Hôm nay,  

Hiểu Sao Đây?

05/08/200600:00:00(Xem: 4784)

Trong xã hội văn minh, dân chủ, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền tự do đi lại là một trong nhiều quyền mà bất kỳ một chính phủ của đảng phái nào cũng phải thể hiện trong văn bản hiến pháp và tuyệt đối tôn trọng. Tại Việt Nam quyền ấy cũng đã có trong hiến pháp, nhưng không phải ai cũng hưởng được.

Tôi là Phạm Bá Hải, 38 tuổi, hộ khẩu thường trú tại 11/4 B, đường Phạm Văn Sáng, Xuân Thới Thượng, Hốc Môn, Tp.HCM. Hiện đang làm việc tại Ấn Độ cho công ty Mayur Uniquoters Ltd.

Trước khi về Việt Nam để tìm kiếm thị trường đồng thời mở một chi nhánh tại Sài Gon, tôi đã ở lại Singapore hai ngày cho các kinh doanh khác. Và ngày 18 tháng 7 năm 2006 tôi đến Sài Gòn.

Trước khi sang lại Singapore, ngày 27 tháng 7, 2006 theo lời mời của người bạn cũ là Lê Trí Tuệ, chúng tôi gặp nhau tại Quán ăn Non Nước, số 4 đường Võ Văn Tần. Khi ấy tôi mới biết nhóm gặp nhau là Khối Dân Chủ 8406, và mãi đến ngày hôm sau tôi mới hay tin rằng công an đã đặt máy quay phim dưới chiếc bàn ngay cửa ra vào của phòng hợp mặt.

Nỗi lo ngại của tôi đã được cụ thể khi anh an ninh Trương Hữu Tự, tại sân bay Tân Sơn Nhất, tỏ vẻ hoảng hốt gọi ngay người đưa tôi vào căn phòng có dòng chữ "Khu Vực Cấm Vào/ Restricted Area". Họ lập biên bản, nói rằng tôi chưa được phép xuất cảnh. Hỏi rằng lý do tại sao, anh Đại úy an ninh Nguyễn Thế Vinh chỉ biết trả lời rằng "làm theo lệnh cấp trên, mọi thắc mắc, giải thích, giải quyết, vui lòng đến Cục quản lý Xuất nhập cảnh, số 254 Nguyễn Trãi".

Thứ hai, ngày 31 tháng 7, tôi đến nơi công an yêu cầu để tìm lời giải thích. An ninh Vũ Đức Tây sau khi đọc xong đơn tôi nộp, lạnh lùng nói "trường hợp của anh, 2-3 ngày sau thì đến". Tôi giận quá, xoay ra phía bà con đang ngồi chờ làm hộ chiếu, nói rằng tôi là một thương nhân, làm việc ở nước ngoài. Một ngày chính quyền Việt Nam giữ tôi lại, là một ngày tôi gặp khó khăn với các đối tác. An ninh sân bay không giải thích, không giải quyết, đến đây thì lại hẹn vài ngày nữa..." Thấy tôi phân trần với bà con, anh ta gọi điện cho cấp trên.

20 phút sau, Đại úy an ninh Trần Việt Hà tiếp tôi. Tôi yêu cầu cung cấp văn bản chính thức, nêu lý do cụ thể tại sao không cho tôi xuất cảnh, qua đó tôi có lý do chính đáng báo về công ty. Đại úy Hà nói "không phải ai cũng bị chặn lại, trường hợp của anh là vì lý do an ninh quốc gia, hãy về và chờ văn bản quyết định gửi qua đường bưu điện".

Niềm hy vọng sớm giải quyết đã tắt ngấm. Cầm trên tay hộ chiếu hoàn toàn hợp lệ của nước CHXHCN Việt Nam cấp cho tôi hồi tháng 4/2006, với visa loại business/ No. of Entries: Multiple do Ấn Độ cấp, tôi cảm thấy không còn có gì bảo đảm được nữa. Họ dựa vào Nghị định 05/2000/NĐ-CP một cách mơ hồ để giữ tôi lại.

Trong Sách trắng về nhân quyền, Nghị định số 05/2000/NĐ-CP về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, do Thứ trưởng Nguyễn Văn Ngạnh ký ngày 3/3/2000 là niềm tự hào của chính quyền CSVN. Chương I, mục 7 của sách trắng ấy viết: "... Nhà nước Việt Nam tạo mọi điều kiện và bảo đảm quyền tự do đi lại và tự do cư trú của công dân. Hiến pháp Việt Nam đã khẳng định: công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật. Việc đi lại và lựa chọn nơi cư trú do mỗi cá nhân quyết định phù hợp với nhu cầu, khả năng, hoàn cảnh của họ.

Những quy định pháp luật về việc đi lại, cư trú của công dân Việt Nam và người nước ngoài ở Việt Nam ngày càng được bổ sung, sửa đổi theo hướng cởi mở và tự do nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhu cầu phát triển giao lưu, quan hệ mọi mặt giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Các thủ tục hành chính gây phiền hà cho việc đi lại, cư trú của công dân đều bị bãi bỏ. Quyền tự do xuất, nhập cảnh của công dân Việt Nam đã được cụ thể hóa trong Nghị định 05/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 3/3/2000....".

Cũng vì Nghị định 05/2000 này Bạch Ngọc Dương bị từ chối cấp hộ chiếu; cũng vì nghị định này chính quyền Việt Nam tự hào về sự tự do xuất nhập cảnh; cũng vì nghị định này, tôi bị chặn lại ngay tại sân bay. Hiểu sao đây"

Tôi rất mong nhận được lời cố vấn cũng như sự hỗ trợ pháp lý của các tổ chức, hội đoàn, cá nhân, giúp tôi mau sớm được ra đi để hoàn tất các hợp đồng kinh doanh từng ngày chờ đợi ở nước ngoài.

Sài Gòn, ngày 1 tháng 8 năm 2006.

Công dân Phạm Bá Hải.

Ngày 2 tháng 8 năm 2022, các cử tri ở Kansas đã chọn chống lại việc lật ngược quyền phá thai theo hiến pháp của tiểu bang. Vài ngày sau, các nhà lập pháp Indiana đã quyết định cấm gần như tất cả các trường hợp phá thai. Cả hai đều là các bang theo xu hướng bảo thủ, và đều ủng hộ nỗ lực tái đắc cử của cựu Tổng thống Donald Trump với tỷ suất gần giống nhau vào năm 2020: 56.1% - 41.5% ở Kansas và 57% - 41% ở Indiana. Vậy điều gì giải thích cho các kết quả khác nhau? Câu trả lời là ở Kansas, cử tri trực tiếp quyết định kết quả. Ở Indiana, thì các nhà lập pháp là người ra quyết định. Sự khác biệt này có ý nghĩa quan trọng, bởi vì đối với các vấn đề gây tranh cãi như phá thai, cũng như trong các vấn đề nổi bật khác, các cơ quan lập pháp tiểu bang không phải lúc nào cũng đại diện cho mong muốn của công chúng, người dân trong tiểu bang của họ.
Làm cách nào để tôi được xóa khoản nợ sinh viên? Ai đủ điều kiện để được tha khoản nợ sinh viên? Liệu các khoản nợ tư nhân có được xóa? Các khoản nợ của sinh viên đã tốt nghiệp có đủ điều kiện để được tha nợ không? Các khoản vay của Parent Plus có đủ điều kiện không? Sinh viên còn đang đi học có đủ điều kiện được tha nợ không? Các khoản vay FFEL có đủ điều kiện không? Chương trình có giới hạn những gì người vay đang còn đi học phải trả không? Tôi có thể vay nợ liền bây giờ và được hưởng theo chính sách mới không? Chính phủ sẽ xác định thu nhập của tôi như thế nào để đủ điều kiện được tha nợ? Tôi nợ hơn 10,000 đô la. Khi nào thì tôi bắt đầu phải thanh toán trở lại? Tôi có phải trả thuế cho khoản nợ sinh viên đã được tha không? Điều này có làm cho lạm phát tồi tệ hơn? Chi phí xóa nợ cho sinh viên là bao nhiêu? Liệu điều này có mang lại lợi ích cho những người Mỹ giàu có không?
Tầm quan trọng của diaspora hay cộng đồng người gốc Việt sống ngoài Việt Nam càng ngày càng gia tăng. Để có một cái nhìn tổng quát, có tính cách học thuật và khách quan hơn về tình hình chung của diaspora Việt cũng như các diaspora trên thế giới, tôi xin giới thiệu và dịch bài viết năm 2005 sau đây của Steven Vertovec, một giáo sư đại học Đức chuyên về Xã hội học và Dân tộc học. Các điểm liên quan tới Việt Nam sẽ được người dịch ghi chú, bàn luận thêm trong phần chú thích ở cuối bài. (HVH)
Những lo ngại về tỷ lệ sinh giảm xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Quyết định của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ trong vụ Dobbs v. Jackson có thể buộc phụ nữ sinh con trái với mong muốn của họ, trong khi một bài xã luận gần đây của Anh thậm chí còn đề xuất đánh thuế đối với những người không có con.
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình. Nếu một quốc gia nhận thấy một quốc gia khác gia tăng quyền lực của họ và do đó trở thành một mối đe dọa tiềm tàng, nó sẽ cố gắng bảo vệ an ninh của chính mình bằng cách tăng cường quyền lực của mình và / hoặc bằng cách liên minh với các quốc gia khác. Những lợi ích và hành động của trên dưới 184 quốc gia của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh có thể được dự đoán từ những giả định này.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Nước Nhật vừa xót xa tiễn biệt cựu Thủ tướng Shinzo Abe lần cuối. Thi hài ông được đưa qua đường phố Tokyo, ngang qua văn phòng Thủ Tướng và Nghị viện Nhật, nơi ông đã từng làm việc. Ngồi phía trước xe tang vẫn là phu nhân Akie Abe, như khi xe chở thi hài ông về lại Tokyo từ nơi bị ám sát hôm cuối tuần. Lặng lẽ, bình tĩnh, thỉnh thoảng phu nhân Abe lại cúi đầu đáp lễ người dân Nhật đứng đầy hai bên đường, chắp tay lạy và cúi đầu khi xe tang đi ngang. Không như lá thư hư cấu ủy mị gửi chồng của bà bằng tiếng Việt được lan truyền trên mạng, dù những người tinh ý khá dễ nhận ngay ra đó là suy diễn đầy Việt tính của một ai đó muốn lợi dụng cảm xúc đám đông. Thật ra phu nhân Abe là một người như thế nào?
COVID-19 một lần nữa hoành hành khắp Hoa Kỳ, nhưng đã không còn nhuốm màu chết chóc như thuở ban đầu, một phần là do nhiều người đã có một số mức độ miễn dịch nhờ tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm trước đó, nhưng cũng bởi vì chúng ta hiện đã có một kho công cụ để điều trị. Các kháng thể đơn dòng (Monoclonal antibodies) là kháng thể đầu tiên xuất hiện, trước đó, chúng được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại COVID-19. Khi đại dịch bùng phát, Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho 4 kháng thể đơn dòng để điều trị COVID-19 và một kháng thể đơn dòng để giúp ngăn ngừa bệnh ở những người không thể tiêm phòng.
Để chấm dứt những tranh cãi pháp lý xoay quanh việc phá thai sẽ đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận về mặt đạo đức. Nếu có thể trình bày rõ ràng quan điểm đạo đức của chúng ta và thấu hiểu quan điểm của người khác, tất cả các bên sẽ tiến đến gần hơn với một thỏa thuận có nguyên tắc. Bài tổng hợp này dựa theo các chi tiết phỏng dịch từ bài viết đăng trên The Conversation của Nancy S. Jecker, Giáo sư Đạo đức Sinh học và Nhân văn, School of Medicine, University of Washington, đã nghiên cứu các vấn đề đạo đức trong y học và chính sách y tế, bao gồm cả việc phá thai; và các vấn đề liên quan đến quyết định lật ngược án lệ Roe v Wade cuối tuần qua của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ.
Roe kiện Wade (Roe v. Wade) là một vụ án dẫn đến một quyết định quan trọng được đưa ra bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vào năm 1973, Roe v. Wade làm cho việc phá thai được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ. Trong vụ kiện này, một phụ nữ tên là Norma McCorvey (lấy bút danh là Jane Roe) muốn phá thai ở tiểu bang Texas. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, luật của bang Texas không cho phép phá thai ngoại trừ việc cứu sống người mẹ. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết có lợi cho McCorvey và cho rằng luật của Texas không phù hợp với hiến pháp. Tòa án tuyên bố rằng việc quyết định phá thai của một người phụ nữ trong ba tháng đầu của thai kỳ nên được quyết định theo ý kiến cá nhân và bác sĩ. Theo Tối cao Pháp viện, mỗi người dân có “quyền về quyền riêng tư” cơ bản và quyền đó bảo vệ sự lựa chọn phá thai của một người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.