Trong biên vực ảo ảnh của chờ đợi thì anh có thể, dựa vào lưng gương lạnh giá/ hát nghêu ngao một cách vô tư… cho đến khi tiếng rung cuối cùng của tấm gương trong suốt ấy mở ra thiên địa mới… Có vẻ như trong bụng chờ đợi của mùa đông đang sửa soạn để khai sinh.
Mời người lắng vào thơ của các tác giả Han Kang- Nguyễn Man Nhiên, Nguyễn Lương Vỵ, Trương Đình Phượng, Nguyễn Đạt, Bei Dao (Bắc Đảo)-Cù An Hưng, Đỗ Hồng Ngọc, Trần Ngọc Diệp, Trịnh Thanh Thủy, Nguyễn Thị Khánh Minh, Vũ Hoàng Thư, Vân Thuyết, Hoàng Xuân Sơn, Trịnh Y Thư, Khế Iêm, Nguyễn Xuân Thiệp, để nghe nỗi trở dạ rộn ràng cùng u buồn của mùa Đông.
HAN KANG
Mùa Đông Qua Gương (Trích đoạn)
Nhìn vào đồng tử ngọn lửa.
Màu xanh lam
con mắt hình trái tim
nóng bỏng, rực rỡ
bao quanh nó
ngọn lửa bên trong màu cam
nhấp nháy
bao quanh lần nữa
ngọn lửa bên ngoài hơi trong suốt
sáng mai, buổi sáng em
khởi hành đến thành phố xa nhất
sáng nay
con mắt xanh của ngọn lửa
nhìn xuyên qua đôi mắt em.
…
Bên trong tấm gương mùa đông đang chờ đợi
Một nơi lạnh lẽo
Một nơi tột cùng giá lạnh
Lạnh đến nỗi
mọi vật không thể run rẩy
khuôn mặt (từng đóng băng) của anh
không thể vỡ tan
Em không đưa tay ra
anh cũng
không muốn đưa tay ra
Một nơi lạnh lẽo
Một nơi mãi lạnh giá
Lạnh đến nỗi
đồng tử không thể dao động
mí mắt
không biết làm sao khép lại (với nhau)
Bên trong gương
mùa đông đang chờ đợi và
Bên trong gương
Em không thể tránh khỏi đôi mắt anh và
Anh cũng không với tới.
Họ nói rằng chúng ta sẽ bay cả ngày.
Gấp chặt hai mươi bốn giờ nuốt vào miệng và
đi vào gương họ nói.
Khi em dỡ hành lý trong một căn phòng ở thành phố đó
Em nên dành thời gian rửa mặt.
Nếu nỗi đau khổ của thành phố này âm thầm ập đến
Em sẽ âm thầm tụt lại phía sau và
khi anh không nhìn vào nó trong khoảnh khắc
hãy dựa vào lưng gương lạnh giá
hát nghêu ngao một cách vô tư.
Cho đến khi, đã gấp chặt hai mươi bốn giờ
và khạc nhổ ra bằng lưỡi nóng
anh quay lại nhìn em
…
NGUYỄN MAN NHIÊN chuyển ngữ từ bản dịch Anh ngữ “Winter through a Mirror” của Sophie Bowman trên tạp chí Modern Poetry In Translation số 3/2016.
NGUYỄN LƯƠNG VỴ (1952-2021) Bài Ca Tuyết Số 30
tay xòe
một nạm tuyết
nư
mở ra thiên địa
bay vù thế nhân
biến ảo đôi
tiết tấu. gần
mà trường thanh vọng
từ đơn. rung. gầy
trân mình
trong mỗi phút giây
lên căng mã vỹ
réo bầy sâm thương
đoan khúc
từ bấy dặm trường
đêm xanh
lòng bạc
trắng
tường vôi
câm
Nguyễn Lương Vỵ
2. 2011
TRƯƠNG ĐÌNH PHƯỢNG
Nói Với Mình
Thôi đành về "giỗ" giấc mơ còng gió biển kia có cạn bao giờ mà chờ viên tịch bão giông? Khắc khoải gần nửa đời chờ nỗi đau phân huỷ chăm bón mầm hi vọng đâu ngờ cằn cỗi tương lai? Về thôi trời có chật bao giờ mà mơ chạm tới vầng trăng viên mãn? tháng ngày thương vay khóc mướn vật vờ sa mạc đời vẫn bặt tăm bóng hình ốc đảo! Về thôi mùa đông có hết lạnh bao giờ mà mơ mái nghèo nụ cười mẹ già khởi nắng đêm cô tịch có khi nào không quạnh vắng mà mơ tâm tư tìm thấy một chân trời?
Trương Đình Phượng
NGUYỄN ĐẠT
Tới Rừng Bất Chợt
Tôi trở lại khu rừng dù bất chợt
Kiếm tìm chi chưa rõ kiếm tìm chi
Chiều vĩnh viễn có lớp mù xám nhạt
Có giọt sương xuống vội để tan đi.
Rừng có tỏ sau hồi mờ mịt ấy?
Cỏ có hoang vu ngút dấu chân người?
Em có nhớ đã bao mùa trôi chảy?
B’Lao Xanh ken mấy bận u hoài?
Tôi trở lại kiếm tìm dù vô vọng
Thung lũng dưới kia vừa ngập gió đồi
Rừng bất chợt cùng buổi chiều kín đọng
Chiếc áo choàng ai vừa phủ vai tôi.
Nguyễn Đạt (V-2013)
BEI DAO (BẮC ĐẢO)
Đi Vào Sương-Mù-Như-Mưa
Mây đen, ấy những giờ bồng bềnh.
Chim tán loạn bay mọi hướng.
Những đường nét xanh nghiêng dốc
Quất roi vài những cây sẫm màu
Như thể quất ngàn cái gậy
Và ngàn trái tim kẻ già nua.
-Tim, đâu là nhà
Đâu là mái?
Cỏ vừa nức nở vừa say.
Gió nói cùng mưa. Có lần ngươi
Là nước. Và nói cùng nước sẽ trở về.
Rồi mưa gom lại những mũi gươm đầu
Và chảy thành suối thàng sông.
Trên giá băng, tia chớp im lặng khiến
Bãi ngầm sâu lui dần trong tiếng nổ
Rồi đột ngột khép.
CÙ AN HƯNG Dịch từ bản Anh-dịch của Bonnie S. MacDougall, trong tập thơ “The August Sleepwalker”, Anvil Press Poetry Ltd, 1988
ĐỖ HỒNG NGỌC
Tuyết
Tuyết bay
Bay nhẹ
Phố tàu
Gió co
Ro lạnh
Phố
Đìu hiu
Theo.
Đỗ Hồng Ngọc
Boston, 1993
TRẦN NGỌC DIỆP
Đừng Khóc Khi Nhóm Bếp
mùa đông mở những chiếc hộp
một hàng cây ánh sáng
một cánh cửa gỗ
nàng kéo rèm
trút gió
ngân rung khúc Giáng sinh
hay mê hoặc kiểu híp – hóp
nàng nằm co
trông như con mèo phơi nắng
xuôi như tiếng vọng
làm dấu thánh thầm một cái tên
cây thánh giá, cổ và chiếc xương đòn
thật hợp lý
thách thức thời gian
căng lên những sợi gân tay
trắng thêm vài sợi tóc
nhưng sẽ không ai thấy nàng khóc
khi nhóm bếp
những lớp bụi tội lỗi
xưng tội màu men sứ xanh lơ trên chạn
nàng nghe lời kinh cất lên từ những trang thơ
rơi xuống chiếc giường đầy lông vũ
những chiếc gối trẻ con
thơm mùi bánh nướng và tiếng lục lạc
nàng hợp lý
hay thách thức thời gian
lơ lửng
giọng chuông
trên đôi giày cao gót
họ
những người đàn ông không biết
làm gì trước sự im bặt tiếng chuông.
Trần Ngọc Diệp
TRỊNH THANH THỦY
Thung Lũng Lửa
Biêng biếc làm sao chàng mây
vừa nhặt được màu xanh của ký ức
đánh mất sau cơn giông đêm qua
cùng vầng dương ửng hồng sau vách đá
khoan thai cài nắng mai
vào xuân
Gió cũng đẩy tiếng gào sắc lạnh tàn đông
xuống lũng thấp
đưa những cánh chim về miền ấm áp
có cây thơm lành lũng lĩu quả
và không quên
lăn tăn rải sóng xuống mặt hồ
đang in bóng nụ cười selfie
làm dáng của thần thái dương
Bầy sơn dương cũng chợt tỉnh cơn mơ
ngẩn ngơ nhìn những chồi xanh nhưng nhức
gọi mời trong sương sớm
tinh khiết đến lạ thường
giữa những mảng băng tan
chiếc mũi bạc chú hải cẩu long lanh sáng
Đá vẫn ngủ đứng, ngủ nằm
ngủ nghiêng, giấc động
tai mơ hồ nghe lời gió hát
bài trường ca kể chuyện chàng lãng tử
ngủ quên trong Thung Lũng Lửa
hoá chim phượng hoàng lông đỏ sẫm
bay lên từ một đám tro tàn
Trịnh Thanh Thủy
VÂN THUYẾT
Âm Thanh Mù Lòa
Mùa đông buốt lạnh
Những âm thanh mù lòa
Chống gậy lang thang trên hè phố vắng
Những chiếc lá mùa đông
Rơi rụng… chúng quấn quýt bên nhau
Không muốn rời xa tình bạn
Từ thủa chúng mới được sinh ra
Gió bụi trần rơi vãi… làm thời gian buồn
Sóng thủy triều
Sụp đổ bên vách đá chênh vênh.
Vân Thuyết
Hà Nội, 2021
NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH
Ô Cửa Sổ Mùa Đông
Ô mầu xám
Giam tôi. Ánh nhìn lạnh
Đóng băng
Ý nghĩ cùng ước mơ
Có tiếng chim đêm rúc khẽ
Niềm bí ẩn trong ngực bật ra. Thổ lộ…
Có tiếng xào xạc mơ hồ
Như nỗi trắc ẩn của thời gian
Trên con đường ẩm ướt
Những ồn ào gây rối
Đã biến mất sau bức tường say ngủ
Co ro. Đêm
Một ngày. Tro tàn của ký ức
Dường như
Trong run rẩy lặng lẽ
Của chiếc khăn quàng bỏ quên từ hôm qua
Thành niềm an ủi cuối cùng cho những cành cây trơ trọi
Mùa Đông cúi đầu. Nhẫn nhịn
Ngậm tăm những cơn mưa suy tưởng
và ngôn từ lạnh giá
Mùa Đông biết rằng
Cách ra đi đẹp nhất
Là tiếng thở dài
Trong tin vui hào phóng của trái tim
Mầm sống những chồi non
Cựa quậy
Và tất cả biết rằng
Có một điều đầy màu sắc
Đã sinh ra
Ô màu xanh
Trám tôi
Vào khung cửa mở
Nguyễn thị Khánh Minh
VŨ HOÀNG THƯ
Đông
tôi êm ả
trắng mùa bông
hồ trở lạnh
phủ mền đông giữa ngày
con mắt xưa
chảy tuyết này
ướm lời khe lảnh nụ hây xuân mầm
trong hơi hướm
bạch hương trầm
đốt lò khươi ấm muôn phần lửa mê
tôi nghi hoặc
lạnh hàn về
giữ hồn nắng
giữa trăm bề nước xao
cuộc vui chào
hạc vút cao
cánh bay bổng
hình dung nào cõi xa
lọn tóc vương
sương tuyết pha
vết chim nhớ
lời đông ca lậm chìm
nghe xa xăm
niềm lặng thinh
lạnh âm thâm áo cõi mình hàn cư
Vũ Hoàng Thư
HOÀNG XUÂN SƠN
Đông Khúc Rời [ phố đến. và về ]*
Nguội rồi lạnh cả hai vai lạnh thêm một tép than ngoài chân mây lửa vui chẳng nhóm đêm này nên câu hàn thử [rạc] gầy như xưa nhạc treo một phiên âm hờ lặng im của đất mù mờ của cây đèn trôi về phía chân mày giật mình kiếp bạc lung lay bóng nhòa
Năm nay mình lại đi xa trốn mùa tuyết giá khóa nhà. cách ly mình đi cứ đi và đi mình đi tìm một chút gì mong manh đẹp như hoa ở trên cành nhẹ như tiếng hót vàng anh bên trời
Em hãy nhìn tuyết đang rơi rồi mường tượng bao nhiêu lời thở than đất trời nào lượn quay ngang cuộc đời nào rồi lan man dấu người vệt chim đã tắt cuối trời tuyết ơi, còn chút gọi mời dương quang
Như những tiếng cầu xin cứu vớt linh hồn chúng tôi / ngoài khơi bí mật đến tự một con tàu biển; / qua những mảnh danh từ dệt nên hồn mầu nhiệm / em vẫn chỉ là tóc mây cổ nõn và môi./ Sau áo len danh từ là thế giới xa vời, / là đêm không trăng sao là trùng dương thăm thẳm; / qua những chuỗi ngọc cười, em vui nước mất đẫm / vai anh, em buồn. Đêm hồn anh dài không nguôi.
Một cõi mênh mông các cảnh giới. Cũng là một chiếc kén bé nhỏ gói bí ẩn về giấc mơ một ngày kia sẽ tung ra muôn trùng tơ quấn quít hiện thực. Một khung cửa khép với chờ đợi, với cô lẻ số phận. Một bầu trời cao rộng với những đường bay mạnh mẽ hoan lạc của cánh chim tự do. Một mặt biển bị xao động bởi những con sóng ngầm làm ngạc nhiên thinh lặng của vực sâu. Là cánh cửa được mở tung bởi ngôn ngữ như những tiếng gõ dồn dập. Là bức tường bức phá bởi sức mạnh của ý tưởng. Là con đường hiểm hóc hay mượt cỏ, những bước chân vẫn đi tới đi tới. Ở đó bạn nghe được khát vọng tìm hạnh phúc chân thực như trở về cội nguồn tâm sâu thẳm. Ở đó bạn sẽ thấy cảm xúc mình bung ra như sắc mầu của chiếc kính vạn hoa. Ở đó, những con chữ như nam châm hút cảm xúc người đọc. Ở đó, từ trường say đắm thơ mộng của Đinh Thị Như Thúy, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Thùy Song Thanh, Vũ Quỳnh Hương.
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.
Tôi đã đọc thơ Nguyễn Quốc Thái từ hơn một thập niên. Và nhiều người đã đọc thơ anh hơn một nửa thế kỷ. Hình như, tôi chưa thấy dòng thơ nào vui của anh. Và ngay cả những dòng thơ có thể được suy đoán là vui, cũng vẫn có một nỗi buồn thần bí trong đó – nơi đây, đành nói là thần bí, vì không giải thích minh bạch được. Cũng có thể vì tôi thấy nét mặt anh lúc nào cũng buồn. Đó là những lần tôi được gặp anh, khi anh có dịp thăm Quận Cam. Cũng có thể vì Nguyễn Quốc Thái là một nhà thơ ra đời trước tôi khoảng một thập niên, thuộc một thế hệ có nhiều chia ly hơn là gặp gỡ, nhiều tan vỡ hơn là hàn gắn. Cũng có thể vì một vài câu thơ của Nguyễn Quốc Thái, tôi đã đọc qua, và chợt nhớ một vài ý trong đó. Như bài thơ có nhan đề Todo Passa. Anh làm bài thơ này từ Sài Gòn, vào tháng 12 năm 2017. Trích năm dòng đầu như sau. / Một mình tôi với những câu thơ đau đớn mới/ Lời vỗ về an ủi như tiếng gió lùa qua bến bờ lau sậy / Tôi ngã xuống như một hẹn ước dở dang ...
thở lên cầu lộng chân mây/ loa xa nhánh nữa cởi vai sông triền / từng say đắm rượu bách niên / cây nhân gian sẽ nhện phiền muộn giăng / bím thư sinh bới lọn mầm / lưới yêu mị chải lệch tâm lược ngà / nhá nhem đóm lội tịch tà / cái hôn ám cũ tách ra giữa vời
Một nhà phê bình văn học ngoại quốc đã nói đại ý: Nếu các nhà thơ hiện đại không có độc giả, họ có thể tạo ra độc giả. Đây thuộc vào phần lớn thi tài của nhà thơ. Để có được một bài thơ ra thơ, nghĩa là, được sinh ra từ cảm xúc thực, có sự mới lạ của chữ và nghĩa, và ít nhất là có nhạc thơ. Thơ hiện đại có khi nghiêng về lý sự mà coi nhẹ cảm xúc. Làm thế nào để một bài thơ triết lý, suy tư, gây được rung động Thơ nơi người đọc? Thơ Nguyên Yên có một gợi mở như thế. Thơ của cô trầm tĩnh, đầy những suy tư triết lý, và táo bạo một cách sáng suốt để không phá đi thẩm mỹ từ của thi ngữ. Cô tôn trọng thi ngữ, cô triết lý bằng cảm xúc thơ (là khi trái tim phỉnh cái đầu… ), và vì vậy dòng thơ hiện đại của cô bật lên được nhạc chữ rất riêng của thơ tự do, đọc lên, có được cảm xúc đọc một bài thơ, cảm được cái mới lạ của chữ, nghĩa, hình ảnh. Suy tư mà vẫn ánh lên nét thơ mộng, lãng mạn, đặc biệt là những bất ngờ ở cuối bài thơ. Đó là những yếu tố mà thơ Nguyên Yên đã chinh phục được người đọ
Em đi để lại mây ngàn
quyện vào chuông mõ, phím đàn nửa đêm
Thương anh không ngủ giấc thiền
nụ cười em gửi ngoài hiên cúng dường
Em đi phả lại mùi hương
ướp làn gió sớm, thơm đường mây trưa
Thương anh trăm nắng ngàn mưa
lái đò cổ độ giúp đưa qua bờ.
Trong mơ tưởng của tôi/ Âm thanh những sợi mỏng nhịp nhàng. Neo trên cùng một nhịp. Ngày và Đêm. Giấc mơ và thành tựu. Anh và em./ Trong mơ tưởng của tôi / Ánh sáng rực rỡ sóng, run trong ngực viên đá bổn mạng đại dương xanh. Nhốt vào sâu thẳm tiếng đập sóng gió. Tôi trôi. Phập phồng điểm hẹn. Nhịp vui trái tim đẩy dòng chảy thời gian rộn ràng trong mạch máu./ Trong mơ tưởng của em. Thương khó một mùa gặp gỡ. Dẫu bước chân em giờ như chiếc lá khô lăn theo năm tháng. Mộng mơ là cuống mỏng manh. Nuối nhìn mắt gió.
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.