Tuệ Mai – Nhã Ca: Hai tác giả nổi tiếng trong dòng văn học 20 năm của miền Nam Việt Nam.

06/05/202200:00:00(Xem: 6017)
 
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến. Và cho đến lúc này, chúng ta đã khẳng định được rằng thơ họ là nền tảng, bệ phóng, là bước mở đường vững chãi cho lớp nhà thơ nữ ở thế hệ kế tiếp. Họ gieo trên mảnh đất màu mỡ của thi ca những hạt giống tốt, từ đó cây lên mạnh, hoa đẹp hơn và quả ngon hơn. Chẳng phải là một truyền thừa quý báu và may mắn cho thế hệ sau lắm sao!

nha tho tue mai
Tuệ Mai
 
TUỆ MAI (1928-1982): bà là ái nữ của nhà thơ nổi tiếng Á Nam Trần Tuấn Khải). Bà đã cho ra đời nhiều thi phẩm, trong đó tập Không Bờ Bến đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về Thơ năm 1966.  Bài thơ Vu Quy của bà được Phạm Duy phổ nhạc và nổi tiếng qua tiếng hát July Quang. Tuệ Mai nói gì về Thơ và về cái Tôi? Gói gọn trong bốn câu rất thơ và rất đạo ở đoạn này:
 
Tôi thơ mãi cho thơ tôi góp
thành số không ở cõi chon von
khi xếp cánh nghỉ dài vô hạn
tôi yêu tôi con số khoanh tròn…
(Thơ Tuệ Mai,1974)
 
Đa số thơ Tuệ Mai làm theo thể 5 chữ, 7 chữ và lục bát, nhưng thơ tự do của Tuệ Mai ngày nay đọc lại chúng ta vẫn thấy hơi mới mẻ của nó, như những thơ trích dẫn sau:
 
TRƯỚC SAU
 
Vòng khăn tang lớn dần quấn hãm đời nàng
Giải khăn tang dài, dài hơn con đường tự khởi điểm thôi nôi
Tới khúc quanh năm tháng
Những đám tang
Ôi những đám tang huyệt mùa đông ngăn ngắt
Bia mộ dựng trong nàng
Mỗi một bia một ngọn lửa tàn
Bên một con sông cạn
Như một tắt âm thanh…
Thế giới nàng ngày mở ra với bao nhiêu ngọn lửa
Bao nhiêu dòng sông
Bao nhiêu tiếng hát
Những tiếng hát cao như dự tưởng của nàng
[…]
(Trích đoạn)
 
 
KHU VƯỜN NHÀ NGỤC TÔI

Có phải chúng ta
công việc bắt đầu là
dựng xây nhà ngục

Ngục mọi người đều gắng thật to
tống giam mình vào đó
suốt đời không cho ra

Bằng sức lực thanh xuân,
tôi dựng lên những bức tường cao ngất
bằng trái tim tuổi trẻ,
tôi đốt lên những vòng lửa rực trời
bằng bước chân kiêu hãnh, tôi hăm hở đẩy thân tôi
bằng bàn tay khéo léo, tôi ra sức đóng cài mọi cửa

Và tôi rất tự do
đi lại trong nhà ngục
và ngục rất tự do
xoay cùng tôi đây đó

Tôi trang trí ngục tôi
bằng những hình ngộ nhận
đang thể hiện nơi nơi
bằng những hình xung đột
trong tranh chấp đời đời

Bằng muôn vàn khắc khỏai
trong tình ái tuyệt vời
bằng não tâm dã thú
trong bộ áo con người
bằng rất nhiều tráo trở
trong nhân loại là tôi

Như thiêu thân tự do lao vào đèn
tôi tự do xây nhà ngục cao thêm

Tháng ngày leo miết quanh chòi sắt
để thấy mình đương sống hiển nhiên
  
NHƯ ĐỜI TRẺ LẠI
 
Tôi vẫn đi đây lòng đầy tín ngưỡng
(xin đừng bắt vào thờ phụng nơi đâu)
sắc áo hồn nhiên sắc cờ tự tại
tôi với mênh mang, tôi với muôn màu
 
Tôi đang đi đây, tôi đang đi đây
đừng hỏi tới đâu, đừng hỏi bao ngày
xuân hạ thu đông người rành rẽ việc
tôi vô dụng hoài như chim bướm bay
[…]
(Trích đoạn)
 
Và tôi, tôi với đêm sâu
Chợt đau vai yếu, chợt đau sử buồn
Quãng dài tanh tưởi máu xương
Quê hương thí điểm – quê hương nát nhàu...
(trích đoạn bài Nét Nhìn Rạng Đông)
 
ĐÊM TÔI

dòng thương nét nhớ miên man
tôi năm dấu chữ trên trang thư tình
tim dồn nhịp chấm âm thanh
lửa người hồn khói lênh đênh tưởng vời

sầu mi giọt đọng thương hoài
tôi viên thuốc ngủ đưa người qua đêm
còn không môi nóng môi mềm
tôi ly nước cạn đứng yên góc bàn

nhạc mềm ru bước tình lang
tôi trăng giữa tháng cười vàng đêm xanh
chợ đời vui quá đi anh
tôi bìa tạp chí mang hình phấn son

bụi tung ngã rẽ đường còn
tôi giày da cũ đế mòn lạc đôi
đêm mờ làng cũ xa xôi
tôi con đom đóm vờn soi ao bèo

người tình duyên quấn quít theo
tôi cây thay lá trên đèo còn trông
bạn bè ngủ giấc buồn chung
tôi trao cánh vạc thinh không thốt lời...

– Tuệ Mai
 
Nhã Ca - Nguyễn Trung phác họa
Nhã Ca
 
NHÃ CA (sinh năm 1939 tại cố đô Huế): Theo Du Tử Lê, thì Nhã Ca – một xuất hiện rực rỡ của văn học miền Nam – Thơ bà “là những cánh cửa hé mở cho thi ca miền Nam thời kỳ đó, một chân trời khác.” Qua thời gian, nhận xét này càng chứng tỏ tính không thể phủ nhận của nó. Nhã Ca nổi tiếng cả về thơ lẫn văn. Với thi phẩm đầu tay, Nhã Ca Mới, bà đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Và Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về Văn năm 1970.
 
Thể loại thơ tự do của Nhã Ca là bước chân khai phá đầy ngạc nhiên và quyến rũ, không những riêng thời điểm nó xuất hiện, mà trụ lại vững chãi cho tới bây giờ, một sự mới không hề bị cũ đi, vẫn lừng lững bên cạnh thơ hiện đại của lớp nhà thơ trẻ hiện nay, xin đọc bài thơ này, bà sáng tác năm 1972, để thấy cái không thời gian của nó, để thấy hầu như, bản chất của nó là đương đại.
 
ĐÀN BÀ LÀ MẶT TRỜI
 
Vườn hoa nào cũng ở trước mặt chúng ta
Mùa xuân nào cũng nở cho ta những bông hồng
Hỡi các chị, chúng ta đều đẹp như mặt trời
Tinh khiết như bình minh
Vì chúng ta làm ra ái tình
Ra hoa lá và sự sống trên trái đất

Những người nam đã tán tỉnh chúng ta
Và chúng ta đã chọn cho lòng mình
Một ông vua
Trong những người nam đã gặp
Hỡi các chị đến gần tôi coi
Đến gần tôi và cùng rực rỡ

Chúng ta đã tạo một thiên đường
Đã tạo nên nhiều vị vua
Bởi chúng ta đẹp đẽ và xinh tươi
Vì những ham muốn đã tắm rửa cho chúng ta
Xui chúng ta nóng bỏng như lửa
Và lửa từ mặt trời
Mặt trời xinh đẹp
Chị có đôi mắt sâu như giếng nước phương Nam
Chị có tóc mun đen như dòng sông đêm Ai Cập
Chị có lòng nồng nàn, dữ dội như biển đông
Chị có ái tình ngọt như mật ong
Tôi sẽ tới van xin các chị
Nài nỉ các chị cho tôi mượn tất cả
Để tôi khoe với chàng
Đem tới cho chàng
Để chàng nâng niu
Coi tôi như công chúa

Chúng ta, mỗi người phải là một công chúa

Người đàn bà nào cũng đẹp
Mùa xuân và hoa hồng đều nở vì chúng ta
Chúng ta ban phát ái tình
Cho thiên đàng của chúng ta tươi tốt mãi

Chúng ta mua từ núi cao
những màu xanh rất non
mua từ rừng
những lá cây rất vàng
mua từ đất
những giếng nước rất ngọt
và từ biển
trân châu cùng ngọc bích
để trang điểm cho chúng ta đẹp đẽ
Chúng ta góp sông, núi, đồi trên thân thể
và rừng trong tóc

Tôi sẽ hỏi mượn các chị
mọi thứ xinh đẹp và nóng bỏng
tôi sẽ gõ các cánh cửa im lặng thật nhẹ
để chàng kinh hoàng nhận ra tôi

Tôi sẽ làm rụng hết những giọt sương
đang lóng lánh trong hồn chàng
những giọt sương sẽ rụng và làm nên hài nhi
cùng sự sống
cho thiên đàng chúng ta
đông đúc và vui tươi
Tôi sẽ là mặt trời trong lòng chàng
Buổi mai nào cũng lộng lẫy rực rỡ

Tôi sẽ mát như trăng nhưng cũng nóng hơn lửa
hơn cát ở sa mạc
hơn cả cơn giận
của trận hồng thủy trong thánh kinh
Bởi tôi là đàn bà
người đàn bà nào cũng xinh đẹp
cũng làm ra sự sống

Hỡi các chị chúng ta sẽ nối tiếp nhau đẹp mãi
Để những bông hoa của mùa xuân
Phải quanh quẩn chiêm ngưỡng

Hỡi các chị hãy đến đây và làm điên đảo
Sự quay cuồng vui thú của trái đất
Chúng ta luôn luôn xinh đẹp và ở trên cao
Các chị có đôi vú ngọc bích
Có da sữa, tóc dài
Có má hiền, môi mật
Đừng để những kẻ đi săn lạc đường
Hãy dẫn dắt và tội nghiệp họ
Hãy hung dữ với họ như sư tử
Hãy dịu dàng với họ như nai
Để họ quay như trái đất quanh mặt trời
Là chúng ta mãi mãi
Để chúng ta cho họ ngày đêm và bóng tối

Tôi sẽ lùa bóng tối thật dầy vào đêm của chàng
những ánh sáng nóng bỏng cho ngày của chàng

Chúng ta là những người nữ xinh đẹp
Xinh đẹp hơn mọi loài trên trái đất
Chúng ta có lòng ghen mạnh như bão
Chúng ta có sự tinh khiết trong như trăng
Chúng ta có thịt da, có núi, có rừng
Chúng ta đỏ như mặt trời
Đen như đêm
Và vàng như lửa

Tôi cũng có một ông vua cho ái tình tôi
Tôi cũng đã chọn chàng
Để sự sống tràn trên trái đất
Tôi sẽ đi góp nhặt từ mặt trời
Từ phương đông, phương tây, từ những buổi sớm mai
Những sữa, kem và mật để làm nên rượu ngọt
Để pha hương thơm trên thân thể mãi mãi
Trên thịt da tôi mà chàng yêu dấu

Cám ơn Thượng Đế đã cho tôi đôi vú
cho tôi da mịn và tóc dài
cho tôi rực rỡ như mặt trời
để tôi làm ra ái tình và rượu ngọt
tràn trên trái đất

Hỡi các chị hãy đến nhìn tôi coi
Hỡi các chị vô cùng khả ái và xinh tươi
Hãy đến nhìn tôi coi
Tôi đang đỏ đang đen
Đang làm ra nước làm ra lửa

(Thơ Nhã Ca, NXB Thương yêu, 1972)
 
Để ý, trong bài thơ này Nhã Ca nói đến nhiều mặt về nữ tính, Tôi-đàn bà, ở đây là kính mặt trời vạn hoa mỗi phản chiếu tỏa ra ẩn dụ những thi ảnh và thi ngữ tuyệt vời khiến bài thơ vừa mang tính cách hiện thực, mạnh mẽ, rực lửa của nữ tính mà vẫn lấp lánh mặt kia của nó là thơ mộng và lãng mạn. Từ đó cho chúng ta thấy nữ sĩ đã thể hiện quan niệm về nữ quyền là một chọn lựa có ý thức và kiêu hãnh. Đó là thông điệp rực rỡ của thơ Nhã Ca.

Trong vũ điệu day dứt của hoang mạc gió, lữ khách dừng lại, gõ cửa. Căn nhà trống mùa đông. Bàn tay lạnh quẹt một que diêm, nhen lên nỗi buồn, thảng thốt những ước mơ ngày cũ theo tro bụi bay lên, buồn bã như những lời em sắp nói, như ánh lửa lụi tàn, như tuổi thơ đi qua… Có tiếng chuông xa đâu vọng về, đơm hoa trong bóng tối lời nguyện cầu, lữ khách cảm thấy móng vuốt của băng giá tan ra bởi niềm khát khao cháy bỏng… Tuyết rơi trên ô cửa sổ, lấp lánh một nỗi chờ.
Khi mặt trời bỏ đi / tuyết đầu mùa tìm đến / những cánh tay màu trắng / cầm trái tim trẻ em
Một chút gì gợn lên nơi mùi cà phê sáng, nơi tách trà nhâm nhi buổi xế chiều, nơi ly vang đỏ nồng đêm tối, làm cồn cào nhớ đến câu thơ đã đọc từ lâu lắm, thơ xưa chăng, nhưng sao cái rung động hôm nay về nó vẫn làm ta xao xuyến đến vậy.
Mùa thu dẫu vừa khảy đôi ba nhịp vàng trên tàn cây. Mùa thu dẫu đang đốt hết mình trên hàng cây maple đỏ lá suốt dặm dài. Và mùa thu cho dù cũng vừa khép cánh cửa để ra đi, khép rất nhẹ nhàng như sợ làm thức giấc ai đó đang say ngủ. Tất cả. Những bổng trầm của mùa thu đều rúng động mấy tầng cung bậc cảm xúc của ta. Phiến lá vàng óng kia ẩn mật điều gì. Dấu chân vàng ố chiếc lá cuối thu như thể là những dấu chân cuối cùng để – nhẹ hẫng về mai sau – Ngọn gió của mùa thu ly tan nào vẫn thảng thốt trong nỗi chờ đợi. Hạt mưa nào xám tro quán phố. Và người ngồi nghe gió mùa thu về như – tiếng thổn thức của thời gian. Bạn ơi, xin lắng lòng trong buổi đêm tịch mịch để nghe cảm xúc bạn hòa âm thế nào với âm vang thu, để biết tác động mãnh liệt của thu – phù vân thôi cũng nát đời như chơi…
Phần lớn các nhà thơ nữ sinh sau cột mốc đau thương 1975, đã dường như nhẹ nhàng hơn, những ám ảnh của chiến tranh, ít bị day dứt hơn vấn đề ý thức hệ. Họ ít nhiều đã hưởng được quả ngọt của nữ quyền, thoát ra khỏi khung cửa chật hẹp của định kiến, góp phần nở rộ một dòng thơ mạnh mẽ, tự tin, khao khát tự do, và bản lĩnh, nói rất thực nhân sinh quan của mình về những mối tương quan trong một thế giới vật chất như hiện nay. Họ cũng rất phóng khoáng thể hiện những cảm xúc đam mê dạt dào nữ tính. Mang những trạng thái có vẻ như đối nghịch nhau như thế khiến dòng thơ của lớp thơ nữ này tỏa sức quyến rũ lạ lẫm, tạo nên một lớp độc giả với cảm thụ thi ca mới mẻ.
Khi toàn quốc chiến đấu, người phụ nữ cũng xuất hiện trên các chặng đường của đất nước. Chúng ta đã nhìn thấy hình ảnh người phụ nữ trong cuộc chiến ở Ukraine trên truyền hình, trên YouTube. Họ là các y tá, những chị bếp, hay người nữ chiến binh… nghĩa là tất cả những phương tiện phục vụ cho chiến trường chống lại quân Nga. Nơi đó, giữa những tiếng súng chúng ta nghe được từ màn hình TV, giữa những lời kêu gọi tác chiến, vẫn có những lời thơ đầy nữ tính từ đất nước đau khổ Ukraine. Nhà nghiên cứu Julia Friedrich của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Công Toàn Cầu (Global Public Policy Institute - GPPi) tại Berlin trong bài nghiên cứu về hình ảnh phụ nữ tại Ukraine, nhan đề “Feminist Activism in Ukraine Usually Means Demanding More Weapons” (Hoạt động nữ tính tại Ukraine thường có nghĩa là xin thêm vũ khí) đăng trên tạp chí Tagesspiegel Online bằng tiếng Đức ngày 6/8/2022 cho thấy ngoài làn sóng di tản ra hải ngoại, còn rất nhiều phụ nữ ở lại Ukraine để trở thành trụ cột cho một giềng mối mới
Bà nổi tiếng với bộ tự truyện 6 cuốn. Quyển thứ nhất nổi tiếng nhất trên thế giới viết về 17 năm đầu đời của bà, I Know Why The Caged Bird Sings (1969), bà nói: “Đầu tiên người đời phải học cách chăm sóc chính mình để rồi có thể chăm sóc người khác. Đó là lý do làm cho “chim trong lồng hót”. Với tự truyện này bà được xem là một trong những phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên dám công khai bạch hóa đời riêng của mình. Maya Angelou được chọn làm “Người Phụ Nữ của Năm 76” (Woman of the Year) về Truyền Thông của tạp chí Ladies’ Home Journal. Giải Thưởng Matrix của Hội Women in Communications, Inc. vào năm 1983, Giải Thưởng Văn Chương North Carolina vào năm 1987, Giải Thưởng Candace 1990 của Cơ Quan Liên Minh Quốc Gia Phụ Nữ Da Đen (The National Coalition of Black Women).
Langston Hughes và Maya Angelou là hai tên tuổi lớn của nền thi ca da đen. Trang thơ xin bắt đầu với Langston Hughes. Ông sinh ở Joplin, Missouri, là một nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch. Thơ của ông kết hợp nhiều thể loại, mang đậm nét những bài hát dân gian da đen. Ông tôn vinh nền văn hóa người Mỹ gốc Phi châu trong thời kỳ được gọi là Thời kỳ Phục Hưng Harlem.
Là một nhà thơ, một nhà văn, và là một nhà báo. Hẳn là quá nhiều cho một đời người. Và rồi trở thành chiến binh, sau khi quân Nga tiến vào chiếm bán đảo Crimea và tấn công miền Đông Ukraine năm 2014: nhà thơ Borys Humenyuk đã tình nguyện ra trận chống quân Nga. Một số bài thơ của ông được dịch sang tiếng Anh trong tuyển tập Poems From The War, do hai dịch giả Oksana Maksymchuk và Max Rosochinsky thực hiện. Borys Humenyuk ra đời năm 1965 tại ngôi làng Ostriv, thị trấn Ternopil, miền tây Ukraine. Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà báo. Humenyuk đã tham gia tích cực vào những cuộc biểu tình cuối năm 2013 để dẫn tới Cách mạng Nhân phẩm (Revolution of Dignity) của Ukraine trong tháng 2/2014. Những câu chuyện về chiến tranh được kể trong thơ Borys Humenyuk là có thật, không hư cấu.
Chúng ta đều biết rằng Belarus là một nhà nước toàn trị, tuy mức độ cai trị không khắc nghiệt như ở Nga nhưng vẫn là độc tài hơn hầu hết các nước ở Châu Âu. Tuy nhiên văn học Belarus lại là một lĩnh vực không liên hệ bao nhiêu tới những cam kết chính trị của nhà nước Belarus trong nỗ lực hỗ trợ cuộc chiến của Putin tại Ukraine. Những bài thơ được dịch từ tiếng Belarus sang tiếng Anh đang phổ biến trên nhiều mạng trong học giới Hoa Kỳ cho thấy một khuôn mặt văn học Belarus rất mực thơ mộng của một dân tộc đang tìm tới chân, thiện, mỹ. Belarus có khoảng 9 triệu dân, thủ đô là Minsk, từng là một phần của Liên Xô cho tới năm 1991 tới tách ra, được cai trị bởi Tổng Thống Alexander Lukashenko từ năm 1994 (quá lâu, tới 28 năm nắm quyền tối cao). Biên giới Belarus vây quanh bởi Nga, Ukraine, Ba Lan, Lithuania và Latvia. Hơn 40% trong 207,600 cây số vuông (80,200 dặm vuông) là rừng. Belarus bị Thế Chiến 2 tàn phá, mất 1/3 dân số và hơn ½ tài nguyên kinh tế.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.