Hôm nay,  

Lại Nói Về Bất Hạnh

30/11/200400:00:00(Xem: 5882)
2

Nếu nói về công bằng, thì muôn đời, văn học miền nam, hay bất kỳ một thứ văn học nào khác, đều không thể so với văn học Cách Mạng, theo nghĩa, nó còn là bùa hộ mệnh, một thứ trừ tà, giống như gương trừ tà, bùa Lỗ Ban...
Bạn cứ thử tưởng tượng, một anh công an vô nhà một ông nhà văn miền bắc, không nhìn thấy một bộ Lênin toàn tập, Bác Hồ toàn tập... nằm chễm chệ tại tủ sách, anh ta sẽ nghĩ như thế nào" Tên này thuộc đám Nhân Văn Giai Phẩm hả"
Tình cảnh này đã xẩy ra cho nhà thơ Nga, Osip Mandelstam.

Trong Hy Vọng Chống lại Hy Vọng, Hy Vọng Dù Không Còn Hy Vọng, Hope Against Hope, hồi ký của Nadezhda Mandelstam viết về chồng, nhà thơ Osip Mandelstam đã bị Stalin sát hại, [đoạn "Kệ Sách"], bà kể lại:
Cách đây hơn phần tư thế kỷ, vào ngày kỷ niệm Lễ Lao Động, 1938, tôi trở lại Moscow từ Samatikha, một căn nhà nghỉ gần Murom, nơi M. [Osip Mandelstam, chồng bà], đã bị bắt. Hy vọng có tí đồ thăm nuôi, giúp ông sống qua những ngày chờ đợi số mệnh quyết định, tôi lấy vài cuốn trên kệ sách, và đem bán cho một chủ tiệm bán sách cũ, và dùng tiền để mua tem phiếu thực phẩm gửi cho ông. Gói đồ thăm nuôi đã bị gửi trả lại, với lời ghi, "bởi vì người nhận đã chết".
Tôi vẫn khăng khăng với ý nghĩ làm sao lưu giữ một số sách vở của chúng tôi, như thể nhờ đó mà vẫn còn giữ mãi được ảo tưởng, rằng cuộc sống của vợ chồng chúng tôi chẳng có gì thay đổi, tụi khốn nạn không làm sao làm cho chúng tôi đau khổ, trở thành những nạn nhân của chúng.
Ngoài ra, còn là mối quan tâm của M. đối với thập niên 1930.
Tuy đành phải đem bán, nhưng tôi có ghi tên tất cả những cuốn sách đó, chắc là không đầy đủ, vì hoàn cảnh lúc bấy giờ, làm sao nhớ hết nổi. Số sách còn lại, tức những cuốn tiệm mua bán sách cũ lắc đầu, tôi gửi ở chỗ người anh/em của tôi, là Evgeni, bởi hoàn cảnh như tôi làm sao cất giữ"
Chúng tôi bắt đầu mua sách, khi tôi có việc làm ở cơ quan in ấn For a Communist Education. Mỗi tháng họ cho tôi một phiếu mua sách, “voucher for the acquisition of books”, đây là nằm trong chính sách trồng người của nhà nước. “Chỉ những cuốn quan trọng”, tay sếp của tôi nhắc nhở, lần đưa phiếu mua sách đầu tiên. Ông đặc biệt nhấn mạnh, quan trọng nhất, là bộ sáu cuốn Lênin và tuyển tập Stalin, lúc đó đang ra lò. Tất cả bè bạn của chúng tôi thì đều đã có toàn bộ sách kinh điển của chủ nghĩa Mác xít - Lên nin nít, làm sao không" Chúng nằm thành hàng, một cách uy nghi, trên kệ sách, và là “khuôn mẫu trí thức” của bất cứ một căn hộ nào. Những ông thầy bà thầy của chế độ thì rất minh bạch về chuyện này, khi dậy dỗ những thế hệ tiếp nối. Stalin thực sự tin rằng nếu tất cả những nhà trí thức “cầy nát bấy” tất cả những tác phẩm đó [properly read: đọc tới nơi tới chốn], lập tức, họ thấm nhập, và hoàn toàn “được” thuyết phục, bởi tính lô gíc không thể nào bắt bẻ được ở trong đó, và từ bỏ ba thứ tư tưởng hão huyền mang tính lý tưởng của họ. Văn học cách mạng Mác xít là phải được đòi hỏi ở mức độ đỉnh cao như thế.
Cái anh nhóc mật vụ mặt búng ra sữa, trong lần khám xét căn hộ của chúng tôi, và sau đó, bắt giữ M., đã hết sức sửng sốt, khi không nhìn thấy văn học Mác xít ở trên kệ sách của chúng tôi. Anh ta lõ mắt ra, và hỏi:
“Như vậy là các người bầy những cuốn sách kinh điển Mác Xít ở đâu"”
M. ghé tai tôi nói nhỏ:
“Đây là lần đầu tiên chú nhỏ mầm non cách mạng này đi bắt người, mà không nhìn thấy bùa trừ tà ở trong nhà nạn nhân.”


[This is the first time he’s arrested anybody who doesn’t have Marx”: Lần đầu tiên anh ta bắt một kẻ không có Marx].
Nói chung, chúng tôi không có những cuốn bùa trừ tà, tức những cuốn sách kinh điển của văn học Mác xít, mặc dù đây là chuyện cần thiết, phải nói là bắt buộc, đúng như bạn bè thường khuyên bảo, và thúc giục. Không chỉ sách Mác xít. Một ông bạn thân đã khuyên M. mua bộ từ điển tiếng Tây, Larousse, vì theo ông, nó rất cần cho việc dịch thuật. Đó là giữa thập niên 1920. khi M. không còn cách nào khác, đành trông vào việc dịch sách để nuôi thân. Bộ Larousse đó vẫn chưa được cởi bỏ những sợi dây buộc, cho tới khi được chuyển giao cho người bán sách cũ, khi M. thất bại trong cái nghề kiếm cơm bằng dịch sách.
Không chỉ dửng dưng với những bộ sách kinh điển của chủ nghĩa Mác, M. còn dửng dưng cả với chuyện sưu tầm sách. Ông chẳng bao giờ mò tìm sách quí, sách hiếm, và chẳng bao giờ mê có đủ nguyên bộ, một tác giả nào đó. Tất cả những cuốn sách mà ông cần, chúng đều liên quan tới một liên hệ bạn bè, hay tình cảm rất đỗi tư riêng, của riêng ông. Ngoài ra, còn những cuốn, tuy có giá trị tình cảm nhưng không vì thế mà cứ khư khư ôm giữ chúng. Thí dụ như một lần ông để Katayev lấy đi cuốn My Sister Life của Pasternak, chỉ ít lâu sau khi cuốn này được xuất bản. “Cái tôi cần thì đã nhớ. Anh ta cần hơn tôi”. M giải thích.
M. ít khi tỏ ra thích thú, về cái chuyện tìm tòi sách cũ sách hiếm của tôi. Một lần, tôi kiếm được cuốn Cor Arden của Ivanov, trong đống sách cũ. Chúng tôi đã từng có nó, nhưng đã làm mất, hoặc đã cho ai. M. hoàn toàn dửng dưng, “Tại sao lại làm lại một chuyện đã từng làm, Why the same thing again"”. Đó là một điều đã thuộc về quá khứ, và M không muốn, chẳng bao giờ muốn trở lại, có lẽ phải nói, lập lại. Nhưng có lúc, ông tỏ ra rất hài lòng, thí dụ như với bộ sách của Burger. “Em luôn biết làm hài lòng anh, luôn biết điều anh cần!” Nhưng điều này không đúng, ngoại trừ với bộ sách của Burger. Nghĩa là, ông dửng dưng với vô số điều mà tôi tặng ông.
[… ]
Trong số những tác phẩm chúng tôi có hồi thập niên 1930, không có những nhà thơ của thế kỷ 20 ngoại trừ Annenski, hai tay Acmeists, Gumilev và Akhmatova, cộng thêm ba thứ lính tinh. M để ý tới thơ ca thế kỷ 20 vào năm 1922, khi có hai tay còn trẻ tính thử vận may của họ bằng nghề xb tư, họ tới gặp ông, đề nghị làm một tuyển tập thơ Nga, từ đám thi sĩ Biểu Tượng “cho tới bi giờ”…. Cuối cùng tuyển tập thơ bị kiểm duyệt ngăn chặn không cho xb, vì không chịu đưa vào trong đó những nhà thơ “vô sản”, những nhà thơ đã được nhà nước bảo trợ [sponsored by the State]. Tên tuổi của mấy ông này bây giờ hoàn toàn đi vào quên lãng, và tôi không thể nào nhớ nổi, những ông nào đã được kiểm duyệt khuyến cáo phải đưa vô tuyển tập. Tay kiểm duyệt còn khuyến cáo, cần phải đưa ra khỏi tuyển tập rất nhiều nhà thơ lớn, mà anh ta kết án là “trưởng giả và xa lạ, ngoại lai, nhìn từ quan điểm giai cấp”.
“Cái đó nghĩa là gì"” Đó là câu M. hay hỏi, khi đụng một câu thơ làm ông bực mình. Thí dụ như lần ông đụng câu thơ nổi tiếng của Mayakovski: “Thần thánh của chúng ta là vận tốc; của trái tim, cái trống”. Bản thân tôi, rất mê sự réo rắt của câu thơ, vì M. mà tôi đâm ra tư lự, và tìm hiểu ý nghĩa của nó.
[còn tiếp]
NQT
tanvien.net

Rất ít từ nào được liên kết một cách chặt chẽ với Henry Kissinger quá cố hơn là "hòa hoãn". Thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng trong ngành ngoại giao vào đầu những năm 1900, khi vị đại sứ Pháp tại Đức đã cố gắng - và thất bại - để cải thiện mối quan hệ đang xấu đi của đất nước của ông với Berlin, và vào năm 1912, khi các nhà ngoại giao Anh cố gắng làm điều tương tự...
Năm 2022 Bắc Kinh phong tỏa nghiêm nhặc nhiều thành phố lớn (gồm cả Thượng Hải) khi đại dịch Vũ Hán bùng phát trở lại ở Trung Quốc , sang đến đầu năm 2023 lại đột ngột hủy bỏ mọi lệnh cấm. Thế giới cho rằng nền kinh tế Trung Quốc sẽ phát triển nhảy vọt sau một thời gian dài bị kềm hãm nhưng trong thực tế tăng trưởng trì trệ khác với mong đợi. Sau 30 năm tương đối dễ thở dân Tàu chợt nhớ mình vẫn sống ngột ngạt dưới chế độ toàn trị...
LTS. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Tổng Trưởng Kế Hoạch VNCH, là người được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ủy thác nhiều công việc trong những ngày tháng cuối, trước khi Sàigòn sụp đổ . Tại Hoa Kỳ, sau 1975, ông là tác giả nhiều cuốn sách được phổ biến rộng rãi như "Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập", "Khi Đồng Minh Tháo Chạy", "Khi Đồng Minh Nhảy Vào", và sắp xuất bản cuốn BỨC TỬ VNCH - KISSINGER VÀ 8 THỦ ĐOẠN NHAM HIỂM. Mời đọc bài viết mới nhất được tác giả gửi cho Việt Báo.
Tuy nhiên trong trường hợp các chế độ độc tài, thì câu trả lời rất phức tạp. Lý do là chế độc độc tài nào cũng “làm ra vẻ” dân chủ cả. Phương pháp chung của các chế độ độc tài là sử dụng một mô hình dân chủ, nhưng “làm bẩn” hay “làm ô uế” mô hình này, bằng một số thủ thuật “ma giáo”...
Tầm quan trọng của vấn đề nhân quyền đối với Phật giáo là hiển nhiên, vì trong những thập niên gần đây chủ đề này đã thu hút được sự quan tâm. Giới lãnh đạo Phật giáo từ nhiều nước châu Á, như Đức Đạt Lai Lạt Ma (Tây Tạng), Aung San Suu Kyi (Myanmar), A. T. Ariyaratne (Sri Lanka), Maha Ghosananda (Kampuchea) và Sulak Sivaraksa (Thái Lan) đã nhiều lần bày tỏ mối quan tâm về các vấn đề xã hội và chính trị bằng cách sử dụng ngôn ngữ của nhân quyền. ..
Khi nhìn thấy các chữ cái A, B, C, D, E, F, G… nhiều người sẽ tự động muốn ngân nga bài hát bảng chữ cái. Nhưng không có lý do gì mà người ta phải học các chữ cái theo thứ tự nhất định. Có nhiều cách khác nhau để sắp xếp bảng chữ cái; và bàn phím máy tính là một thí dụ về một cách sắp xếp khác. Ngoài ra, còn có rất nhiều bảng chữ cái khác, cũng như các ngôn ngữ không sử dụng bảng chữ cái.
Khủng hoảng nhà đất hiện đe dọa sự tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc. Ngành xây cất chiếm 30% GDP (so với Hoa Kỳ 15-18% GDP) và là đầu tàu tăng trưởng thay thế cho xuất khẩu chậm lại sau khủng hoảng kinh tế ở Âu-Mỹ kể từ năm 2008. Nay đến lượt thị trường nhà đất suy thoái thì Bắc Kinh phải tìm cho ra đầu tàu mới để thay thế nhằm đạt mục tiêu phát triển 5% mỗi năm trong khi chính nhà nước còn đang lúng túng giải quyết khối nợ xấu khổng lồ ở các địa phương và của những công ty xây dựng. Bài 3 này đúc kết nhiều dữ kiện đã trình bày trước đây trong phần 1 và 2 để có cái nhìn toàn diện về khủng hoảng nhà đất ở Trung Quốc...
Gồm sử Việt và sử Trung Hoa. Sử Trung Hoa được đọc nhiều hơn cả chẳng hạn như các cuốn: Hạ Ký, cuốn sử viết về triều đại nhà Hạ; Đường Ký viết về triều đại nhà Đường; Hán Sử viết về triều đại nhà Hán ... Sử Ký là một tác phẩm đồ sộ về lịch sử nhưng cũng được coi là một tác phẩm văn học bởi văn phong mạch lạc và nhẹ nhàng của nó...
Chương 2 sẽ phân tích chính sách kinh tế của Trung Quốc trải qua nhiều giai đoạn, mục đích nhằm giúp người đọc nhận thấy một chính sách kinh tế đôi khi mất nhiều thập niên mới thấy hết hậu quả...
Sách Khải Định chính yếu (ghi lại các sự kiện thời Khải Định) chép rằng tháng Giêng năm 1919, thể thức kỳ thi Hội với những thay đổi, vua Khải Định phê: “Lần này là khoa thi Hội cuối cùng của triều đình, nên trẫm muốn gia ân cho sinh viên sĩ tử khoa mục trong cả nước, hễ ai thông thạo hai thứ chữ Nho và chữ Pháp thì trình diện Bộ Học để xin vào ứng thí”...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.