Hôm nay,  

Cha Già Dân Tộc

29/10/200100:00:00(Xem: 11199)
Cha già dân tộc ở đây là Adenauer. Dân tộc, dân Đức sau Lò Thiêu. Một nước Đức mới. Và đó là tựa đề cuốn sách của Charles Williams, "Adenauer: The Father of the New Germany" (nhà xb Wiley, 584 trang $35.00). Dưới đây là tóm tắt bài điểm cuốn sách trên, của Gordon A. Craig, trên tờ NYRB số đề ngày 1 tháng 11, 2001.

Mùa thu năm 1944, Konrad Adenauer bị Gestapo bắt giữ vì bị tình nghi dính vào vụ gài bom tính làm thịt Hitler. Ông bị đưa đến nhà tù ở Brauweiler. Sau khi bị lột hết quần áo, những vật dụng dính vào người như thắt lưng, dây giầy, dao nhíp, ông bị tống vào một phòng giam chật hẹp không có hệ thống sưởi ấm; viên cai tù, chắc là cám cảnh cho thân phận ông, và cũng sợ rắc rối, đã ân cần căn dặn: Bẩy mươi tuổi đầu, sắp xuống lỗ rồi, đừng bầy đặt tự tử, chỉ làm khổ thằng này thôi.

Ở vào hoàn cảnh như trên, một câu khuyên như vậy là hợp tình hợp cảnh. Có điều, cả người khuyên lẫn người được khuyên, đều không ngờ, quãng đời còn lại của người tù già được "ông Trời" trao cho một trách nhiệm lớn lao: hai mươi năm trời tiếp theo sau, Adenauer, khi được giao chức vụ chancelor (thủ tướng), đã đưa đất nước vượt qua nỗi đau, và cũng là nỗi nhục, như là di sản của chế độ Nazi, và cùng với nó, Lò Thiêu, biến đổi nước Đức, từ kẻ thù bại trận thành đồng minh đáng kính trọng.

Theo Craig, nhan đề cuốn tiểu sử về ông, Người cha sáng lập nước Đức mới, thật xứng đáng đối với Adenauer. Williams, tác giả cuốn tiểu sử nói trên, viết, Adenauer sử sự trước đám đông như một nhà độc tài, nhưng thêm vô, trách nhiệm mà ông ôm lấy, trên toàn thể, đã được hoàn tất.

Konrad Adenauer sinh tại Cologne vào tháng Giêng năm 1876, là con trai thứ ba, cha phục vụ 15 năm trong quân đội Phổ, được huy chương dũng cảm tại Koniggrat, rồi cố gắng vượt lên, trở thành viên chức cao cấp tòa án trong chính quyền Phổ. Con cái trưởng thành qua một giáo dục rất nghiêm và rất ngoan đạo (Catô giáo), đây là nguồn gốc sự tự tin của Konrad ngay từ những năm mới lớn. Học luật tại Freiburg, ra trường và kiếm được việc làm (junior prosecutor) tại một văn phòng nhà nước tại Cologne, vào năm 1902.

Cùng năm đó, ông gặp Emma Weyer, thuộc một gia đình giầu có, và hai năm sau, hai người thành hôn. Một cuộc hôn nhân hạnh phúc, nhưng người chồng ngày càng cảm thấy không được thoải mái, với vai trò luật sư lương lậu có phần khiêm tốn của mình. Nhờ ảnh hưởng gia đình bên vợ, một phần, và nhờ tài tranh cãi nơi pháp đình, ông được đắc cử vào chức vụ hội đồng thành phố, mặc dù chẳng có một chút kinh nghiệm chính trị. Ông bỏ hết nghị lực vào công việc, và vào năm 1909, khi chức bí thư thứ nhất của thị trưởng trống chỗ, đảng Center Party đẩy ông ra nắm lấy.

Thời gian này, nước Đức đang trên đà lao vào cuộc chiến. Khi phải nhìn lại, ông nói, "… cuộc chiến 1914-18… là 'thành quả' của sự ngu xuẩn, của tất cả mọi người".

Williams rõ ràng cho rằng, Adenauer đã không hiểu Hitler, và luôn luôn coi chủ nghĩa cộng sản là một đe dọa thực sự cho một nước Đức như là ông tin tưởng. Đúng ra là vào tháng Chạp năm 1932, những ngày cuối cùng của chế độ Cộng hòa Weimar, ông viết thư cho người cầm đầu Center Party, cho rằng, giải pháp khẩn yếu, đó là coi việc gia nhập của Quốc xã vào chính quyền Reich [được] giải quyết theo đường hướng tích cực (positive sense). Nhưng cho dù nguyên nhân nào chăng nữa, tình huống ngày một vuột khỏi tầm nhìn của ông. Một khi Hitler lên cầm quyền, bản chất dã man của những chính sách của ông ta tự nó lộ ra, và Adenauer thấy rằng, để tránh nguy hiểm, càng thu mình lại chừng nào tốt chừng đó. Ông cũng tránh không liên lạc với lực lượng kháng chiến. Khi Carl Goerdeler, cựu thị trưởng Leipzig, và là nhân vật then chốt trong âm mưu chống lại Hitler muốn nhận ông vào nhóm, ông đã từ chối gặp. Tuy nhiên, chắc chắn tên của ông đã nằm trong một danh sách đen, của một người nào đó, và ông bị Gestapo bắt hai lần, một vào năm 1935, và lần sau vào năm 1944, khi xẩy ra vụ gài bom.

Rõ ràng là, trong khi thu mình lại, ông đã mơ tưởng tương lai của một nước Đức sau Hitler. Tuyệt vời, là đoạn Williams mô tả Adenauer miệt mài với hai tác phẩm "Rerum Novarum" và "Quaragesimo Anno", trong đó xác định đường hướng, thái độ của Nhà Thờ La Mã khi phải ứng xử với những vấn đề hàng ngày mang tính xã hội và chính trị. Willimas viết, Adenauer đã tìm kiếm một trụ cột mang tính lý thuyết và quyền thế, làm cơ sở cho những chính sách chính trị mang tính thực hành, trong tương lai. Thật rõ rệt, trong những năm chiến tranh do Hitler gây nên, ông đã suy tư hoài về một tương lai nước Đức, tương lai đó sẽ chẳng mắc mớ gì tới những điều ghê rợn đang trải ra trước mắt ông, và ông là người đầu tiên nhận ra rằng nước Đức tương lai phải được cai trị bởi nhiều nguyên lý (principles), và chính sách khác nhau, không như trong quá khứ.

Ngay khi lực lượng thắng trận cho phép đảng phái chính trị hoạt động ở Tây Đức, mặc dù tuổi đã cao, Adenauer lao vào chính trường. Tuy thoạt đầu ngần ngại, lực lượng đồng minh đã chọn ông, thay vì người cầm đầu đảng Xã hội Dân chủ (SPD: Social Democratic Party), Kurt Schumacher, một người can đảm nhưng giáo điều. Đối với Adenauer, quan trọng là tạo được liên minh giữa Hiệp hội Kytô Dân chủ, (CDU: Christian Democratic Union), tức Đảng của ông, với Hiệp hội Kytô Xã hội (Christian Social Union) bảo thủ hơn. Liên minh đã thắng cuộc bầu cử hạ viện năm 1949, và khả năng trở thành thủ tướng đối với ông đã bắt đầu ló dạng.

Những năm đầu trong chức vụ thủ tướng, ông giao kinh tế cho đồng sự Ludwig Erhard, với ông này, kế hoạch thị trường tự do (free market) đã có những thành công đầu tiên; còn Adenauer chú tâm vào ngoại giao. Ngay từ khởi đầu, nó đã mang tính cách mạng, bởi vì ông tin tưởng, cựu lục địa Âu Châu với những quốc gia của nó đã hết còn đáp ứng những nhu cầu và hy vọng của thế hệ hậu chiến, và chẳng thể còn những quyền lực lớn lao ở Âu Châu, theo nghĩa cũ của từ này. Mục tiêu của ông là một Tây Âu hợp nhất (integration), và trong lần viếng thăm Hoa Kỳ vào năm 1953, ông nói rõ ra điều này trong bữa ăn trưa tại Câu lạc bộ báo chí quốc gia: Mỗi thời đại có riêng những nhiệm vụ của nó. Tại Âu Châu, ý kiến của bất cứ một cá nhân hiểu biết nào, đều chỉ ra một điều, một ngày nào đó, sẽ có một Hiệp Chúng Quốc của Âu Châu. Không ai hiểu rõ điều này hơn là những người trẻ tuổi của lục địa của chúng tôi."

Hy vọng một Âu Châu hợp nhất đã gặp một cú dội, vào năm 1954, khi Quốc hội Pháp từ chối chấp thuận Cộng đồng Phòng thủ Âu Châu (The European Defence Community). Trong một cuộc nói chuyện bị ký giả báo Der Spiegel nghe lén, ông tỏ ra lo sợ, chuyện nước Pháp rẫy ra sẽ đưa tới hậu quả, là sự sống lại chủ nghĩa quốc gia và trọng binh tại Đức. Nhưng Anh và Mỹ đã thuyết phục Pháp bằng lòng cho Đức gia nhập Nato, như là một thành viên với đầy đủ quyền hạn của nó. Đây là một thắng lợi ngoại giao quá sức lớn lao. Một tờ báo ở Thụy Sĩ đã cho rằng, không thể tưởng tượng được, về những thành quả như vậy, nếu nhìn lại một nước Đức vào năm 1949, và cũng không thể ngờ được chuyện, Adenauer đã lèo lái đất nước trở thành một quốc gia theo đồng minh. Nhưng rất nhiều người Đức lại tỏ ra lo ngại, điều này càng làm cho chuyện thống nhất nước Đức tỏ ra xa vời nếu không muốn nói là không tưởng.

Trong một cuộc thảo luận nhằm phê chuẩn hiệp ước Nato, Audenauer đã thuyết phục những người chỉ trích ông, rằng một chính sách về sức mạnh dựa trên tái vũ trang và liên kết Tây Phương, sau cùng sẽ khiến cho Liên Xô nhận ra sự thực, là việc thống nhất nước Đức là không thể tránh được. Viễn mơ đấy, nhưng không phải không có cơ sở. Khi tới Moscow vào năm 1955, nhận thấy nước chủ nhà tỏ ra khinh khỉnh khi ông cố gắng nêu ra vấn đề. Thực sự, nhằm thuyết phục Liên Xô bảo đảm việc thả mười ngàn tù nhân chiến tranh vẫn bị cầm giữ tại đây, Adenauer đã đồng ý ký một thoả ước nhằm tái lập liên lạc ngoại giao giữa Liên Bang Đức với Liên Xô, một thoả ước làm đồng minh "bực mình", bởi vì nó có thể đưa tới hệ quả là thừa nhận Cộng Hoà Dân Chủ Đức.

Lo sợ của đồng minh trở nên hiển hiện khi xẩy ra cuộc khủng hoảng kênh đào Suez, và cuộc nổi dậy tại Hung vào năm 1956, cho thấy, những thế lực Tây Phương tỏ ra bất lực, không có hiệu quả. Liên Xô nắm lấy cơ hội này, và vào tháng Mười Một năm 1958 Nikita Khruchchev gửi một tối hậu thư cho London, Paris và Washington, cho biết, chính sách bốn quyền lực chia nhau kiềm soát Berlin đã hết thời và một chính sách mới phải đưa ra trong vòng 6 tháng, nếu không Liên Xô sẽ xé lẻ, ký hiệp ước với Cộng Hoà Dân Chủ Đức. Tối hậu thư gây khủng hoảng kéo dài tới 1962, và đây là thời kỳ cho thấy Adenauer ở vào những phút vinh nhục nhất trong cuộc đời chính trị của ông. Ông tỏ ra không tin cậy tất cả những đồng minh, và thường xuyên, sự mất tin tưởng này hoàn toàn không dựa trên những chứng liệu có cơ sở. Ông tỏ ra chắc chắn, ngoại trưởng Dulles của Mỹ, trong những ngày cuối cùng của mình, đã muốn một cuộc chiến tranh nguyên tử. Rằng thủ tướng Anh, Macmillan, là một "thằng ngu đần", chỉ khoái được Liên Xô nịnh bợ. Rằng tổng thống Kennedy, mà ông gọi là "điểm gặp gỡ giữa một tên hải quân bé con và một gã hướng đạo sinh Catô La mã", đã giấu không thông báo cho ông biết những cuộc trao đổi với Liên Xô. Cuối cùng chỉ còn trông cậy được vào tướng de Gaulle, vào tháng giêng năm 1963 ông ký một hiệp ước với nhà lãnh đạo nước Pháp, mà ông coi là người bảo đảm cho tương lai của Âu Châu.

Sự kiện không mất Berlin vào thời kỳ này phụ thuộc vào những yếu tố phức tạp. Một trong số đó, là De Gaulle từ chối ký kết hoặc thoả thuận, dưới sức ép của tối hậu thư. Nhờ vậy mà đồng minh đã không đi đến quyết định đành nhả Berlin cho phe đỏ. Nhưng phần nhiều là do những hành động của Khruschev: bỏ hội nghị thượng đỉnh vào naam 1960, một cuộc họp chắc là sẽ đem đến cho ông hầu hết những gì mà ông đòi hỏi về Berlin, trong đó bao gồm việc kiểm soát Berlin sẽ thuộc về Đông Đức; quyết định chiếm một nửa bằng cách dựng Bức Tường vào tháng Tám 1961, và lầm lẫn tiếp theo sau, khi từ bỏ chiến thuật nhắm vào Đức và lao vào cuộc phiêu lưu đặt hoả tiễn tại Cuba. Tuy nhiên, vai trò của Adenauer không phải không quan trọng, nếu nói về những yếu tố quyết định. Ông tiếp tục góp phần vào việc kiểm soát Tây Bá Linh, do khăng khăng chống lại những kế hoạch nhằm thoả hiệp với Liên Xô, vẽ chi li những giải pháp của riêng ông, tuy thật khó thực hiện nhưng nhằm kéo dài thời gian, luôn cả sự đe dọa, nếu tình hình trở nên quá sức tồi tệ, ông sẽ xé lẻ nói chuyện thẳng với Khruschev, cho đồng minh ra rìa… đã khiến mấy ông bạn phát hoảng!

Trong thời gian đó, ông tiếp tục làm mưa làm gió trên chính trường trong nước. Cuộc bầu cử toàn quốc vào năm 1957 còn thành công lớo lao hơn so với năm 1953. Nhờ kinh tế phát triển, tăng 7% mỗi năm, nhờ kế hoạch sửa đổi hưu bổng cho người già, trong 87% người đi bầu, liên minh của ông (CDU/CSU) chiếm 50.2%. Chưa từng có một độc đảng chiếm được số phiếu cao như vậy, trong lịch sử bầu cử tại Đức. Và tác giả cuốn tiểu sử về ông, Williams, viết: Vào tuổi 81, Adenauer là vị hoàng đế không vương miện của nước Đức. Nhưng đây là chiến thắng cuối cùng của ông.

Sự kiện, ông coi như chẳng có gì xẩy ra, khi Bức Tường "ô nhục" được dựng lên, đã gây bất mãn trong dân chúng, trong khi đối thủ của ông là Willy Brandt đã đích thân tới Berlin to tiếng phản đối. Những tấn công mang tính cá nhân của ông vào Brandt cũng gây ra những hậu quả đáng tiếc. Và trong cuộc bầu cử vào năm 1961, ngay sau khi bức tường được dựng lên, số phiếu dồn cho đảng của ông xuống dốc thê thảm, mất quyền kiểm soát đa số. Những sự kiện tiếp theo sau đó càng làm ông mất uy tín, và sau cùng đảng đã chọn người thay ông, là Ludwig Erhard.

Jennifer Tran

Bài viết khảo sát sự hình thành tầng lớp đặc quyền chính trị và kinh tế tại Việt Nam dưới góc nhìn lý thuyết Giai cấp mới (The New Class, 1957) của Milovan Djilas, trong bối cảnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường sau Đổi Mới năm 1986.
Suốt hơn 2,000 năm, con người vẫn thắc mắc: Mỗi khi mùa đông đến, hàng tỷ con chim bỗng biến mất. Chúng đi đâu? Người xưa đưa ra đủ thứ giả thuyết. Có người tin chim biến thành loài khác. Có người cho rằng chúng lặn xuống đáy hồ ngủ đông. Thậm chí có người quả quyết chim bay lên tận mặt trăng! Mãi đến đầu thế kỷ XIX, một bằng chứng kỳ lạ xuất hiện tại nước Đức. Người ta tìm thấy những con cò trắng trở về với mũi tên Phi Châu vẫn còn cắm trên mình. Những con cò này, được gọi là pfeilstörche, đã giúp giải đáp bí mật lâu đời: Chim không biến mất, mà bay hàng ngàn cây số từ Âu Châu sang Phi Châu rồi trở về. Không cần hộ chiếu, cũng chẳng phải mua vé máy bay!
Trong mười năm đầu của Hợp tác Lancang-Mekong (LMC), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Trung Quốc tăng từ khoảng 11,2 nghìn tỷ USD năm 2016 lên 19,5 nghìn tỷ USD năm 2025 — tăng khoảng 74%. Việt Nam và Campuchia tăng nhanh hơn, trên 250%. Thái Lan tăng chậm hơn, khoảng 42%. Myanmar chỉ tăng khoảng 21%. Lào gần như đứng, vì kip mất giá mạnh che mất phần tăng thực trong nước.
Mấy tuần nay, các nhà khoa học về biển ở Mỹ đang để mắt theo dõi một khối nước ấm rất lớn, do hiện tượng El Niño gây ra, đang chảy dọc theo bờ biển Thái Bình Dương, từ Nam Mỹ đi ngược lên phía Bắc, tiến về phía bờ biển Hoa Kỳ. Chỉ vài tuần nữa, khối nước này sẽ tới California, làm nước biển dâng cao và có thể gây ngập lụt nặng suốt mùa thu và mùa đông sắp tới.
Chúng ta đang bị nhấn chìm dưới dòng thác thông tin về hiểm họa của AI đối với nhân loại — phần lớn đầy thuật ngữ chuyên môn mà người ngoài ngành khó lòng hiểu nổi. Tôi từng hoang mang, tự hỏi liệu mình có đang bị bỏ lại phía sau một thế giới mà AI đang dần chiếm lĩnh. Để hiểu rõ, tôi đã đọc các nguồn tin ấy và từng bước đặt câu hỏi với Claude, một dịch vụ AI, yêu cầu giải thích đi giải thích lại cho tới khi người ngoài như tôi có thể nắm được vấn đề. Quá trình này khá vất vả, vì phải phá vòng an toàn bước vào vùng đất lạ, nên tôi ghi lại hành trình để chia sẻ cùng các bạn.
Phía sau cái tên Minoru Yamasaki và một công trình từng cao nhất địa cầu, và cũng là nơi 25 năm trước trở thành hiện trường của cuộc tấn công khủng bố đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ, là câu chuyện về một người Mỹ gốc Nhật thế hệ đầu, đi lên từ nghèo khó và định kiến, để trở thành một trong những kiến trúc sư được ngưỡng mộ nhất của nước Mỹ thời hậu chiến.
Tối 5 tháng Hai năm 1930, nhà phê bình văn nghệ Paul Fechter bước lên diễn đàn của Liên Minh Người Do Thái Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia tại Berlin. Ông biết đề tài mình sắp nói sẽ khó nghe. Fechter nói rằng người Đức từ lâu đã quá “sợ hãi và dè dặt” khi nói công khai về người Do Thái. Ông đặc biệt công kích Kurt Tucholsky, một nhà văn trào phúng Do Thái nổi tiếng, vì cuốn Deutschland, Deutschland über alles (Nước Đức, Nước Đức Trên Hết), trong đó Tucholsky châm biếm quân đội, cảnh sát, công chức, quốc ca và nhiều biểu tượng chủ nghĩa quốc gia của nước Đức.Nhưng Fechter không dừng ở một nhà văn. Ông nói một phần lớn giới văn chương và nghệ thuật Đức “nằm trong tay người Do Thái”; các nhà hát, nhà xuất bản lớn và giới buôn tranh đều ít nhiều “dưới sự kiểm soát của người Do Thái.” Ông trách các nhà buôn tranh Do Thái chuộng Manet, Monet, Renoir, Gauguin, Picasso và Cézanne — những họa sĩ Pháp và hiện đại — hơn hội họa truyền thống Đức.
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Tư tưởng gia người Mỹ George Santayana (1863-1952) đã từng viết trong tác phẩm “The Life of Reason: Reason in Common Sense” được xuất bản năm 1905 rằng, “Những ai không thể nhớ quá khứ thì bị buộc phải lập lại nó.” Có lẽ ý của ông Santayana là nếu ai không học được những bài học của quá khứ thì sẽ phải tiếp tục dẫm lên vết xe đổ. Một con người đánh mất quá khứ tức là mất đi ký ức thì sẽ không nhận biết mình là ai, do đó cũng sẽ không biết mình phải làm gì để xây dựng tương lai. Tương tự như vậy, một dân tộc đánh mất quá khứ lịch sử thì dân tộc đó sẽ không có tương lai. Quá khứ dù có xấu xa cỡ nào thì cũng là những gì mà chính con người hay một dân tộc đã từng làm. Trên thế gian này không một ai và không một dân tộc nào đã không từng một lần phạm phải sai lầm. Nhưng những sai lầm đó trong một ý nghĩa nào đó chính là những điều quý giá mà một con người hay một dân tộc có thể rút ra được bài học để có thể không tái phạm và làm điều tốt đẹp hơn ở hiện tại và tương lai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.