Hôm nay,  

Thư Không Gửi

17/06/200600:00:00(Xem: 13668)

Thưa Thầy,

Không biết đây là lá thư thứ mấy, con đã viết mà không bao giờ gửi đi, bởi vì, biết gửi về đâu để tới được tay Thầy"! Những thư trước đã đầy nước mắt, thư này có khô ráo được không"

Chiều nay, quét lá ngoài vườn, con không ngớt nghĩ về con đường hẻm năm xưa, nơi một gia đình người miền Bắc di cư, được xóm người miền Nam đón nhận bằng tất cả ấm áp của tình người. Thầy ơi, con đường hẻm đó, đối với con đã thiêng liêng như con đường đất mấp mô dẫn ra bờ sông Ni Liên Thuyền khi sa-môn Gotama quyết định bỏ lối tu khổ hạnh. Ngài men xuống ven sông tắm gội như một hình thức làm mới lại tư tưởng, nhưng vì quá đuối sức sau nhiều ngày tháng ép xác, Ngài đã ngất xỉu trên đường trở lại khu rừng bên kia sông. May thay, một cô bé trong làng đang bưng mâm phẩm vật vào rừng cúng thần linh đã kịp nhìn thấy ông thầy tu khổ hạnh đó. Cô quỳ xuống dâng sữa. Giây lát, vị sa-môn tỉnh lại và cho cô biết Ngài là thái-tử con vua Tịnh Phạn, đã bỏ cung vàng điện ngọc ra đi tìm đạo.

Câu chuyện tuyệt vời này Thầy đã từng kể cho chúng con nghe nhưng năm xưa ấy, với lứa tuổi lên chín, lên mười, đám trẻ nhỏ trong xóm nghèo đâu có thấy hấp dẫn bằng chuyện Thạch Sanh-Lý Thông, Tấm Cám, Phạm Công-Cúc Hoa ..... với những tình tiết ly kỳ, những thắt mở hồi hộp hơn. Tuy thế, đám thiếu nhi Phật tử chúng con siêng đi chùa lắm vì tới chùa được bác Sáu cho oản chuối, được huynh Thiện Tâm dạy hát, dạy tụng kinh. Riêng hai chị em con, cứ cơm nước buổi tối xong là vào chùa vì chùa gần quá, qua nhà bà Hai bán gạo, nhà ông Năm xích lô, qua vườn rau của cô Bẩy thư ký, tới tiệm chạp phô chú Lìn là nhìn thấy mái chùa. Chùa nghèo lắm, hàng rào gỗ xiêu vẹo đã lâu, huynh Thiện Tâm chắp vá mãi vẫn xiêu vẹo, nói chi đến sơn lại những bờ tường rêu phong, loang lổ. Nhưng đất chùa rộng nên bác Sáu trồng đủ các loại rau, các loại bầu bí làm thực phẩm cho chùa; Rồi không biết do đâu, người trong xóm thấy rau trái nhiều đã tới xin mua lại khi họ cần. Bác Sáu đâu có bán! Bác Sáu bảo, ai cần thì cứ vào mà hái, cửa chùa có đóng bao giờ đâu.

Chùa nghèo, dân trong xóm cũng nghèo nhưng ai vào chùa xin rau trái đều nhẹ nhàng bỏ vào thùng phước sương ít nhiều, tùy theo khả năng mình. Thật thân thương biết bao tình người, nghĩa đạo. Chùa nghèo như thế mà bác Sáu đã bế vào chùa hai đứa bé mồ côi mà cha mẹ chúng bỏ trước sân chùa. Hai đứa bé đó là hai chú tiểu mà bác Sáu gọi tên là Tốt và Lành. Ngày đó, con cũng còn quá nhỏ, đâu có thắc mắc sao hai chú không có pháp danh đẹp đẽ  như Thiện Tâm, Thiện Hữu, Thiện Tường ...... mà lại là Tốt, Lành" Hoặc hai chú cũng có mà con chưa bao giờ nghe " Nhưng chúng con thì được Thầy và bác Sáu gọi bằng pháp danh ngay sau khi quy y. Quy y là gì " Thuở ấy con nào hiểu, chỉ biết rằng, nhằm lễ Vu Lan, huynh Thiện Tâm bảo "Các em quy y với Thầy đi, các em sẽ chính thức là con của Phật, Thầy sẽ cho các em một cái tên mới, như khi cha mẹ sinh con ra đều đặt tên cho các con vậy".

Con biết chị Tư bán xôi có pháp danh là Diệu Hương, chị Chín thợ may có pháp danh là Diệu Liên v... v... nên con nghe lời huynh Thiện Tâm, xin quy y cũng chỉ vì muốn được thầy cho một cái tên đẹp đẽ mà thôi! Ôi, tuổi nhỏ thơ ngây thật là tội lỗi!

Nào phải con chỉ không thắc mắc pháp danh của hai chú tiểu mà pháp danh của Thầy con cũng không hề biết! Bác Sáu là chị, thầy là em. Trong xóm gọi thầy là thầy Bẩy, chúng con cũng chỉ biết thế. Vào chùa chỉ biết vòng tay thưa "Lạy Thầy ạ". Thế thôi!

Sau khi chúng con quy y không bao lâu thì xóm nghèo đó ngập trong biển lửa vì nội chiến giữa lực lượng Bình Xuyên với chính quyền đương thời. Cà xóm đều chạy thoát nhưng tan tác muôn phương. Với bận rộn của tuổi học trò, với những sân ga, những bến đậu, những vui buồn của giòng sông tục lụy, con đã không hề trở lại xóm xưa, không biết Thầy đã đi đâu, về đâu!!!

Nửa thế kỷ đã trôi qua, nửa thế kỷ như một sát-na của kiếp sống, ở phút giây nào kỳ diệu đã bừng lên hai chữ "Diệu Trân" tận thẳm sâu tiềm thức. Khi bỗng chợt nhớ lại pháp danh của mình, con đã bật khóc nức nở, không phải chỉ khóc một lúc mà khóc một đêm, một ngày, nhiều đêm, nhiều ngày. Bất cứ biết có người quen nào về thăm quê hương, con đều nhờ tìm Thầy. Chùa xưa dù đã dựng lại sau hỏa hoạn nhưng Thầy không trụ ở đó nữa.

Chưa tuyệt vọng, con lại nhờ tìm tông tích huynh Thiện Tâm nhưng huynh đã về quê xa xôi làm rẫy! Thầy như bóng chim bay ngang lưng trời, không để lại dấu vết gì, chỉ còn lại trong con hai chữ "Diệu Trân", quằn quại tâm sám hối, không biết phải làm gì để đền đáp ơn Thầy"

Nơi xứ người, con khoác tấm áo lam lên thân tứ đại, tìm đến các chùa, làm công quả, từ xắt bí, gọt khoai, rửa chén bát,  tới lau chùi nhà vệ sinh, quét dọn, đổ rác ...... Con im lặng làm việc mà trong lòng không ngớt nức nở hai tiếng "Thầy ơi!". Con sợ nhất là khi thỉnh thoảng có người bạn đạo vô tình hỏi "Thầy Bổn-sư của Diệu Trân là ai"" hay "Tổ-đình Diệu Trân ở đâu"" con đều không kịp kìm giữ giòng nước mắt rào rạt trôi lăn. Một kẻ tự nhận là Phật tử mà không biết pháp danh của Thầy Bổn-sư, không biết Thầy nơi đâu, Tổ-đình nơi đâu, thì có xứng đáng là con Phật hay không"

Xong những công việc chấp tác, con mon men lên chánh điện, tìm một chỗ ngồi khiêm nhường nhất để được nghe giảng pháp. Giòng-Suối-Từ thầm lặng thẩm thấu vào sa-mạc mênh mông khổ não trong con, tới một ngày con bỗng hiểu rằng Thầy không chỉ là hình bóng Thầy Bẩy trụ trì ngôi chùa trong xóm nghèo mà Thầy còn là thời công-phu-sáng, thời kinh-trưa, thời thiền lặng lẽ khi trăng khuya bàng bạc bên khung cửa sổ. Thầy cũng là lời con phát nguyện khi tụng kinh Pháp-Hoa:

"Con nay phát nguyện rộng

Thọ trì kinh Pháp-Hoa

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam-đồ"

là bài kệ sáng ngời khi con tụng kinh Kim-Cang:

"Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào ảnh

Như lộ diệc như điện

Ưng tác như thị quán"

là bài tán Hội Liên-Trì khi con tụng kinh A-Di-Đà:

"Liên-Trì hải hội

Di Đà Như-Lai

Quan Âm Thế Chí tọa Liên-đài

Tiếp dẫn Thượng-kim-giai

Đại thệ hoằng khai

Phổ nguyện li trần ai"

là phút Quán Không, khi con tụng kinh Bát-Nhã, là Viên-Giác, Lăng-Nghiêm, Đại-Bảo-Đàn...Thầy vẫn ở cùng con trên từng lời Phật dạy. Thầy là người cha đã khai sinh ra con từ một bông hoa đặt nhẹ trên đỉnh đầu trong không gian tưới tẩm hương Vu Lan năm đó. Thầy nào có xa rời con" Thầy nào ngưng dạy dỗ" Chính Thầy đang dắt con tới từng đạo tràng, dạy con biết cách cúng dường, biết cách tu thân, biết nhận ra lỗi lầm, biết nhẫn nhục, biết tha thứ. Sao bấy lâu nay con không nhìn ra mà cứ đau khổ quằn quại "Thầy ơi! Thầy đâu"" trong tâm trạng đứa con lạc cha! Suốt nửa thế kỷ qua, con nào khác chi kẻ cùng tử trong phẩm "Tín Giải", kinh Pháp-Hoa, không nhận ra cha mình dù cha đang ở trước mặt.

Thưa Thầy,

Thầy đã quá từ bi và kiên trì đối với một đệ tử vô minh tột cùng như con. Phải nửa thế kỷ, tấm màn vô minh mới hé cho con chút ánh sáng. Không thể tình cờ người bệnh chợt khỏe, trẻ nhỏ chợt lớn. mà chắc chắn phải có sự chăm sóc, nuôi dưỡng dưới hình thức nào đó.

Đêm qua, ngồi thiền dưới trăng khuya, hương đêm chợt dấy trong hồn con một cảm xúc cực kỳ mãnh liệt. Đó là cảm xúc khi Thầy vẫy nhẹ đóa hoa trên đỉnh đầu con trong mùa Vu Lan năm nào và nói: "Pháp danh con là Diệu Trân". Cảm xúc kỳ diệu đó, mãi đến ngày nay con mới cảm nhận được. Con xin tạ ơn Thầy, Thầy Bổn-sư của con. Trong mầu nhiệm của những điều không thể dẫn giải bằng lý trí, con nay tin chắc rằng Thầy đã không ngừng dạy dỗ con. Ngay cả những người chỉ sống bằng lý trí, tuyệt đối không tin những gì mà họ không nhìn, nghe, sờ mó được, họ đều quên rằng họ có nhìn, nghe, sờ mó được không khí đâu! Nhưng họ đã không thể chối bỏ sự hiện hữu của không khí trong mênh mông vũ trụ này.

Viết thư này cho Thầy, con tưởng rằng sẽ lại khóc tầm tã như những lá-thư không-gửi trước. Nhưng Thầy ơi, con đang nghe được tiếng bầy sẻ lao xao bên bờ tường. Chúng không ríu rít ca ngâm như mấy ông bà thi sỹ tưởng tượng mà chúng đang gọi con, chỉ để xin cơm nguội. Con mang cơm cho chúng hàng ngày, con biết rõ mà. Những cây bưởi đang đơm hoa cũng kêu khát nước, con nghe từng nhánh lá réo gọi dưới nắng hè chói chang; và những bông súng đang kèn cựa, xô đẩy những nụ sen đầu mùa rất thư thả mà vững chãi, nhô lên khỏi mặt nước. Thầy đang dạy con những bài học khó hơn, phải quán tưởng sâu sa hơn, lắng tâm tĩnh lặng hơn, mới giao cảm được sự chia xẻ thân thương cùng vạn hữu quanh ta. Khi nhận được điều đó, ta sẽ không còn cô đơn nữa.

Thưa Thầy,

Từ nay con đã có câu trả lời khi các bạn đạo hỏi:

- Thầy Bổn-sư của Diệu Trân là ai"

- Thưa, Thầy Bổn-sư của tôi là những vị dạy tôi biết nhận ra Phật tánh của mình.

- Tổ-đình của Diệu Trân ở đâu"

- Thưa, Tổ-đình của tôi là nơi Phật Pháp được rao giảng, như tinh thần phẩm "Hiện Bảo Tháp" trong kinh Pháp-Hoa, Phật Đa Bảo đã phát nguyện: "Nơi đâu có vị Phật thuyết kinh Pháp-Hoa, tôi sẽ hiện tháp nơi đó để tán thán".       

Trong không gian thơm ngát hương đạo vị, con cảm nhận rất rõ Thầy vừa dạy con điều ấy.

Con xin quỳ xuống, kính cẩn năm vóc tạ ơn Thầy.

Đệ tử của Thầy

Diệu Trân

(An Cư Kiết Hạ 2006)

Suốt hơn 2,000 năm, con người vẫn thắc mắc: Mỗi khi mùa đông đến, hàng tỷ con chim bỗng biến mất. Chúng đi đâu? Người xưa đưa ra đủ thứ giả thuyết. Có người tin chim biến thành loài khác. Có người cho rằng chúng lặn xuống đáy hồ ngủ đông. Thậm chí có người quả quyết chim bay lên tận mặt trăng! Mãi đến đầu thế kỷ XIX, một bằng chứng kỳ lạ xuất hiện tại nước Đức. Người ta tìm thấy những con cò trắng trở về với mũi tên Phi Châu vẫn còn cắm trên mình. Những con cò này, được gọi là pfeilstörche, đã giúp giải đáp bí mật lâu đời: Chim không biến mất, mà bay hàng ngàn cây số từ Âu Châu sang Phi Châu rồi trở về. Không cần hộ chiếu, cũng chẳng phải mua vé máy bay!
Trong mười năm đầu của Hợp tác Lancang-Mekong (LMC), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Trung Quốc tăng từ khoảng 11,2 nghìn tỷ USD năm 2016 lên 19,5 nghìn tỷ USD năm 2025 — tăng khoảng 74%. Việt Nam và Campuchia tăng nhanh hơn, trên 250%. Thái Lan tăng chậm hơn, khoảng 42%. Myanmar chỉ tăng khoảng 21%. Lào gần như đứng, vì kip mất giá mạnh che mất phần tăng thực trong nước.
Mấy tuần nay, các nhà khoa học về biển ở Mỹ đang để mắt theo dõi một khối nước ấm rất lớn, do hiện tượng El Niño gây ra, đang chảy dọc theo bờ biển Thái Bình Dương, từ Nam Mỹ đi ngược lên phía Bắc, tiến về phía bờ biển Hoa Kỳ. Chỉ vài tuần nữa, khối nước này sẽ tới California, làm nước biển dâng cao và có thể gây ngập lụt nặng suốt mùa thu và mùa đông sắp tới.
Chúng ta đang bị nhấn chìm dưới dòng thác thông tin về hiểm họa của AI đối với nhân loại — phần lớn đầy thuật ngữ chuyên môn mà người ngoài ngành khó lòng hiểu nổi. Tôi từng hoang mang, tự hỏi liệu mình có đang bị bỏ lại phía sau một thế giới mà AI đang dần chiếm lĩnh. Để hiểu rõ, tôi đã đọc các nguồn tin ấy và từng bước đặt câu hỏi với Claude, một dịch vụ AI, yêu cầu giải thích đi giải thích lại cho tới khi người ngoài như tôi có thể nắm được vấn đề. Quá trình này khá vất vả, vì phải phá vòng an toàn bước vào vùng đất lạ, nên tôi ghi lại hành trình để chia sẻ cùng các bạn.
Phía sau cái tên Minoru Yamasaki và một công trình từng cao nhất địa cầu, và cũng là nơi 25 năm trước trở thành hiện trường của cuộc tấn công khủng bố đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ, là câu chuyện về một người Mỹ gốc Nhật thế hệ đầu, đi lên từ nghèo khó và định kiến, để trở thành một trong những kiến trúc sư được ngưỡng mộ nhất của nước Mỹ thời hậu chiến.
Tối 5 tháng Hai năm 1930, nhà phê bình văn nghệ Paul Fechter bước lên diễn đàn của Liên Minh Người Do Thái Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia tại Berlin. Ông biết đề tài mình sắp nói sẽ khó nghe. Fechter nói rằng người Đức từ lâu đã quá “sợ hãi và dè dặt” khi nói công khai về người Do Thái. Ông đặc biệt công kích Kurt Tucholsky, một nhà văn trào phúng Do Thái nổi tiếng, vì cuốn Deutschland, Deutschland über alles (Nước Đức, Nước Đức Trên Hết), trong đó Tucholsky châm biếm quân đội, cảnh sát, công chức, quốc ca và nhiều biểu tượng chủ nghĩa quốc gia của nước Đức.Nhưng Fechter không dừng ở một nhà văn. Ông nói một phần lớn giới văn chương và nghệ thuật Đức “nằm trong tay người Do Thái”; các nhà hát, nhà xuất bản lớn và giới buôn tranh đều ít nhiều “dưới sự kiểm soát của người Do Thái.” Ông trách các nhà buôn tranh Do Thái chuộng Manet, Monet, Renoir, Gauguin, Picasso và Cézanne — những họa sĩ Pháp và hiện đại — hơn hội họa truyền thống Đức.
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Tư tưởng gia người Mỹ George Santayana (1863-1952) đã từng viết trong tác phẩm “The Life of Reason: Reason in Common Sense” được xuất bản năm 1905 rằng, “Những ai không thể nhớ quá khứ thì bị buộc phải lập lại nó.” Có lẽ ý của ông Santayana là nếu ai không học được những bài học của quá khứ thì sẽ phải tiếp tục dẫm lên vết xe đổ. Một con người đánh mất quá khứ tức là mất đi ký ức thì sẽ không nhận biết mình là ai, do đó cũng sẽ không biết mình phải làm gì để xây dựng tương lai. Tương tự như vậy, một dân tộc đánh mất quá khứ lịch sử thì dân tộc đó sẽ không có tương lai. Quá khứ dù có xấu xa cỡ nào thì cũng là những gì mà chính con người hay một dân tộc đã từng làm. Trên thế gian này không một ai và không một dân tộc nào đã không từng một lần phạm phải sai lầm. Nhưng những sai lầm đó trong một ý nghĩa nào đó chính là những điều quý giá mà một con người hay một dân tộc có thể rút ra được bài học để có thể không tái phạm và làm điều tốt đẹp hơn ở hiện tại và tương lai.
Giữa khoảng không mênh mông của vũ trụ, Trái Đất hiện lên như một phép màu xanh thẳm. Hành tinh ấy có nước trong lành, bầu khí quyển dịu dàng, đất đai màu mỡ, rừng núi, sông hồ, biển cả và muôn loài cùng chung sống. Con người sinh ra, lớn lên trong vòng tay bao dung của thiên nhiên, uống từng giọt nước, hít từng hơi thở, bước đi trên mặt đất và được nuôi dưỡng bằng phù sa, nắng gió. Vậy mà, đáng buồn thay, chính loài người — đứa con được cưu mang nhiều nhất — lại đang từng ngày làm tổn thương người mẹ đã nuôi mình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.