Khi danh hài Adam Carolla được gắn ngôi sao trên Đại Lộ “Walk of Fame”, Jimmy Kimmel xuất hiện trong chương trình Late Night vinh danh bạn mình:
“Adam và tôi, như quý vị đã biết, có nhiều bất đồng trong chuyện chính trị, nhưng tôi yêu mến anh ấy. Tôi chưa từng làm việc với ai hài hước hơn anh ấy.”
Kimmel, anh hề chuyên thọt lét thiên hạ, người bị đệ nhất phu nhân Melania yêu cầu cho nghỉ việc, nói tiếp:
“Tôi hãnh diện về anh ấy. Thật sự hãnh diện.”
Cả nước đều biết Carolla là một tay MAGA thứ thiệt, đứng bên kia chiến tuyến của hầu hết những gì Kimmel nói mỗi tối.
Tình bạn ba chục năm của họ không gãy vì hai lá phiếu đi hai ngả. Đứng giữa đám đông hôm đó, Kimmel nghẹn giọng: “Tôi biết anh ấy là người tốt.”
Nhưng không phải ai cũng làm như vậy.
Chọn không thoả hiệp
Với nhiều người, chuyện cắt đứt không đơn giản là khác nhau một lá phiếu. Phần đông những người chọn xoá số thường đã đi một quãng đắn đo dài trước khi quyết định.
Lá phiếu cho Trump, trong mắt họ, đồng nghĩa với việc chấp nhận siết nhập cư, hạn chế quyền phá thai, quay lưng với người yếu thế, dung túng kỳ thị chủng tộc, xem nhẹ phụ nữ, người đồng tính, người chuyển giới, và tầng lớp lao động nghèo, đồng thời gây chiến tranh bất ổn. Nó cũng là sự chấp nhận một lối hành xử làm suy yếu các chuẩn mực tự do, dân chủ căn bản, chưa kể đến những giá trị đạo đức làm người không thể mặc cả.
Aristotle cho rằng có ba yếu tố để kết bạn. Một vì vui, hai vì lợi và ba vì phẩm giá đạo đức. Bạn nhậu, bạn chơi pickleball, bạn đồng nghiệp thường nằm ở hai loại đầu. Chỉ loại thứ ba – khi hai người có chung một nền tảng giá trị chân thiện giúp họ kéo nhau đi lên mới là thứ tình bạn keo sơn chặt chẽ.
MAGA, với nhiều người, đã làm lộ ra ranh giới bạn hay bè. Những mối quan hệ từng tồn tại vì thói quen không còn đứng vững khi nguyên tắc sống bị thử thách.
Đạo Phật, qua những lời giảng như của Thích Nhất Hạnh, cũng đưa ra một giải đáp. Thương một người không có nghĩa là cho phép người đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến mình. Thấy được nỗi mê muội của họ là từ bi; biết rời bước đúng lúc để những cơn sóng không tràn qua đời mình cũng là từ bi – với mình và với họ. Trong nghĩa đó, “bạn hay không bạn” là một lựa chọn tu thân. Giữ lại những tình bạn khiến mình trở thành người tốt hơn. Từ bỏ những tình bạn kéo mình lún sâu.
Đối với một số người, cắt đứt cũng là một cách tự vệ. Như bác sĩ bắt buộc phải cắt bỏ phần ung nhọt để cứu phần còn lại. Muốn giữ sự bình yên trong đầu, muốn còn nhìn thẳng vào lương tâm mình, họ buộc phải vạch một lằn ranh, không ngồi cụng ly với người vỗ tay cho những chủ trương đi ngược lại với nguyên tắc sống của chính mình. Hơn nữa, trong thế giới mà quyền lực khuyến khích sự tố tụng, tin tưởng một người bạn đứng về phía quyền lực còn đem lại cho mình và người thân của của mình những mối nguy vô lường.
Sau cùng, người ta không thể đổi ý người mình thương. Không thể bắt họ thấy điều mình thấy. Giải thích thêm cũng không thay đổi được gì. Điều còn lại chỉ là quyết định mình chấp nhận được đến đâu.
Với những người đi tới chỗ đoạn tuyệt, cái nút “huỷ kết bạn”, chuyện thôi mời đến nhà, thôi kể chuyện riêng… vì thế không là cơn giận bốc đồng. Như trong tình yêu trưởng thành, người ta vẫn có thể còn thương mà vẫn phải nói lời chia tay. Không hẳn vì muốn tuyệt tình, mà vì muốn giữ sự tôn trọng còn lại.
Chọn Ở Lại
Không phải ai đứng trước sự khác biệt của bạn mình cũng chọn bỏ cuộc. Có người vẫn cố giữ cho bạn chiếc ghế cùng bàn, thậm chí còn đãi họ cà phê.
Trên podcast IMO của Michelle Obama và Craig Robinson, Kimmel nói:
“Tôi có vài người bạn rất thân, họ suy nghĩ rất khác tôi, và tôi chấp nhận điều đó. Tôi hiểu rằng người ta có những kinh nghiệm đời sống khác nhau và tin vào những điều khác nhau.”
Ông nói thêm:
“Bản thân tôi từng tin nhiều điều là đúng trong một thời gian dài, rồi sau đó nhận ra chúng không đúng. Và mình phải chừa chỗ cho chuyện đó.”
Muốn làm được điều này, trước hết người ta phải tin vào thiện chí. Tin rằng người đối diện không hoàn toàn là kẻ xấu. Tin rằng có thể gặp nhau ở đâu đó—nửa đường, hay thậm chí một phần ba đường.
Những người này không nhìn thế giới bằng hai màu trắng đen, đúng sai, mà chấp nhận rằng vấn đề của một quốc gia, đời sống của một xã hội, sinh hoạt của một cộng đồng luôn phức tạp. Chính sự phức tạp đó sinh ra khác biệt. Họ chọn quan tâm và tập trung vào phần tử tế của con người, mong tìm được, trong mức có thể, một xã hội công bằng hơn, dân chủ hơn, huynh đệ hơn.
Tuy nhiên, ai cũng hiểu tình hình chính trị hiện nay rất phân cực. Cách chính quyền đương nhiệm giải quyết di dân, cách tổng thống sử dụng quân đội và khai chiến, những quyết định sinh tử trước khi quốc hội kịp bàn… đều là đề tài dễ gây xung đột. Để giữ hòa khí, người ta thường né chính trị. Tránh những đề tài có thể làm nổ tung bàn ăn. Họ nói chuyện con cái, sức khoẻ, bóng đá, giả như đất nước ngoài kia không có chuyện gì xảy ra. Nhưng ai cũng biết có một vết nứt nằm ngay giữa bàn, chỉ tạm thời phủ khăn lên vì không nỡ đối diện sự khác biệt.
Có lẽ, đây là một lựa chọn cảm xúc vừa thực tế vừa ngây thơ. Bởi trong ước mơ giữ lại những mảnh vụn đã vỡ, người ta cố giữ tình bạn trong một vùng “phi chính trị” ngày càng thu hẹp, không khác gì một cặp vợ chồng sống đời bên nhau dẫu “đồng sàng dị mộng”, dẫu cuộc sống chung là một địa ngục kéo cả hai đi xuống.
Lăng Kính MAGA
Trong lịch sử hiện đại, tranh chấp giữa Cộng hoà và Dân chủ ở Mỹ là chuyện thường, nhưng hiếm khi xé rách đến tận bàn ăn gia đình hay tình cảm bạn bè. Chỉ khi Donald Trump xuất hiện với khẩu hiệu “Make America Great Again”, những ung nhọt này mới bắt đầu lan rộng. Sự phân cực dần mang hình dạng của một cuộc chiến căn cước. Không còn chỉ là khác nhau về thuế khoá, phúc lợi hay quy mô chính quyền, mà là tranh chấp ai ‘ngon’ hơn ai, ai “mới là người Mỹ thật”. Một lăng kính mới hình thành – thế giới quan MAGA, phân biệt rõ giữa “bọn họ” và “chúng ta”.
Lăng kính này không chỉ là chuyện lá phiếu, mà là cảm xúc, là biểu tượng, là một dạng liên kết bộ lạc.
Nhìn từ ngoài vào là một mớ mâu thuẫn. Người MAGA miệng đòi “tự do” cho “phe ta” nhưng lại muốn siết quyền tự do của “phe địch”. Rao giảng tinh thần quy củ tôn trọng luật pháp và lòng “yêu nước” nhưng sẵn sàng đe dọa chính những thiết chế bảo vệ dân chủ. Than mình là nạn nhân trong khi đang nắm không ít quyền lực. Ghép những mảnh “bất công” đó lại sẽ thấy một câu chuyện khá nhất quán - cảm giác bị phản bội, bị mất chỗ đứng, bị tước mất cái mà họ cho rằng mình đương nhiên đáng được hưởng. Và lời hứa sẽ có ngày “lấy lại tất cả”, hay “vĩ đại trở lại” vì vậy là khẩu hiệu lý tưởng.
Ngay giữa những thất bại, oán hận của bản thân là câu chuyện nước Mỹ bị đánh cắp được lộng kính. Không phải bởi kẻ thù bên ngoài, mà bởi “giới tinh hoa cấp tiến”, bởi di dân, bởi đám toàn cầu hóa, bởi những viên chức vô hình đâu đó trên thượng tầng. Câu chuyện một nước Mỹ đã bị giật khỏi tay họ nghe rất lọt tai. Và thứ bị lấy đi không chỉ là ghế trong bộ máy, mà là một cảm giác sâu hơn về đặc quyền: da trắng là chuẩn, đàn ông là trật tự, Kitô giáo là la bàn đạo đức.
Đó không phải chỉ là hoài niệm về “một thời đẹp đẽ”, mà là một thứ thần học tiếc nuối, oán hận, dùng để giải thích vì sao hôm nay nước Mỹ không dành riêng cho họ, vì sao kế sinh nhai chao đảo, vì sao địa vị xã hội tụt dốc, vì sao một kẻ tự cho mình thông minh hơn mọi người lại thất bại, thua kém – từ đó một “đấng cứu chuộc” xuất hiện để giải quyết mọi nỗi “oan”.
Những mô thức này thật ra không mới. Từ La Mã cổ đại đến nay, mô thức ấy lặp lại với những biến thể khác nhau. Cuối thời Cộng hoà La Mã, người ta cũng từng nghe đi nghe lại điệp khúc “chúng ta bị cướp mất nước”, rồi đi tìm một Caesar để “khôi phục vinh quang”, cho tới khi nền cộng hoà thật sự biến mất. Nước Đức sau Thế chiến I cũng từng có những kẻ thất trận, thất nghiệp, oán hận đi tìm một người “cứu quốc”. Để khi nhận ra mình đã trao quá nhiều quyền vào tay một người thì đã quá muộn.
Nếu nhìn về Việt Nam, câu chuyện ấy lại hiện ra dưới một lăng kính quen thuộc hơn, và cũng gần gũi hơn với nhiều người trong chúng ta. Sau 1975, nhà nước cộng sản xây dựng tính chính danh của mình không chỉ bằng chiến thắng quân sự, mà bằng một “lăng kính cách mạng”, nơi mọi thực tại đều được diễn giải qua hai trục “nhân dân” và “phản động”. Trong lăng kính đó, đất nước luôn ở trạng thái bị đe doạ, bị phá hoại, bị âm mưu phản loạn – và vì vậy cần một quyền lực tập trung, tuyệt đối để “bảo vệ thành quả cách mạng”.
‘To Be Friends or Not To Be Friends’
Câu hỏi “bạn hay không bạn” đến nay vẫn không có một đáp án chung.
Trong một xã hội đã phân cực đến mức người ta không còn tin vào lập luận hay lẽ phải, có lẽ mỗi người buộc phải tự chọn chỗ đứng cho riêng mình.
Nếu bạn thuộc nhóm đa số an toàn – da trắng, có đặc quyền, đủ giấy tờ, sống yên ổn ở một thành phố sung túc, hay đơn giản nghĩ rằng mình “trên hẳn bọn họ”, dù gì đi nữa bạn có thể vẫn chịu đựng được một người bạn đội mũ MAGA ngồi cạnh. Miễn là hai bên cùng khéo tránh những đề tài biết trước sẽ va chạm.
Nhưng nếu bạn thuộc nhóm thiểu số, di dân, da màu, là phụ nữ cần quyền quyết định sinh tử trên thân thể mình, là người đồng tính hay chuyển giới, hay chỉ đơn giản là người tin rằng luật pháp và lá phiếu vẫn còn ý nghĩa, thì câu hỏi đó chạm vào sự an toàn của chính bạn và người thân của bạn.
Sẽ có người dẹp bỏ chiếc ghế tình bạn. Sẽ có người giữ nó lại, với hy vọng một ngày kia người ngồi vào đó sẽ tự điều chỉnh lại thế giới quan của mình.
Cả hai thái độ đều có cái giá phải trả. Và cả hai đều cần can đảm. Can đảm tiếp tục ngồi lại. Hoặc can đảm đứng dậy.
Điều quan trọng không phải là chọn làm gì, mà là phải chấp nhận cái giá phải trả cho lựa chọn đó. Mất đi một người bạn thân thiết từ thuở ấu thơ cũng như loại bỏ một phần ký ức khỏi tâm hồn mình. Nhưng nếu giữ lại sẽ được gì, mất gì.
Ở một quán cà phê nào đó, có thể vẫn còn một chiếc ghế trống dành cho một người bạn đã rẽ sang hướng khác. Nếu một ngày họ quay lại, chiếc ghế vẫn còn.
Nếu không, khoảng trống ấy –tự nó – đã là câu trả lời.



Lý Thuyết Văn Học Thực Hành Phê Bình