọc cái đói, phẩm giá và cảm giác được trở về làm người. Đó là độc điểm mà phạm trù “thiếu thốn vật chất” không giữ được. Văn chương trả lại phần đời sống lịch sử để rơi.

Người thắng gọi lịch sử là “giải phóng,” người thua gọi đó là “mất nước,” bộ máy gọi Hảo là “ngụy quân.” Lê Lạc Giao đưa ra một tên khác: Tổ Quốc Trăm Năm. Tên gọi ấy đặt chế độ dưới một thước đo dài hơn nó. Chính quyền có thể hưng vong; tổ quốc vẫn mang hậu quả.

blank
Đây là chỗ thân chứng khác nhân chứng. Nhân chứng giúp lịch sử gọi đúng tên sự kiện. Thân chứng giành lại quyền gọi tên chính lịch sử. Người từng bị lịch sử gọi tên nay đặt tên cho thời đại đã đi qua mình.

Ổ bánh mì không thay đổi lịch sử. Nhưng nếu lịch sử không còn chỗ cho ánh mắt ấy, nó đã trở nên quá chật đối với con người.

Tổ Quốc Trăm Năm mở lại chỗ ấy: “Hãy để Tổ Quốc Trăm Năm phán xét chúng ta.” Và tôi đồng cảm với anh Lê Lạc Giao và anh Vũ Hoàng Thư, đó là câu nói mang sức nặng triết học nhất của tác phẩm.

Tô Đăng Khoa
19/9/2026



Cuộc sống vẫn tiếp diễn như muôn thuở, muôn đời, có khổ đau xen lẫn hạnh phúc, với những ngày buồn bên cạnh những ngày vui, và biết đâu, có ngày chồng tôi lại được “tái ngộ” món gà cà ri nấu với cà rốt, và cuộc chiến lại bắt đầu...
Thế là thêm một lần nữa tiễn người đi, người ấy dù khác chủng tộc màu da, khác tập quán văn hóa, khác quan điểm nhân sinh… Nhưng người ấy vẫn là môt con người, có đầy đủ lục căn, thất tình lục dục; một hữu tình chúng sanh có Phật tánh và đầy đủ cơ hội để phát triển.
Mùa hè ở thành phố San Jose, nơi tôi đang ở, với cái nóng tròm trèm trên dưới 100 độ F (37.8 độ C) đang xồng xộc tới. Vào những ngày cuối tuần, nhiều người trong thành phố cố chạy thoát khỏi cái nóng bằng cách lái xe từng đoàn lũ lượt, vội vã rời khỏi thành phố đông đúc để tới những vùng bãi biển lân cận êm đềm tìm gió mát hay tắm biển. Những bãi biển đẹp và thơ mộng nổi tiếng ở vùng bắc California như Monterey, Santa Cruz hay San Francisco, xe cộ luôn được nêm cứng không một chỗ hở dọc theo những bờ biển đó...
Như những cô học trò nhỏ, áo trắng điệu đà tha thướt, tôi còn có thêm giọng nói êm êm, thanh thoát và dịu dàng. Chúng tôi, những cô thiếu nữ đẹp như trăng, sáng rỡ và líu lo những khi tới lớp, những lúc tan trường...
Tuần trước đi chợ chị Bông đã biết sắp đến sinh nhật của cháu nội yêu Betsy, chị mua ngay một tấm thiệp đẹp để sẵn vậy mà chị Bông lại quên mất...
Năm 2010, biết tôi qua Mỹ, nhân dịp Hội Ngộ Trường IVS (International Voluntary Service), nhà văn Đặng Phú Phong đề nghị giúp tôi in sách và tổ chức ra mắt sách ở nam California...
Ba chở tôi đến phi trường Phú Bài, Huế, đón cậu em từ Đà Lạt ra để giúp Ba và tôi trong việc làm ăn của Ba. Me và ba em kia vẫn đi làm đi học ở xứ sở sương mù. Gặp lại em Vũ sau nhiều tháng xa cách, thật mừng rỡ. Lúc xưa cả gia đình Ba Me và sáu người con đều quây quần, rồi chị và anh lớn đi xa để tiếp tục việc học, còn lại bốn chị em rất thân nhau. Ôi bao nhiêu kỷ niệm...
Tháng 7 là tháng của Hiệp định Genève chia đôi đất nước, chấm dứt cuộc chiến Pháp-Việt 9 năm, nhưng bắt đầu cuộc chiến Nam-Bắc tương tàn 20 năm sau đó. Để đánh dấu ngày Quốc Hận 20/7, Việt Báo xin đăng lại bài Ký về miền đất Quảng Trị nơi có con sông Bến Hải ngăn chia hai miền, của một tác giả có bút hiệu là Người Xứ Huế (mà chúng tôi không biết là ai) do nhà văn Trần Vũ viết giới thiệu…
Ai Cập được biết đến và nổi tiếng qua nữ hoàng Cleopatra, và hai kỳ quan thế giới cổ đại, là kim tự tháp Kheops và ngọn hải đăng Alexandria. Mối tình bất tử của Cleopatra với Mark Antony cũng là một thiên tình sử bi đát. Đến cái chết của nữ hoàng Ai Cập cũng bao phủ một màn bí mật, khiến cho những nhà nghiên cứu tham gia khám phá. Cuộc đời, với tài năng trị nước và những mối tình của Cleopatra là nguồn cảm hứng của vô số sách vở, kịch nghệ, hội họa, điện ảnh, và hơn 30 vở Opera. Nhà soạn kịch trứ danh William Shakespeare với vở Antony và Cleopatra, điện ảnh Hollywood với nhiều bộ phim vĩ đại về Cleopatra, nhưng ấn tượng nhất là Elizabeth Taylor và Richard Burton trong bộ phim năm 1963...
Ai cũng biết giấy là một vật rất quan trọng trong cuộc sống của nhân loại. Thời xa xưa, giấy vừa quý hiếm vừa mắc, chỉ được dùng trong việc ghi chép kinh kệ trong các nghi lễ tôn giáo, và cho các văn tự trong cung đình của vua chúa. Giấy được chế tạo lần đầu tiên vào năm 105 AD trước Công Nguyên, bên Tàu, bởi một quan thái giám tên Ts’ai Lun (1). Nhưng hôm nay, tôi chỉ xin nói đến một khía cạnh “cực kỳ” quan trọng không kém của giấy, có khi quan trọng hơn là đằng khác trong thời đại chúng ta đang sống hôm nay, là giấy vệ sinh (toilet/bathroom tissue), nói nôm na là giấy đi cầu...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.