Hôm nay,  

Bush Loạn Chiêu

06/10/200500:00:00(Xem: 7259)
- Gặp rất nhiều nghịch cảnh, Tổng thống Bush chỉ điêu đứng khi nào thành phần trung kiên vẫn ủng hộ ông bắt đầu mất niềm tin. Điều ấy đang xảy ra…
Trong bài bình luận cho ban Việt ngữ BBC, được đưa lên Web của BBC ngày Thứ Hai mùng ba tháng 10 vừa rồi, người viết bài này có phân tách cái "nghiệp kỳ hai" của Tổng thống George W. Bush và nêu nhận xét là ông có chừng một tháng để trấn an các thành phần trung kiên của ông và chinh phục lại niềm tin của quần chúng. Nếu không, ông sẽ là tổng thống hết thời, cầm quyền cho hết nhiệm kỳ mà không lãnh đạo nổi…
Người ta không phải đợi một tháng.
Cùng ngày Thứ Hai đó, ông đã làm một việc trái ngược khi chỉ định Harriet Miers vào Tối cao Pháp viện. Phản ứng lập tức - trong có vài giờ - và gay gắt của nhiều phái bảo thủ về quyết định này khiến tòa Bạch Ốc lật đật - điều rất hy hữu - tổ chức cuộc họp báo tại vườn hồng Rose Garden, để ông Bush trấn an xu hướng bảo thủ ấy trong gần một tiếng đồng hồ.
Chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng đáng chú ý: ông Bush có dấu hiệu loạn chiêu khiến những người ủng hộ ông bắt đầu nêu câu hỏi về khả năng lãnh đạo của ông. Điều ấy sẽ dội ngược vào hồ sơ Iraq lẫn tư thế của Hoa Kỳ trên thế giới. Cực kỳ đáng ngại.
*
Trong thế kỷ 20, Hoa Kỳ có sáu vị tổng thống đã được tái đắc cử cho nhiệm kỳ hai và đều bị cái "nghiệp kỳ hai" khi lên đến cực thịnh khiến thành tích chung cuộc sút giảm. Đó là các ông Wilson, (Franklin) Roosevelt, Eisenhower, Nixon, Reagan và Clinton. Nếu kể thêm bốn người kế nhiệm vị tổng thống bị mất đương khi tại chức là (Theodore) Roosevelt, Coolidge, Truman và Johnson, thì hồi hai của sự nghiệp vẫn thường kém hồi đầu, có khi không được đề cử (Truman) hoặc dám tái tranh cử (Johnson). Trong một chục người ấy, ngoại lệ duy nhất nếu có là Theodore Roosevelt và Calvin Coolidge. May lắm thì Eisenhower được coi là bình hòa.
Vì sao như vậy"
Thói thường, khi được tự do hành động và chỉ còn chú ý đến vị trí của mình trong lịch sử hơn là che chắn đây đó để giành phiếu trong cuộc bầu cử tới, các vị tổng thống Mỹ trong nhiệm kỳ hai thường bị bệnh chủ quan bất cẩn. Ngoài ra, qua nhiệm kỳ hai người ta cũng dễ mệt mỏi và tìm giải pháp dễ dãi khi bận tô tượng cho mình. Rồi vì thế mà có khi vấp ngã vì chuyện không đáng. Như Nixon vì vụ Watergate, Reagan vì vụ Iran-Contra, Clinton vì vụ Monica Lewinsky, những tai tiếng để lại tỳ vết khó xóa trong lịch sử, và trước mắt, còn cản trở những kế hoạch dự tính thực hiện cho hậu thế.
Nhiều người cũng thất bại vì quyết định đối ngoại xuất phát từ nhiệm kỳ trước. Wilson chiến thắng trong Thế chiến I mà thất bại vì Quốc hội đảo ngược lập trường, chống lại kế hoạch Hội quốc liên (League of Nations) khiến ông bất lực tại hội nghị Versailles. Hòa ước Versailles vì vậy gieo mầm cho Thế chiến II. Lên kế nhiệm (Franklin) Roosevelt, Truman không kết thúc nổi chiến tranh Cao Ly. Kế nhiệm Kennedy, Johnson không giải quyết nổi chiến tranh Việt Nam. Họ thất bại nặng nên dù có muốn cũng không thể tái tranh cử.
Một khía cạnh khác của cái "nghiệp kỳ hai" là trong nhiệm kỳ hai này, vị tổng thống không được sự nhân nhượng nào của truyền thông hay đối thủ và bị phê phán nghiêm khắc hơn. Họ thường bị đả kích rất nặng, kể cả Eisenhower, và gặp sự chống đối gay gắt đến độ hằn học và tất nhiên là bất công của đối phương.
Tuy nhiên, những người dù gặp sóng gió mà vẫn tai qua nạn khỏi và cuối cùng hoàn tất được nhiệm kỳ hai đều có một nét chung: họ không bị khối quần chúng trung kiên bỏ rơi. Đó là trường hợp của Roosevelt, Eisenhower, Reagan và Clinton. Những người khác đã thất bại nặng chính là vì mất sự tín nhiệm của các thành phần đã từng ủng hộ mình: Wilson gặp sự nổi loạn trong đảng Dân chủ, Truman không được đảng Dân chủ tái đề cử, Johnson có muốn ra tái tranh cử chưa chắc đã được hậu thuẫn của đa số Dân chủ, khi đó đã đảo ngược lập trường, trở thành phản chiến. Nixon phải từ chức khi gặp sức chống rất mạnh của các Nghị sĩ Cộng hòa.
Nói vắn tắt, các tổng thống Mỹ có thể bị vấp ngã trong nhiệm kỳ hai vì 1) chủ quan bất cẩn, 2) mệt mỏi đâm ra lười biếng, 3) lãnh di sản nặng nề của nhiệm kỳ một, 4) và bị tấn công rất nặng vì mọi chuyện. Nhưng họ vẫn có thể vượt qua sóng gió để hoàn tất nhiệm kỳ nếu còn hậu thuẫn của các thành phần quần chúng trung kiên của mình. Nếu không, họ hết thời và nước Mỹ sẽ bị khủng hoảng.
Tổng thống Bush không thể không biết điều ấy: ông đã bất cẩn trong vụ Katrina, có thể vì hao mòn sức lực và tâm trí, lại đang lãnh di sản Iraq và bị đối lập và truyền thông, đa số là thiên tả, tấn công rất gắt. Trong tháng Tám, dù kinh tế tăng trưởng khả quan, tỷ lệ tín nhiệm của ông Bush vẫn sa sút vì vụ Iraq. Trong tháng Chín, vụ Katrina đẩy tỷ lệ bất tín nhiệm lên quá 60% và đấy là lúc ông cần tựa vào thành đồng bảo thủ để tìm thế phản công. Nếu họ có hoài nghi về khả năng lãnh đạo, thí dụ như tại Iraq, thì vẫn tin tưởng vào cá tính chân thành và quả quyết của Tổng thống, là điều ông Bush đã chứng tỏ trong suốt năm năm qua.
Suốt tháng Chín, ông Bush có cơ hội tổng phản công sau vụ Katrina nhưng kết quả lại trái ngược. Ông bọc xuôi theo dư luận để tung ra kế hoạch tăng chi sặc mùi bao cấp hầu chuộc lỗi sơ sẩy tại Katrina trong khi ban tham mưu quân sự của ông nói ra những mâu thuẫn về vụ Iraq, đôn quân hay rút quân đều cần như nhau! Chưa ra khỏi Iraq, ông Bush đã hai lần vấp ngã trong trận Katrina, trước và sau bão lụt.
Điều đáng kinh ngạc và đáng thất vọng cho quần chúng bảo thủ là trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, ông lại bổ nhiệm luật sư riêng của mình là bà Harriet Miers vào ghế Thẩm phán Tối cao Pháp viện thay bà Sandra O'Connor đã xin về hưu từ tháng Bảy. Họ đang kết luận là chẳng những có khả năng lãnh đạo kém, ông Bush còn mất đức tính đáng kính là kiên định lập trường và chí công vô tư. Yếu tố sau cùng ấy mới đáng chú ý.
Nếu đảng Cộng hòa thất cử nặng vào năm tới và sẽ mất cả tòa Bạch Ốc lẫn Quốc hội vào năm 2008, người ta sẽ nhớ đến ngày mùng ba tháng 10 vừa rồi và Harriet Miers.
Khi O'Connor ngỏ ý xin về hưu, Tổng thống Bush và ban tham mưu đã phải có quyết định được chờ đợi từ lâu, đó là tìm người thay thế vị phụ nữ đầu tiên vào Tối cao Pháp viện do quyết định bổ nhiệm của Tổng thống Reagan. Bà O'Connor này là người có khả năng, uy tín và từ xu hướng bảo thủ đã chuyển dịch vào lập trường ôn hòa ở giữa, giữ vị trí bản lề cho các phán quyết của Tối cao Pháp viện gồm chín người.
Nếu người thay thế bà mà có lập trường bảo thủ, Tối cao Pháp viện sẽ ngả về cánh hữu với tỷ lệ 5-4, qua chủ trương suy diễn Hiến pháp theo sát tinh thần nguyên thủy, giới hạn vai trò của chính quyền Liên bang để tăng cường vai trò của Tiểu bang và địa phương, tôn trọng kỷ cương và đạo đức xã hội (hạn chế phá thai và chống hôn nhân đồng tính chẳng hạn) và nhất là ngăn cản trào lưu làm luật theo xu hướng thiên tả và can thiệp của Quốc hội.
Tổng thống Bush đã chọn Thẩm phán John Roberts vào vị trí ấy. Ông là người có thực tài, uy tín và lại bảo thủ nên sẽ đẩy Tối cao Pháp viện về cánh hữu theo ý nguyện của thành phần bảo thủ xưa nay vẫn kiên trì ủng hộ Bush trong hai kỳ tranh cử, dù ông gặp nhiều vấp váp tại Iraq. Điều bất ngờ là Chủ tịch cơ chế tối cao này là ông William Rehquist - một nhân vật bảo thủ do Nixon bổ nhiệm - lại qua đời hôm mùng ba tháng Chín. Bất ngờ hơn nữa, ông Bush lại đôn luôn Thẩm phán Roberts vào ghế Chủ tịch ấy. Ông Roberts xuất sắc vượt qua các cuộc điều trần và được Thượng viện phê chuẩn với phân nửa lá phiếu Dân chủ để chủ tọa phiên họp đầu tiên của Tối cao Pháp viện mới, vào ngày mùng ba vừa qua, một biến cố rất đáng chú ý.

Nhưng biến cố ấy bị nhận chìm bởi quyết định cùng ngày của ông Bush là bổ nhiệm Harriet Miers vào ghế O'Connor. Đây là sai lầm khó tha thứ về thời điểm vì làm giảm mất ý nghĩa của thắng lợi John Roberts. Chính quyền Bush chưa khi nào xuất sắc trên mặt trận tuyên truyền và chiến tranh tâm lý, lần này thì lại quá tệ.
Với việc đôn một người bảo thủ vào vị trí của một người bảo thủ vừa quá vãng, cán cân lực lượng tả hữu tại Tối cao Pháp viện lại chuyển dịch về chỗ cũ và ông Bush phải tìm ra người thay thế lá phiếu bản lề của bà O'Connor.
Ông không chọn một trong hàng chục người có uy tín, thực tài hay lập trường rõ rệt mà chọn lại một luật sư riêng của mình từ thời Texas, một người đã theo ông vào tòa Bạch Ốc và trở thành nhân vật thân tín của tổng thống trong các quyết định liên hệ đến pháp luật. Mà hồ sơ pháp luật trên bàn của tổng thống chính là vấn đề chính trị của quốc dân.
Bà Miers gặp sự chống đối từ các nhóm bảo thủ không phải vì chưa từng là thẩm phán mà vì 1) không ai biết chủ trương rõ rệt của bà ra sao, 2) có tư thế dính liền đến tổng thống, 3) chứ không là một nhà tư tưởng có viễn kiến hay thẩm quyền về luật Hiến pháp, và quan trọng nhất đối với dư luận bảo thủ, 4) bà lấy mất chỗ của nhiều nhân vật xứng đáng hơn. Trong số này, có hai nhân vật đáng chú ý là một nữ thẩm phán da đen, bảo thủ, gốc California, hoặc Giáo sư Đinh Việt, có thẩm quyền về luật Hiến pháp, rất quen biết trong cộng đồng Việt Nam và được kính trọng trong bộ Tư pháp Mỹ khi góp phần soạn thảo đạo luật Patriot Act.
Nói vắn tắt, nếu không là một phụ nữ, lại là tay chân thân tín của tổng thống, không đời nào bà Miers có thể vượt qua cả chục nhân vật khác để được đề cử vào Tối cao Pháp viện.
Quyết định của Bush bị chỉ trích vì ông hành xử y hệt như đảng Dân chủ, là cố tính đề cử nhân sự chỉ vì lý do chính trị mị dân (phụ nữ hay da màu) chứ không vì khả năng. Ông cũng mặc nhiên xác nhận điều mà đảng Dân chủ xưa nay vẫn công kích, là đưa tay chân vào việc nước. Ông Bush càng cố gắng chứng minh khả năng của bà Miers lại càng kẹt: ông biết rõ khả năng ấy hơn thiên hạ vì Miers là luật sư thân tín của ông. Tức là Hoa Kỳ lại trở về chế độ thân tộc, lãnh đạo đưa tay chân vào nắm quyền, v.v…. Sau những đồn đãi oan về tổ hợp Halliburton đến vụ rút lui của Giám đốc FEMA, nhân vật kém khả năng được bổ nhiệm vì lý do chính trị, việc đưa Miers vào Tối cao Pháp viện chứng tỏ nhược điểm về cá tính con người, không chỉ về khả năng lãnh đạo, của ông Bush.
Khi thấy đối thủ sa hố, đảng Dân chủ tất nhiên vỗ tay. Họ chưa có một ai hoặc một chủ trương nào thống nhất, khả tín hay khả thi, về ngần ấy vấn đề đối nội và đối ngoại, nên nhiệt liệt hoan nghênh quyết định về bà Miers và ngồi nhìn thành đồng bảo thủ của ông Bush tan rã.
Điều ấy không sai.
Nhìn trên bề mặt, đảng Cộng hòa đang lãnh đạo Hành pháp, chiếm đa số tại lưỡng viện Quốc hội và có thế mạnh tại Tối cao Pháp viện, nhưng không phải là không có vấn đề vì cuộc chiến chống khủng bố chưa ngã ngũ mà nội bộ thuần nhất đang rạn nứt dần. Khi nói đến "phe bảo thủ" ta cần phân biệt khá nhiều phái. Từ vụ Katrina qua vụ Miers, ông Bush đang chuyển phe thành phái. Đã vậy, thành đồng ấy của ông đang lập chiến hào đả kích lẫn nhau và nay công khai than phiền khả năng lãnh đạo lẫn cá tính con người của ông.
Trong phe bảo thủ, ta có sự đối nghịch giữa phái giản chánh - chống bao cấp và muốn thu hẹp vai trò của bộ máy hành chánh công quyền - và phái tăng chi nhằm mở rộng sự can thiệp của chính quyền. Tôn chỉ "bảo thủ với từ tâm" của ông Bush biến thành bảo thủ nhưng bao cấp, mặc tình tăng chi để ban phát quyền lợi, bất chấp khiếm hụt ngân sách và các khoản chi mị dân - không chính đáng nhưng dễ hốt phiếu.
Trong phe bảo thủ, ta có phái bảo thủ kinh tế hay kinh doanh đối nghịch với phái bảo thủ tôn giáo. Phái bảo thủ kinh doanh rất khó chịu về sự ồn ào của phái bảo thủ tôn giáo, thí dụ như họ thất vọng với quyết định hạn chế nghiên cứu phôi bào (stem cell) vì lý do tín ngưỡng. Nhiều doanh gia đã kín đáo phản đối ông Bush và gọi phái bảo thủ tôn giáo là Taliban - chế độ giáo quyền Afghanistan đã dung dưỡng khủng bố.
Trong phe bảo thủ, ta có phái bảo thủ tôn giáo đối nghịch với phái hoài nghi vai trò của chính quyền liên bang. Phái bảo thủ tôn giáo đòi chính quyền liên bang phải can thiệp, qua luật lệ, để chấn hưng đạo đức hay phát huy tín ngưỡng. Ngược lại, phái kia không muốn chính quyền can thiệp vào các quyết định riêng tư của đời sống, thí dụ như việc trợ tử đang được Tối cao Pháp viện đưa ra thảo luận tuần này, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch John Roberts.
Trong phe bảo thủ, ta có phái địa phương đối địch với phái trung ương. Phái địa phương gồm các tiểu bang miền Tây và miền Nam luôn luôn nghi ngờ trò xào nấu chính trị ở thủ đô, trong khi phái trung ương thì say đòn với hai lần thắng cử và muốn dùng thủ đô làm bàn đạp bành trướng ảnh hưởng. Phái địa phương e là phái trung ương lấn lướt vai trò của địa phương và rơi vào thói quen đổi chác chính trị rất tồi bại ở thủ đô.
Trong phe bảo thủ, ta còn có phái cổ chống phái tân. Phái tân bảo thủ đã đẩy mạnh việc phát huy dân chủ và xây dựng nền móng quốc gia ở các nước khác để diệt trừ khủng bố và bảo vệ quyền lợi của Mỹ trên toàn cầu. Phái bảo thủ cổ điển và thực tiễn thì cho rằng Hoa Kỳ chưa và sẽ không thắng tại Iraq, chi bằng nên dàn xếp giải pháp thỏa hiệp để rút quân về bảo vệ lấy thân ở nhà. Vả lại, cùng phe bảo thủ với nhau và cùng chia sẻ một sự hoài nghi chung về vai trò của chính quyền, cớ sao lại muốn thiết lập loại chính quyền ấy ở các xứ khác"
Cho đến nay, năm phe mười phái ấy vẫn kín đáo vận động vào chính quyền Bush và tin rằng nếu ông Bush còn mạnh thì chủ trương của họ còn có hy vọng được thực hiện. Vì vậy, dù có hoài nghi kết quả đối ngoại - khủng bố, Afghanistan, Iraq, Iran, Bắc Hàn, Trung Quốc, v.v… - họ vẫn trung thành ủng hộ tổng thống. Bây giờ, niềm tin ấy đang bị soi mòn…
Họ kết luận: ông Bush hết là giải pháp đắc lực và có thể đi từ thất bại này qua thất bại khác. Trong khi ấy, nhiều vị đại diện dân cử còn phải chuẩn bị cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, vào năm tới. Sự nghiệp chính trị của họ tại địa phương trở thành quan trọng hơn việc bênh vực Bush trên các hồ sơ thuộc loại toàn quốc. Họ sẽ buông tay, không ủng hộ những quyết định cải cách lớn lao mà đầy rủi ro của tổng thống.
Những vấn đề trên tất nhiên là đang ám ảnh ban tham mưu của Bush và họ phải chuẩn bị một phép lạ mới có thể đảo ngược tình hình. Vài người lạc quan thì cho là bà Miers sẽ gỡ rối cho thượng cấp bằng cách rút lui để ông Bush sửa sai. Nhưng chính ông Bush đã cho biết, bà nhỏ con mà là thứ dữ ("pitt bull đi giày số sáu"), nên bà sẽ chẳng lùi, nhất là khi đảng Dân chủ sẽ trải chiếu hoa cho bà bước lên.
Nếu không bị khủng hoảng trong nội bộ vì làn sóng ngầm của xu hướng cực tả, phản chiến, mị dân và vô trách nhiệm đang nổi lên từ cơ sở, lãnh đạo đảng Dân chủ có một cơ hội rất lớn để giành lại đa số trong Quốc hội vào tháng 11 năm tới và chuẩn bị cho cuộc tranh cử 2008. Họ càng có hy vọng ấy khi kinh tế Mỹ có thể bất ngờ sa sút vào năm tới, là điều chúng ta sẽ tìm hiểu sau.
Nhưng, một ông Bush vấp ngã sẽ khiến Hoa Kỳ không thể ứng phó với rất nhiều vấn đề trọng đại đang xảy ra trên khắp thế giới. Đảng Dân chủ có khả năng lãnh đạo và ứng phó hay không" E rằng không - hoặc chưa. Chẳng lẽ ông Bush tồn tại không vì khả năng của mình và vì đối phương còn kém mình rất xa!
Và đấy mới là vấn đề.

Vào thế kỷ 15, một hoàng đế nhà Minh ra lệnh biên soạn bộ Vĩnh Lạc Đại Điển, gồm gần 23.000 cuộn bản thảo. Suốt khoảng 600 năm, đây là bộ bách khoa toàn thư lớn nhất lịch sử nhân loại. Kỷ lục ấy chỉ bị phá vỡ khi Wikipedia — một dự án khởi đầu trong văn phòng nhỏ, bừa bộn ở Florida — vượt qua nó sau vỏn vẹn sáu năm hoạt động. Ngày nay, Wikipedia chứa khoảng 30 tỷ chữ, bằng hơn 300 ngôn ngữ. Riêng phiên bản tiếng Latin đã có nhiều bài hơn cả bộ Bách khoa Britannica. Điều đáng kinh ngạc là kho kiến thức khổng lồ ấy phần lớn do những người tình nguyện viết, sửa chữa và kiểm chứng mà không nhận thù lao.
Bài viết khảo sát sự hình thành tầng lớp đặc quyền chính trị và kinh tế tại Việt Nam dưới góc nhìn lý thuyết Giai cấp mới (The New Class, 1957) của Milovan Djilas, trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường sau Đổi Mới năm 1986.
Suốt hơn 2,000 năm, con người vẫn thắc mắc: Mỗi khi mùa đông đến, hàng tỷ con chim bỗng biến mất. Chúng đi đâu? Người xưa đưa ra đủ thứ giả thuyết. Có người tin chim biến thành loài khác. Có người cho rằng chúng lặn xuống đáy hồ ngủ đông. Thậm chí có người quả quyết chim bay lên tận mặt trăng! Mãi đến đầu thế kỷ XIX, một bằng chứng kỳ lạ xuất hiện tại nước Đức. Người ta tìm thấy những con cò trắng trở về với mũi tên Phi Châu vẫn còn cắm trên mình. Những con cò này, được gọi là pfeilstörche, đã giúp giải đáp bí mật lâu đời: Chim không biến mất, mà bay hàng ngàn cây số từ Âu Châu sang Phi Châu rồi trở về. Không cần hộ chiếu, cũng chẳng phải mua vé máy bay!
Trong mười năm đầu của Hợp tác Lancang-Mekong (LMC), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Trung Quốc tăng từ khoảng 11,2 nghìn tỷ USD năm 2016 lên 19,5 nghìn tỷ USD năm 2025 — tăng khoảng 74%. Việt Nam và Campuchia tăng nhanh hơn, trên 250%. Thái Lan tăng chậm hơn, khoảng 42%. Myanmar chỉ tăng khoảng 21%. Lào gần như đứng, vì kip mất giá mạnh che mất phần tăng thực trong nước.
Mấy tuần nay, các nhà khoa học về biển ở Mỹ đang để mắt theo dõi một khối nước ấm rất lớn, do hiện tượng El Niño gây ra, đang chảy dọc theo bờ biển Thái Bình Dương, từ Nam Mỹ đi ngược lên phía Bắc, tiến về phía bờ biển Hoa Kỳ. Chỉ vài tuần nữa, khối nước này sẽ tới California, làm nước biển dâng cao và có thể gây ngập lụt nặng suốt mùa thu và mùa đông sắp tới.
Chúng ta đang bị nhấn chìm dưới dòng thác thông tin về hiểm họa của AI đối với nhân loại — phần lớn đầy thuật ngữ chuyên môn mà người ngoài ngành khó lòng hiểu nổi. Tôi từng hoang mang, tự hỏi liệu mình có đang bị bỏ lại phía sau một thế giới mà AI đang dần chiếm lĩnh. Để hiểu rõ, tôi đã đọc các nguồn tin ấy và từng bước đặt câu hỏi với Claude, một dịch vụ AI, yêu cầu giải thích đi giải thích lại cho tới khi người ngoài như tôi có thể nắm được vấn đề. Quá trình này khá vất vả, vì phải phá vòng an toàn bước vào vùng đất lạ, nên tôi ghi lại hành trình để chia sẻ cùng các bạn.
Phía sau cái tên Minoru Yamasaki và một công trình từng cao nhất địa cầu, và cũng là nơi 25 năm trước trở thành hiện trường của cuộc tấn công khủng bố đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ, là câu chuyện về một người Mỹ gốc Nhật thế hệ đầu, đi lên từ nghèo khó và định kiến, để trở thành một trong những kiến trúc sư được ngưỡng mộ nhất của nước Mỹ thời hậu chiến.
Tối 5 tháng Hai năm 1930, nhà phê bình văn nghệ Paul Fechter bước lên diễn đàn của Liên Minh Người Do Thái Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia tại Berlin. Ông biết đề tài mình sắp nói sẽ khó nghe. Fechter nói rằng người Đức từ lâu đã quá “sợ hãi và dè dặt” khi nói công khai về người Do Thái. Ông đặc biệt công kích Kurt Tucholsky, một nhà văn trào phúng Do Thái nổi tiếng, vì cuốn Deutschland, Deutschland über alles (Nước Đức, Nước Đức Trên Hết), trong đó Tucholsky châm biếm quân đội, cảnh sát, công chức, quốc ca và nhiều biểu tượng chủ nghĩa quốc gia của nước Đức.Nhưng Fechter không dừng ở một nhà văn. Ông nói một phần lớn giới văn chương và nghệ thuật Đức “nằm trong tay người Do Thái”; các nhà hát, nhà xuất bản lớn và giới buôn tranh đều ít nhiều “dưới sự kiểm soát của người Do Thái.” Ông trách các nhà buôn tranh Do Thái chuộng Manet, Monet, Renoir, Gauguin, Picasso và Cézanne — những họa sĩ Pháp và hiện đại — hơn hội họa truyền thống Đức.
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.