Hôm nay,  

Cha Nguyễn Văn Lập

22/12/200100:00:00(Xem: 10516)
I. MỘT THANH NIÊN GỐC QUẢNG TRỊ
Tôi được biết Cha Lập vào khoảng cuối năm 1952, khi Ngài còn làm Cha sở họ Phanxicô, nơi có ngôi nhà thờ Gothic rất đẹp mà thiên hạ thường gọi là nhà thờ nhà nước. Nhưng quê quán của ngài là Quảng Trị, một tỉnh nằm về phía Bắc Thừa Thiên, nơi có những truyền thống lâu đời và một lịch sử anh hùng bất khuất. Con người Quảng Trị là con người có tinh thần chiến đấu cao, có ý chí mạnh và có lòng nhẫn nại làm việc gì cũng làm đến cùng. Khi tôi được biết Ngài, Cha Lập đã du học ở Pháp lâu năm, đỗ cử nhân Sử Học và đang dạy Sử tại trường Quốc Học và Thiên Hữu (Providence), và sau đó là trường Bình Minh, ngôi trường tư thục mà Cha đã vận động nhóm trí thức Công Giáo Huế chúng tôi đồng thành lập. Ai đã tiếp xúc với Ngài và nhất là đã học với ngài đều công nhận rằng óc của Cha Lập là óc Sử gia cho nên Ngài nói điều gì cũng có chứng cớ lịch sử, ý kiến được trình bày một cách mạch lạc, tân tiến và đầy tính cách thuyết phục. Các bài giảng của Ngài ở nhà thờ cũng có tính cách ấy, nghĩa là bố cục chặt chẽ, lý luận vững vàng và chi tiết cụ thể. Tôi còn nhớ như in những bài giảng của Ngài về lễ Phục Sinh. Chúa bị hành hạ như thế nào, mão gai được kết bằng loại gai gì, Chúa chết vì lý do gì, vào lúc ấy có ai chứng kiến và Chúa đã sống lại trong trường hợp cụ thể nào... Nhờ các chứng kiến lịch sử, bài giảng trở nên linh động và dễ gây cảm xúc cho người nghe. Tôi chắc rằng những ai được nghe Cha giảng đều thích như tôi... Được như vậy, vì cha là một người gốc Quảng Trị (nơi người ta phát âm chữ "ông" là "ôông" một cách kính trọng).
Cha Lập một đôi khi có tuyên bố rằng Cha có mặc cảm về bằng cấp vì Cha mới chỉ đỗ Cử nhân mà lại đảm nhiệm chức vụ Viện Trưởng Đại Học. Thực ra đó là vì Cha quá khiêm tốn mà nói thế. Vào thế hệ của Cha, đỗ cử nhân là đã giật được mảnh bằng có giá trị nhất, lý do là vì thời đó bằng cử nhân có mức độ cao hơn bằng cấp cử nhân sau này. Lý do thứ hai là ngoài ông nghè Nguyễn Mạnh Tường ra, đa số trí thức chỉ có cử nhân là cao nhất. Tỉ dụ như GS Nguyễn Huy Bảo (Triết), LM Cao Văn Luận (Triết), LM Lê Văn Ân (Sử), ngay về sau này, các giáo sư cũng chỉ có bằng cử nhân, như GS Bùi Xuân Bào, Trần Quang Ngọc, Nguyễn Văn Hai, Lê Xuân Mai... Vả lại giá trị một con người đâu chỉ căn cứ vào bằng cấp. Cha Lập nói: "Cha đã đặt vào công trình giáo dục tất cả lương tâm và linh hồn của Cha". Đó là một điều kiện tinh thần mà một nhà lãnh đạo nào cũng phải có, huống chi ở Cha Lập, điều kiện ấy được thể hiện trên một mức độ tuyệt đối cao.

II. MỘT LINH MỤC CỦA THANH NIÊN
Vào năm 1952, Cha Lập là một Linh Mục khoảng trên 30 tuổi. Đầu tiên, tôi nói điều này, các bạn đừng cười nhé: Ngài rất đẹp trai với làn da trắng mát, môi lúc nào cũng đỏ thắm như ăn trầu (không như môi các cô có bôi son), miệng hay cười tủm tỉm nhưng cũng đủ để lộ ra một làn da trắng nõn. Chúng tôi thường ví Cha như Clark Gable trong phim "Autant en emporte le ven" (Cuốn Theo Chiều Gió) nhưng là một Clark Gable không ria. Giọng Ngài không mạnh lắm, Ngài hát không hay, nhưng Ngài có biệt tài kể chuyện. Các anh chị em sinh viên chức đã có nhiều dịp nghe Ngài nói chuyện, và phải công nhận Ngài rất có duyên.
Ngài rất chú trọng tới thanh niên. Tôi được ngài giao cho nhiệm vụ săn sóc các học sinh trường Quốc Học và trường Lycée Francais là hai ngôi trường lớn ở Huế. Ngài có chỉ dẫn cho tôi cách tiếp cận thanh niên, hiểu tâm lý và nguyện vọng của họ, nhất là Ngài giải thích cho tôi hiểu sự khác biệt giữa người Bắc và người Trung. Người Trung kín đáo, hướng nội, thích đời sống tâm linh, giàu tình cảm và dễ xúc động. Tiếp xúc với họ, không cần nhiều lời, nhất là phải tránh những lối nói khoe khoang, chủ quan, thiếu thành thật.
Ngài lo cho thanh niên rất chu đáo, giúp họ về đời sống tinh thần, cũng không quên giúp họ về vật chất. Ngài rất chú trọng đến những phương tiện thể thao. Chính Ngài đã phổ biến cách chơi cầu lông. Và rất thích chơi bóng chuyền, bóng rổ, quần vợt. Ngài cũng thấy vai trò quan trọng của âm nhạc. Ngài đã mang về Huế những máy móc thâu băng đủ mọi hiệu cùng những loại dụng cụ âm nhạc. Ngài thường cho tổ chức những buổi văn nghệ, ca nhạc kịch và khuyến khích thanh niên ca múa, hát xướng. Khỏi nói rằng khi Ngài làm Hiệu Trưởng trường Bình Minh, Huế, trường Thiên Hựu, Huế, Đại Học Đà Lạt, Ngài đã tích cực chủ trương thực hiện câu: men sana in corpore sano (tinh thần lành mạnh trong một cơ thể lành mạnh) và khẩu hiệu "mau hơn", "mạnh hơn", "cao hơn" của giới điền kinh.

III. MỘT VIỆN TRƯỞNG TÀI BA
Tôi được Ngài cho lên Đà Lạt dạy Việt văn rất sớm. Mỗi lần từ Huế và sau 1963 từ Sàigòn lên Đà Lạt dạy học, tôi và các Giáo Sư được tiếp đãi như các vị thượng khách. Ngài có sáng kiến dành cho mỗi Giáo Sư một phòng, có toilet riêng rất tiện lợi. Các Giáo Sư ăn cơm với Cha ở phòng cơm, được ăn những món ăn ngon và sang trọng không kém gì các nhà hàng lớn ở ngoài phố, có khi lại còn hơn nữa, nhất là về các thứ rượu vang hảo hạng mà Ngài mua sắm một cách đặc biệt cho các Giáo Sư sành rượu.
Đối với sinh viên, Ngài tiếp xúc thân mật với mỗi người, hiểu rõ đời sống và nhu cầu của họ và sẵn sàng giúp đỡ lúc anh chị em lỡ cơ hoặc thiếu may mắn. Tôi biết có nhiều trường hợp Ngài đã tận tình viện trợ cho những anh chị em phải nằm nhà thương, hoặc khi lấy vợ lấy chồng. Tôi đã dự được những buổi hôn lễ hoặc tổ chức đơn sơ hoặc linh đình, nhưng lúc nào cũng thân mật và ấm cúng. Có thể nói vắn tắt: Sinh viên là lẽ sống của Cha và giúp đỡ sinh viên có phương tiện ăn học là một vấn đề mà Ngài coi là nhiệm vụ trọng đại vô cùng cần thiết.


Mỗi lần có ai xin Ngài điều gì, sau khi suy nghĩ đắn đo một chút, Ngài thường nói: "Ừ thì được". Câu ấy có nghĩa là: Đúng ra thì không được nhưng tôi ưa cho anh chị, tôi vui lòng chấp thuận (mặc dù lời xin đó không đáng chấp thuận). Ngài rộng lượng như thế đó, có đáng hoan hô không "

IV. MỘT VIỆN TRƯỞNG KHÔNG KỲ THỊ
No-discrimination là khẩu hiệu của Ngài. Không bao giờ Ngài phân biệt giáo lương khi phát gạo, phát áo quần, phát tiền. Có khi Ngài lại tỏ ra "thiên vị" người lương là đàng khác. Khi phát học bổng cho sinh viên, cũng không bao giờ Ngài phân biệt tôn giáo. Các Phật tử được Ngài chú trọng đến một cách riêng. Hình như Ngài đã giúp cho nhiều Phật tử học ở Nhật, ở Pháp.
Tôi nhớ khi tôi còn dạy ở Đại Học Huế, tôi đã hướng dẫn sinh viên Đại Học Sư Phạm lên nghỉ hè tại Đại Học Đà Lạt. Chúng tôi đã xây một "pháp luân" (bánh xe pháp) trên một ngọn đồi. Ngài đã cho xây thêm một vài kiến trúc phụ để biến khu này thành một lâm viên nhỏ rất ngoạn mục. Mỗi lần lên dạy học, đi qua khu vực này, tôi lại thán phục tinh thần tôn giáo rất tốt đẹp của Cha Viện Trưởng.
Ngài còn đặc biệt chú trọng đến thân phận của người nghèo và các sinh viên nghèo. Các sinh viên nghèo (vì sống xa gia đình, vì mồ côi, vì bị tật nguyền, vì sa cơ lỡ vận) đều được Ngài cho vay tiền, cho miễn học phí, cư trú phí. Có khi được cho vay tiền và không phải trả nữa. Các nhân viên làm việc dưới quyền Ngài, ai cũng được nâng đỡ tối đa về vật chất, được đối xử bình đẳng, có công ăn việc làm chắc chắn và nơi ăn chốn ở đàng hoàng. Điều này, chính tôi đã thấy và rất kính phục tinh thần xã hội cao cả của Cha Lập đáng kính.

V. MỘT NHÀ KINH DOANH CÓ NHIỀU SÁNG KIẾN
Về tài lãnh đạo của Cha Lập, ai cũng thấy là tuyệt luân. Nói như Lão Tử, Ngài vô vi, nghĩa là Ngài điều khiển mà như không điều khiển. Việc gì Ngài cũng tính toán từ trước, có planning như ta nói ngày nay, từ nhiều năm nhiều tháng trước. Tỉ dụ việc thành lập trường Chính Trị Kinh Doanh, tôi biết Ngài đã có ý định từ khi còn ở Huế. Việc gì Ngài làm đều có tính dự phóng của một nhà kinh doanh như việc điều khiển họ Phan-xi-cô, quản lý trường Thiên Hựu, việc thành lập trường Tư Thục Bình Minh v.v... Ngài đã thiết lập các quy hoạch và dự án từ các năm trước.
Tôi xin nói rõ hơn nữa về việc tổ chức phân khoa Chính Trị Kinh Doanh. Các anh chị đừng tưởng là mọi sự đều dễ dàng đâu nhé " Nếu tôi không lầm, thì Cha Lập đã gặp nhiều người chống đối, mạnh nhất là về phía hàng giáo phẩm, tức là về phía các Linh Mục có quyền hành. Họ lý luận: "Tiền đâu mà tổ chức kinh doanh " Tại sao một trường Kinh Doanh mà không là một trường Thần Học. Trường Công Giáo sao lại tổ chức kinh doanh " Làm như thế không sợ họ cười cho ư" Cười cho bọn Công Giáo chạy theo tư bản "". Thôi thì đủ thứ lý do, và đủ loại chống đối. Ngay trong các giáo sư cũng có nhiều người không đồng tình với Cha Lập.
Một cách khôn ngoan nhưng cương quyết, Cha Lập âm thầm vận động dư luận để tổ chức phân khoa Chính Trị Kinh Doanh. Ngài mời các giáo sư kinh tế đến thảo luận về kế hoạch, về chương trình. Ngài quyết định lựa chọn Khoa Trưởng (giáo sư Phó Bá Long), thành lập Hội Đồng khoa (giáo sư Trần Long, Ngô Đình Long, gọi là tam long tề phi, trong đó các "long nữ" cũng hoạt động rất tích cực).
Sinh viên càng ngày càng đông. Các co-op đã được thành lập, tư liệu học tập ngày càng phong phú. Trường được đón nhận một cách niềm nở.
Ngay trước 1975 đã có nhiều sinh viên tốt nghiệp được mời đảm nhận những chức vụ quan trọng sinh hoạt kinh tế tài chính, chính trị của quốc gia. Sau 1975, tại Việt Nam và nhất là ở hải ngoại, sự thành công của trường càng ngày càng được khẳng định và công nhận. Đây là một hoạt động ngoạn mục nhất của Cha Lập về địa hạt giáo dục. Ngài đã được Bộ Giáo Dục và Giáo Hội Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh.. Nhưng hoan nghênh Ngài một cách tận tình nhất, thân thiết nhất vẫn là các sinh viên Đại Học Chính Trị Kinh Doanh. Với sự thiết lập phân khoa này, Cha Lập đã thực hiện khẩu hiệu Thụ Nhân (trồng người) của Quản Trọng một cách khoa học, cũng như Ngài đã thực hiện chương trình Hội Hữu (quân tử dĩ văn hội hữu) cho sinh viên Văn Khoa, chương trình Cư Dị cho sinh viên Đại Học Sư Phạm một cách vô cùng tốt đẹp.

NGƯỜI CHA NHÂN LÀNH
Với Chúa Kitô được tôn thờ như một kiểu mẫu, Cha Lập cư xử với mọi người như một người Cha hiền lành, nhân từ. Với các giáo dân, Ngài là một Chủ Chiên đã hy sinh vì đàn chiên. Ngài không di cư, không di tản khi đàn chiên của Ngài bị đe dọa về an sinh, về đời sống. Điều này chính Ngài đã thổ lộ với tôi, cho nên tôi mạnh dạn nói lớn ở đây...
Đối với sinh viên, bất kể là lương hay giáo, Ngài là một người Cha lành, luôn luôn săn sóc sức khỏe tinh thần và thể chất cho từng cá nhân sinh viên. Ngài biết tên từng người. Với óc sử học sắc bén, Ngài hiểu rõ từng gia cảnh, từng gốc gác, từng địa phương. Có người nói Ngài thương nhất sinh viên gốc Quảng Trị, sau mới đến Huế, Đà Lạt... và cuối cùng là Bắc Kỳ ("). Nhưng đó là nói sai, tôi là dân Bắc Kỳ, tôi làm chứng là Ngài không bao giờ có óc kỳ thị. Tôi biết có đôi lần tôi đã làm phật ý Ngài, nhưng không bao giờ Ngài để tâm. Với mọi người, Ngài đều nói: "Ừ thì được".
Đức tính khiến cho Ngài dễ trở thành một Cha lành là Ngài có từ tâm, có lòng quảng đại, nhiệt tình (charisme) lúc nào cũng sẵn sàng ứng đáp (disponible). Ai cũng nói rằng lúc nào muốn cần đến Ngài, muốn điện thoại cho Ngài là thấy Ngài có ở nhà, ở bàn giấy. Đối với mọi người, không lúc nào Cha vắng mặt, hình như Cha được Chúa tạo ra lúc nào cũng có mặt để giúp đỡ.
Gần một nửa thế kỷ sống bên cạnh Ngài, được chứng kiến những việc làm và những tính tốt có thể nói là siêu phàm.

(Trích từ Kỷ Yếu Quảng Trị năm 2000, tr. 216)

Suốt hơn 2,000 năm, con người vẫn thắc mắc: Mỗi khi mùa đông đến, hàng tỷ con chim bỗng biến mất. Chúng đi đâu? Người xưa đưa ra đủ thứ giả thuyết. Có người tin chim biến thành loài khác. Có người cho rằng chúng lặn xuống đáy hồ ngủ đông. Thậm chí có người quả quyết chim bay lên tận mặt trăng! Mãi đến đầu thế kỷ XIX, một bằng chứng kỳ lạ xuất hiện tại nước Đức. Người ta tìm thấy những con cò trắng trở về với mũi tên Phi Châu vẫn còn cắm trên mình. Những con cò này, được gọi là pfeilstörche, đã giúp giải đáp bí mật lâu đời: Chim không biến mất, mà bay hàng ngàn cây số từ Âu Châu sang Phi Châu rồi trở về. Không cần hộ chiếu, cũng chẳng phải mua vé máy bay!
Trong mười năm đầu của Hợp tác Lancang-Mekong (LMC), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Trung Quốc tăng từ khoảng 11,2 nghìn tỷ USD năm 2016 lên 19,5 nghìn tỷ USD năm 2025 — tăng khoảng 74%. Việt Nam và Campuchia tăng nhanh hơn, trên 250%. Thái Lan tăng chậm hơn, khoảng 42%. Myanmar chỉ tăng khoảng 21%. Lào gần như đứng, vì kip mất giá mạnh che mất phần tăng thực trong nước.
Mấy tuần nay, các nhà khoa học về biển ở Mỹ đang để mắt theo dõi một khối nước ấm rất lớn, do hiện tượng El Niño gây ra, đang chảy dọc theo bờ biển Thái Bình Dương, từ Nam Mỹ đi ngược lên phía Bắc, tiến về phía bờ biển Hoa Kỳ. Chỉ vài tuần nữa, khối nước này sẽ tới California, làm nước biển dâng cao và có thể gây ngập lụt nặng suốt mùa thu và mùa đông sắp tới.
Chúng ta đang bị nhấn chìm dưới dòng thác thông tin về hiểm họa của AI đối với nhân loại — phần lớn đầy thuật ngữ chuyên môn mà người ngoài ngành khó lòng hiểu nổi. Tôi từng hoang mang, tự hỏi liệu mình có đang bị bỏ lại phía sau một thế giới mà AI đang dần chiếm lĩnh. Để hiểu rõ, tôi đã đọc các nguồn tin ấy và từng bước đặt câu hỏi với Claude, một dịch vụ AI, yêu cầu giải thích đi giải thích lại cho tới khi người ngoài như tôi có thể nắm được vấn đề. Quá trình này khá vất vả, vì phải phá vòng an toàn bước vào vùng đất lạ, nên tôi ghi lại hành trình để chia sẻ cùng các bạn.
Phía sau cái tên Minoru Yamasaki và một công trình từng cao nhất địa cầu, và cũng là nơi 25 năm trước trở thành hiện trường của cuộc tấn công khủng bố đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ, là câu chuyện về một người Mỹ gốc Nhật thế hệ đầu, đi lên từ nghèo khó và định kiến, để trở thành một trong những kiến trúc sư được ngưỡng mộ nhất của nước Mỹ thời hậu chiến.
Tối 5 tháng Hai năm 1930, nhà phê bình văn nghệ Paul Fechter bước lên diễn đàn của Liên Minh Người Do Thái Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia tại Berlin. Ông biết đề tài mình sắp nói sẽ khó nghe. Fechter nói rằng người Đức từ lâu đã quá “sợ hãi và dè dặt” khi nói công khai về người Do Thái. Ông đặc biệt công kích Kurt Tucholsky, một nhà văn trào phúng Do Thái nổi tiếng, vì cuốn Deutschland, Deutschland über alles (Nước Đức, Nước Đức Trên Hết), trong đó Tucholsky châm biếm quân đội, cảnh sát, công chức, quốc ca và nhiều biểu tượng chủ nghĩa quốc gia của nước Đức.Nhưng Fechter không dừng ở một nhà văn. Ông nói một phần lớn giới văn chương và nghệ thuật Đức “nằm trong tay người Do Thái”; các nhà hát, nhà xuất bản lớn và giới buôn tranh đều ít nhiều “dưới sự kiểm soát của người Do Thái.” Ông trách các nhà buôn tranh Do Thái chuộng Manet, Monet, Renoir, Gauguin, Picasso và Cézanne — những họa sĩ Pháp và hiện đại — hơn hội họa truyền thống Đức.
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Tư tưởng gia người Mỹ George Santayana (1863-1952) đã từng viết trong tác phẩm “The Life of Reason: Reason in Common Sense” được xuất bản năm 1905 rằng, “Những ai không thể nhớ quá khứ thì bị buộc phải lập lại nó.” Có lẽ ý của ông Santayana là nếu ai không học được những bài học của quá khứ thì sẽ phải tiếp tục dẫm lên vết xe đổ. Một con người đánh mất quá khứ tức là mất đi ký ức thì sẽ không nhận biết mình là ai, do đó cũng sẽ không biết mình phải làm gì để xây dựng tương lai. Tương tự như vậy, một dân tộc đánh mất quá khứ lịch sử thì dân tộc đó sẽ không có tương lai. Quá khứ dù có xấu xa cỡ nào thì cũng là những gì mà chính con người hay một dân tộc đã từng làm. Trên thế gian này không một ai và không một dân tộc nào đã không từng một lần phạm phải sai lầm. Nhưng những sai lầm đó trong một ý nghĩa nào đó chính là những điều quý giá mà một con người hay một dân tộc có thể rút ra được bài học để có thể không tái phạm và làm điều tốt đẹp hơn ở hiện tại và tương lai.
Giữa khoảng không mênh mông của vũ trụ, Trái Đất hiện lên như một phép màu xanh thẳm. Hành tinh ấy có nước trong lành, bầu khí quyển dịu dàng, đất đai màu mỡ, rừng núi, sông hồ, biển cả và muôn loài cùng chung sống. Con người sinh ra, lớn lên trong vòng tay bao dung của thiên nhiên, uống từng giọt nước, hít từng hơi thở, bước đi trên mặt đất và được nuôi dưỡng bằng phù sa, nắng gió. Vậy mà, đáng buồn thay, chính loài người — đứa con được cưu mang nhiều nhất — lại đang từng ngày làm tổn thương người mẹ đã nuôi mình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.