Hôm nay,  

Thần Singularity Trong Hố Đen

26/05/202017:52:00(Xem: 10018)

Sự huyền hoặc của một vật thể tưởng tượng


Tháng tư/ 2019, các khoa học gia chụp được – thực ra là “tạo” được – tấm hình Hố Đen đầu tiên, giúp nhân loại có dịp chiêm ngưỡng thêm một tí dung nhan của vũ trụ. Sau khi long trọng ăn mừng thành tích mới của ngành khoa học không gian, bước kế tiếp của chúng ta là gì?

 

Có người đề nghị: đặt lại tên, cho nó một danh tánh mới bảnh hơn. Ý kiến rất hay, vì việc tìm tên mới là một trọng trách, đòi hỏi phải nghiên cứu nghiêm chỉnh, kỹ lưỡng. Muốn cho Hố Đen cái tên đúng nghĩa, cần biết nó là cái gì.


NASA – “NASA Knows!” – cho ta câu trả lời đại ý thế này: Hố Đen là vùng trong không gian có sức hút của một hấp lực cực mạnh, mạnh đến độ ánh sáng cũng bị hút vào luôn, không thoát được. Hấp lực khủng khiếp này sinh ra do hiện tượng khối thể chất bị ép chặt, nén chặt vào một vùng không gian thật nhỏ – nói giản dị là một khối vật chất lớn bị ép lại thành một cục đặc cứng, nhỏ tí teo, Hiện tượng ép, nén này xảy ra vào đúng những giây phút cuối cùng của một tinh cầu. Một số Hố Đen chính là hệ quả của những tinh cầu bị hủy hoại.

Mặc dầu hầu hết chi tiết trong lời giải thích không đúng, câu trả lời của NASA vẫn đáng được coi là hay nhất, vì SAI ít nhất, và không nhắc đến một vật thể lạ lùng bí mật mà các khoa học gia tin là hiện hữu trong Hố Đen, là yếu tố chính trong tiến trình hình thành Hố Đen. Những câu trả lời tiêu biểu khác đều nêu tên vật thể ấy, biến Hố Đen thành một hiện tượng kỳ bí nhất trong vũ trụ.  

Sự quan sát sai lầm ở đây bắt đầu bằng nhận xét này: “Hố Đen là vùng trong không gian có sức hút của một hấp lực cực mạnh” Lập tức, nó gợi ra câu hỏi then chốt: Cái sức hút khủng khiếp, cái hấp lực cực mạnh ấy từ đâu ra, do những nguyên nhân nào?

Theo sự hướng dẫn của trực giác, các khoa học gia tin rằng: phải có một cái gì đó nằm trong Hố Đen, và chính “cái gì đó” tạo ra sức kéo, hút khủng khiếp. Thế là có vài thiên tài của nhân loại công bố đã tìm được “cái gì” đó rồi, và đặt tên cho nó là: Singularity – tạm hiểu là Điểm dị thường, đặc biệt. 

Khi hai khoa học gia lừng danh Stephen Hawking và Sir Roger Penrose gia nhập hội Singularity, đóng góp công trình nghiên cứu tên là “Penrose–Hawking singularity theorems” thì trong giới khoa học, không ai còn dám hó hé, nghi ngờ sự hiện hữu của nó.

Không những thế, với niềm tin vững như bàn thạch, với hào khí ngất trời, nhiều vị thừa thắng xông lên, báo tin vui cho nhân loại là họ đã “thấy” Singularity rồi. Thấy rõ lắm, còn biết có tới mấy loại khác nhau lận. Và đặc biệt có một loại Singularity không biết xấu hổ, quanh năm chẳng che đậy gì cả nên họ bực mình, phang cho một cái tên rất xấu, cho chúng nó tởn: Naked Singularities nói văn vẻ là Singularity khỏa thân, nôm na là Singularity trần truồng. “The two most important types of space-time singularities are known as Curvature Singularities and Conical Singularities. Singularities can also be divided according to whether they are covered by an event horizon or not. In the case of the former, you have the Curvature and Conical; whereas in the latter, you have what are known as Naked Singularities.” (Universe Today)

Con đường nghiên cứu Hố Đen coi bộ gian nan đây. Vừa khởi hành đã đụng ngay một lũ Singularity chặn đường, đứa quần áo chỉnh tề, đứa trần như nhộng, dung nhan rất kỳ bí, muốn tiến tới thì phải tìm hiểu xem chúng là cái giống gì!

Đại học Cornell – Mục “Ask an Astronomer” – giảng rằng: “… theo lý thuyết vật lý cổ điển thì ở trung tâm Hố Đen tỷ trọng – sự cô đọng, đậm đặc – đạt mức vô cùng, vô tận vì có một khối lượng thể chất đã bị ép chặt lại nhỏ cùng cực, nhỏ tới mức khối lượng ấy biến mất tiêu luôn (zero volume), đó chính là một Singularity...” 

A gravitational singularity is hidden within a black hole - click for larger version

A gravitational singularity is hidden within a black hole
(Source: Northern Arizona University)


 “
The physics of the universe” đưa ra một định nghĩa giầu chi tiết hơn:

“Trung tâm Hố Đen chính là vùng hấp lực của Singularity, là một điểm nhỏ trong không gian một chiều đã chứa đựng một khối lượng thể chất khổng lồ trong một không gian cực nhỏ, là nơi mà tỷ trọng cùng hấp lực tăng vô cùng vô tận, và không gian, thời gian cũng uốn cong tới mức cùng cực (space-time curves infinitely). Ở chính chỗ này những luật vật lý như chúng ta từng biết trở nên vô hiệu, hết xài. Và như vật lý gia kiệt xuất của Hoa Kỳ Kip Thorne mô tả: điểm này là chỗ tất cả những định luật của vật lý bị sập tiệm, tiêu tùng luôn!” 

Như thế, theo định nghĩa thì Singularity là một điểm nằm giữa Hố Đen chứa đựng khối thể chất khổng lồ bị ép, nén vào một không gian cực nhỏ, nhỏ tới mức cái khối thể chất ấy coi như biến mất tiêu luôn ((a zero volume). Nhưng cũng chính cái khối nhỏ tí teo ấy lại phát sinh ra một hấp lực khủng khiếp có sức hút tất cả mọi vật nằm trong vùng quanh nó có kích thước bao trùm toàn thể Hố Đen!

Thảo nào, các khoa học gia kêu ầm lên: vậy thì ở chỗ có Singularity các định luật thiên nhiên hoàn toàn vô hiệu, không áp dụng được và tiến sĩ Kip Thorne than thở rằng thế là rồi đời tất cả những luật vật lý thông thường.

Trên thực tế, không bao giờ có chuyện vô nguyên tắc, vô luật lệ vật lý, ly kỳ rùng rợn tới cỡ đó. Hố đen có thể có tất cả mọi thứ trong trời đất trừ cái thứ kêu là Singularity.  Và loại “máy tạo hấp lực” vô cùng nhỏ này cũng không hề hiện hữu trong vũ trụ.

Sau khi Einstein khám phá được và công bố lý thuyết về Hấp Lực, món Singularity kỳ quái này đáng lẽ phải biến mất, bị xóa hết khỏi chương trình giáo dục cũng như sách giáo khoa. Nhưng nó sống hùng sống mạnh và sống dai vì phần lớn các khoa học gia không hiểu nổi thuyết của Einstein. 

Không có ai đáng bị chê trách ở đây vì chính Eintein, khi nêu ra định nghĩa “Hấp lực là đường cong của không gian/thời gian” cụ cũng chưa thấy được bức tranh toàn diện bao gồm tất cả mọi góc cạnh, nhất là tiến trình vật lý của hiện tượng này.

Bức tranh toàn diện

Vũ trụ đang nở lớn và cần một khối lượng chất đen khổng lồ trong mỗi nanosecond để duy trì sự lớn dậy ấy. Tốc độ lớn càng lúc càng tăng. Với tốc độ di chuyển cực nhanh, chính khối chất đen này tạo nên sức đẩy mạnh nhất vũ trụ. Sức đẩy ấy, khi đụng quán tính (inertia) – hay sức ì, sức trì kéo, kháng lực – của bất cứ khối thể chất nào cũng tạo sinh Hấp Lực.

Đây là bức tranh toàn cảnh: Trong khi thi hành trọng trách làm nở vũ trụ, chất đen liên tục tạo áp lực, xô đẩy tất cả các khối thể chất trong không gian về mọi hướng, giống hệt những dòng sông, dòng suối cuốn đi tất cả những món nổi trôi trong nước. Khác với dòng nước chỉ đẩy lên bên ngoài, phần vỏ của mọi vật, chất đen với phần thể lỏng đặc biệt của nó luôn luôn thẩm thấu vào tận trung tâm mọi vật thể, đẩy lên tất cả những phân tử, nguyên tử của khối vật chất, khiến chúng di chuyển, xoay tròn và còn bay quanh quỹ đạo của nhau. Nó cung cấp áp lực đều khắp trên muôn vật lớn nhỏ, tạo hấp lực từ bên ngoài đến chỗ sâu thẳm bên trong – khắp mọi nơi.

Cha đẻ của thuyết Singularity quả thực đã dựa trên một hiện tượng vật lý có thật và những suy đoán khá thông minh, chỉ tiếc ông không hiểu biết đầy đủ về hấp lực nên bị dẫn tới những kết luận sai lầm. Hiện tượng vật thể có khối lượng bị ép, nén chặt khiến thể tích nhỏ lại và trọng lực tăng lên có thực (luôn xảy ra cho phần lõi, nhân ở trung tâm các tinh cầu). Khi bị nén, ép, thề chất tăng sự đậm đặc (mật độ, tỷ trọng) lên, lập tức kéo theo sự tăng hấp lực, trọng lượng. Nhưng tiến trình tăng hấp lực hoàn toàn khác, tỷ trọng chỉ là một yếu tố, không phải là toàn thể phương trình. Hấp lực cũng tăng tới một giới hạn thôi, không hề có chuyện tăng vô cùng cực, vô hạn định như tác giả Singularity lầm tưởng. 



Một khối thể chất dù to lớn, dù có độ đậm đặc cao cỡ nào cũng không thể tự mình tạo ra hấp lực. Nó đòi hỏi sự tương tác. Chân ta cần đối lực của tấm vải căng trên trampoline (trong thí nghiệm của Einstein). Thiên thể trong không gian cần áp lực liên tục của chất đen. 

Hãy tưởng tượng một cục đá hình tròn lăn dưới đáy đầy bùn của một dòng suối. Nó bị dòng nước đẩy đi và trong khi lăn trên đáy nước nó cuốn bùn đất lên phủ quanh mình, tự tăng dần khối lượng và do đó trọng lượng, khiến nó lăn chậm dần rồi đứng lại. Chính từ giây phút “đứng lại” này, sức đẩy của dòng nước sẽ tạo một áp lực lớn nhất trên cục đá bất động. Đó là giới hạn. Muốn có áp lực cao hơn thế, nó phải di chuyển ngược dòng.

Cũng vậy, một tinh cầu trong khi bị xô đẩy, xoay tròn trong không gian, thâu thập tích lũy mỗi ngày một nhiều những phân tử nguyên thủy của chất đen. Khối lượng tăng dần làm nó giảm tốc độ, cho tới khi phải đứng (hoặc gần như) đứng lại. Từ lúc đó nó sẽ chịu một sức đẩy, một áp lực lớn nhất của chất đen và do đó có Hấp Lực mạnh nhất. Đó chính là giới hạn.

Trong khi một tinh cầu lớn dần thì phần lõi, tạm gọi là hạt nhân của nó cũng tăng sự đậm đặc vì liên miên chịu áp lực của chất đen. Có phải hiện tượng ép, nén hạt nhân này chỉ xảy ra vào lúc cuối đời của tinh cầu không? Hoàn toàn không. Tiến trình ép, nén diễn ra hàng triệu, hàng tỉ năm. Không hề có chuyện hiện tượng này chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, khi tinh cầu sụp đổ hoặc phát nổ.

Do đó hiện tượng một khối thể chất bị ép nhỏ vô cùng tận lại phát sinh ra một hấp lực mạnh cùng cực chỉ là chuyện tưởng tượng, không bao giờ thực sự xảy ra.

Thêm nữa, có một sự kiện thực tế trong thiên nhiên chắc chắn không cho phép Singularity được hiện hữu.

Phạm vi chịu ảnh hưởng hấp lực của một khối thể chất không bao giờ vượt ra ngoài vùng lân cận bao quanh nó. Trái đất, với đường kính 7916 dặm có vùng hấp lực không dầy lắm, chỉ cao hơn mặt đất 250 dặm. Do đó, trong khi tỉ trọng – tạo quán tính và trọng lượng – quyết định sức mạnh của hấp lực thì kích thước của khối lượng một vật thể lại xác định kích thước cho vùng hấp lực của vật thể ấy.

Thành ra, nếu ta có thể nén ép một khối khổng lồ vào một chỗ nhỏ xíu, còn bằng đầu đinh ghim, thì cái đinh ghim này quả thực sẽ rất nặng và có hấp lực mạnh lắm, nhưng vùng hấp lực của nó thì bây giờ lại nhỏ tí tẹo, chỉ lớn hơn đầu đinh ghim chút xíu thôi. Nó không bao giờ có thể tạo ra một hấp lực có vùng ảnh hưởng bao trùm luôn một phạm vi lớn bằng cả Hố Đen.

Cái khối vật thể bị ép xuống thành số không (zero volume) còn tệ nữa. Nó tuyệt đối chẳng có gì cả, vùng hấp lực không có, mà một tí tẹo ý nghĩa có giá trị vật lý cũng không luôn.

Hố Đen hình thành như thế nào?

Không có sự hỗ trợ của các Điểm dị thường Singularity, các Hố Đen, từ thuở khai thiên lập địa, đã được hình thành nhờ vài luật vật lý về chuyển động rất thông thường:

“Một vật chuyển động khi đụng độ với một áp lực mạnh hơn quán tính (sức ì, trì kéo) và áp lực của vùng bao quanh nó. Nói giản dị, di động là liên tục tìm và hướng về khoảng không gian trống rỗng hoặc có áp lực yếu hơn.” (A)

 “Để chuyển động, một vật phải chiếm chỗ của các vật ở trước mặt và để lại phía sau một khoảng trống tức khắc mở ra đón “khách” cư  ngụ mới.” (B)

Khi khối lượng một tinh cầu trở nên quá lớn, nó bị hủy hoại, tan rã, thường là nổ tung trong không gian. Chỗ nổ tức khắc trở thành một khoảng trống mở ra đón nhận “cư dân” mới. Tất cả những vật thể, vật chất – hầu hết là chất đen – quanh chỗ nổ lập tức tràn vào lấp đầy khoảng trống. mạnh như vũ bão, như thác đổ. Và một Hố Đen mới thành hình. 

Cả trăm năm nay, nguyên do của tất cả những chuyển động vần vũ này lại bị hiểu sai, hiểu lầm là thành tích co kéo mạnh như thần của các Singularity. Thật đáng tiếc.

Tạm chia Hố Đen thành hai loại dựa trên kích thước và chút khác biệt trong tiến trình hình thành:

1. Hố Đen nhỏ: Sinh ra từ khoảng trống do một tinh cầu sụp đổ hoặc phát nổ để lại.

2. Hố Đen khổng lồ: Khi một vùng không gian xảy ra nhiều vụ nổ liên tiếp của các thiên thể, khối lượng chất đen vùng ấy bị ảnh hưởng nặng bởi những áp lực mới và nhiệt độ thình lình tăng vọt. Khối ấy bị biến dạng, đổi tỉ trọng, đổi hướng di chuyển, và ngay cả bị tách ra thành những khối nhỏ bắt đầu chuyển vần về các hướng khác nhau.
Trong tiến trình lấp đầy những khoảng trống đang đua nhau hiện ra khắp nơi, khối chất đen tạo ra những động lực hỗn loạn khiến cho nhiều khối, luồng chất đen khổng lồ chuyển vần ngược chiều, đụng nhau, đâm thẳng vào nhau. Sự “đụng độ” của những khối chất đen khổng lồ trong vùng không gian có áp xuất quá thấp, gần như trống rỗng, sẽ tạo ra Hố Đen khổng lồ.

Có đủ hai loại Hố Đen vừa kể trên hành tinh này. 

Chúng ta không nhận ra Hố Đen cỡ nhỏ vì loại này biến hiện quá nhanh, như một tiếng bom nổ. Nhưng chúng ta thấy rất nhiều Hố Đen thuộc loại khổng lồ – trong kích thước thu nhỏ (mini) Giant Black Hole. Chúng hiện ra dưới dạng bão lốc xoáy (tornado, cyclone). Hố Đen khổng lồ trong không gian hình thành bởi sự chuyển vần của chất đen trong vùng thình lình có áp xuất thấp, hoặc trống rỗng. Bão Lốc xoáy trên mặt đất sinh ra do khối lượng không khí – gió, bão, cuồng phong – xoáy tròn vào một vùng khí quyển có áp xuất thấp.

Chất cấu tạo khác nhau, cùng một tiến trình hình thành.


 blackhole_2.jpgImage result for nasa cyclone images

Hố Đen trong Ngân Hà và giông bão trên địa cầu. 

Credits: NASA/JPL-Caltech and NASA-NOAA satellite.

 

Khổng lồ hay nhỏ bé, trong không gian bao la hay trên mặt địa cầu hữu hạn, tất cả các Hố Đen đã hình thành theo cùng một tiến trình, tuân theo đúng những nguyên tắc, luật vật lý về chuyển động giống nhau. Không có giai đoạn, khoảnh khắc nào đòi hỏi sự hiện diện của vật thể kỳ bí Singularity.

Đổi tên và xóa tên

Do đó, đặt tên lại cho Hố Đen, tôi thấy “Bão lốc xoáy trong không gian” hay gọn hơn: “Lốc Xoáy vũ trụ” là cũng tạm được rồi. Tuy nhiên, tôi khuyến khích và nhiệt thành ủng hộ tất cả những ai tìm ra tên mới đẹp đẽ hơn, chỉ trừ một trường hợp duy nhất. Cầu mong không ai chọn cái tên tương tự như “Cái Lỗ Giun” (wormholes). Cái lỗ tưởng tượng huyền hoặc này đã lừa phỉnh được nhiều khoa học gia – kể cả Stephen Hawking – thuyết phục được họ tin rằng nó dẫn vào chiều không gian/thời gian thứ 4, là phương tiện để du lịch trong thời gian, “tham quan” cả tương lai lẫn quá khứ, là cửa dẫn vào một… vũ trụ khác!

Chúng ta đã có quá nhiều truyện khoa học giả tưởng rẻ tiền lẫn lộn trong ngành vật lý học nghiêm túc.

Cũng xin đề nghị: Nhân dịp đổi tên Hố Đen, ta nhẹ nhàng khai tử luôn cái món Singularity đi. Ít nhất cũng giúp tủ sách giáo khoa của nhân loại mai sau bớt được một chương nhảm nhí.

Mê muội, bướng bỉnh ôm chặt lấy một sản phẩm tưởng tượng vô giá trị, rồi nỗ lực lưu truyền nó đến những thế hệ sau, chúng ta chỉ làm phí thì giờ, sức lực của chính mình và các khoa học gia trong tương lai, làm vẩn đục, ô nhiễm kho tàng kiến thức chung của nhân loại. 

Không có tội thì cũng có lỗi, một cái lỗi rất đáng buồn, đáng trách.

(7/2019)

Phim thuyết trình: https://youtu.be/E5t5g7O1uE0 

 


Một sự kiện đặc biệt được bản tin Đài Á Châu Tự Do (RFA) ghi nhận trong bản tin phát đi hôm Thứ Sáu, 24 tháng 12 năm 2021, đã xảy ra trong phiên tòa phúc thẩm diễn ra tại tỉnh Hòa Bình, Miền Bắc VN, khi bà Cấn Thị Thêu và con trai Trịnh Bá Dư đã hô to “đả đảo” Đảng CSVN khi hại bị cáo này nghe tòa tuyên bố y án 8 năm tù giam và 3 năm quản chế đối với mỗi người.
Hàng triệu người đang đối diện sự gián đoạn đi lại và các hạn chế Covid đã gia tăng vào Lễ Giáng Sinh, trong khi biến thể Omicron tăng lây lan chứng kiến nhiều chuyến bay bị hủy bỏ và các hạn chế vì an toàn đã siết chặt, theo BBC tiếng Anh tường thuật hôm Thứ Sáu, 24 tháng 12 năm 2021.
Một Hiệp định Thương mại Tự do mới, bao gồm một phần ba nền kinh tế thế giới, sẽ loại bỏ 90% thuế quan giữa 15 quốc gia Đông Á và Thái Bình Dương và dự kiến sẽ thúc đẩy xuất khẩu trong khu vực thêm 42 tỷ USD. Thông tin mới nhất về Hiệp định này do tác giả Đỗ Kim Thêm phiên dịch. Mời đọc.
Tự tử ảnh hưởng đến nhiều người hơn là bạn có thể nghĩ. Trong năm 2020, có 45,800 người Mỹ đã tự sát. Tự tử là nguyên nhân thứ 11 dẫn đầu các nguyên nhân tử vong tại Hoa Kỳ và là nguyên nhân thứ hai dẫn đầu cái chết đối với giới thanh niên. Người chết vì tự tử nhiều hơn người chết vì tai nạn xe, giết người hay ung thư vú mỗi năm tại Hoa Kỳ. Từ năm 1999 tới 2018, tỉ lệ tự tử đã gia tăng 35%. Những thống kê này thật ngạc nhiên, chúng chỉ cho thấy chút ít sự tàn phá mà tự tử đã để lại bên sau. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng, đối với mỗi vụ tử tử, trung bình 135 người biết về nhân vật đó. Đó là 6 triệu người Mỹ mỗi năm bị ảnh hưởng trực tiếp từ sự mất mát sinh mạng vì tự tử. Cùng với nỗi đau, nhiều người còn sống mất người thân tự tử cảm thấy tội lỗi. Họ tin rằng họ đã góp phần cho cái chết hay đã có thể ngăn cản được nó. Một số người trải qua suốt cuộc đời còn lại tự hỏi “Điều gì vậy?” Một nghiên cứu cho thấy rằng 92% các bậc cha mẹ là những người mất con em tự tử đã trải qua
Đại dịch đã mang vào cuộc sống con người nhiều thuật ngữ và ý tưởng lắc léo từ dịch học. 2 khái niệm phức tạp nhất là hiệu quả thuốc chích ngừa lúc thử nghiệm lâm sàng (efficacy) và hiệu quả thuốc chích ngừa khi chích cho công chúng (effectiveness). Hai chữ này không giống nhau. Và khi thời gian đi qua và các biến thể mới như omicron đến, chúng cũng sẽ thay đổi. Melissa Hawkins là nhà dịch học và nhà nghiên cứu sức khỏe công cộng tại Đại Học American University. Bà giải thích cách các nhà nghiên cứu tính làm sao một thuốc chích ngừa ngăn ngừa bệnh tốt, điều gì ảnh hưởng những con số này và cách omicron đang làm thay đổi các thứ.
Trẻ em đã trở lại trường học, các doanh nghiệp đã mở cửa trở lại, và trong khi COVID tiếp tục là một mối đe dọa, thì cuộc sống bận rộn vẫn tiếp tục tiếp diễn. Thời gian ngày càng ngắn lại và những ngày nghỉ lễ cũng nhanh chóng đến gần, khiến chúng ta không còn nhiều thời gian để hoàn thành nhiều công việc nhỏ nhưng quan trọng, chẳng hạn như đăng ký lưu hành xe, hay gia hạn bằng lái.
Tuần qua, tình hình đại dịch lại sôi động trở lại vì biến thể mới omicron lây lan nhanh trên khắp thế giới, đặc biệt tại Hoa Kỳ chiếm tới 73% số người bị dính Covid-19.
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho biết, Hoa Kỳ sẽ cho phép các viên chức lãnh sự miễn phỏng vấn trực tiếp đối với những công dân nước ngoài xin chiếu khán H-1B và một số loại chiếu khán không phải di dân khác trong năm 2022 để giúp giảm thời gian chờ đợi chiếu khán, theo trang Reuters đưa tin ngày Thứ Năm, 23 tháng 12 năm 2021.
Thơ xuất phát từ cảm xúc, là một hình thái của sáng tạo, và sáng tạo bao gồm hai yếu tố: kiến thức và tưởng tượng. Nếu không có kiến thức thì tưởng tưởng không thể nào đi xa, để tạo nên cái mới, cái đẹp. Nhưng kiến thức, theo triết gia hiện đại Đức, Immanuel Kant, là sự hiểu biết và kinh nghiệm thực tại.
Tòa Bạch Ốc cho biết, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã ký ban hành đạo luật cấm nhập cảng hàng hóa từ khu vực Tân Cương của Trung Quốc vì vấn đề lao động cưỡng bức, theo trang Reuters đưa tin ngày Thứ Năm, 23 tháng 12 năm 2021. Đạo luật Ngăn chặn Lao động Cưỡng bức người Duy Ngô Nhĩ (The Uyghur Forced Labor Prevention Act) là một phần trong nỗ lực của Hoa Kỳ chống lại những hành động của chính quyền Bắc Kinh đối với cộng đồng thiểu số Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ ở khu vực Tân Cương, mà Washington coi là tội diệt chủng.
Trong không khí se lạnh của thời tiết giao mùa những ngày cuối năm, tôi thường bồi hồi rung động về một dấu mốc lịch sử. Đó là ngày 26 tháng 12, ngày húy kỵ vua Duy Tân, vị vua trẻ dũng cảm phi thường đã quyết tâm bảo vệ giá trị dân tộc, can đảm hậu thuẫn những phần tử yêu nước tranh đấu, trước sự đô hộ của ngoại xâm.
Trước đây, nhân viên y tế sẽ được nghỉ làm 10 ngày nếu có kết quả dương tính COVID-19. Hiện nay họ sẽ được phép trở lại làm việc sau 7 ngày nếu kết quả xét nghiệm âm tính và không có triệu chứng. Theo hướng dẫn mới của Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh Tật (CDC), thời gian cách ly có thể được cắt giảm xuống còn 5 ngày, hoặc thậm chí ít hơn nếu tình hình thiếu người nghiêm trọng.
Loại thuốc viên điều trị COVID-19 thứ hai được FDA phê duyệt là Molnupiravir, được phát triển bởi Merck và Ridgeback Biotherapeutics. Molnupiravir dành cho người trưởng thành có nguy cơ cao, “những người không hợp với các lựa chọn điều trị COVID-19 thay thế khác.” Có nghĩa là, nếu không còn lựa chọn nào khác, thì có thể sử dụng viên thuốc của Merck. Hạn chế này là do thuốc của Pfizer đã được chứng minh mạnh hơn đáng kể trong các thử nghiệm. Thuốc viên của Pfizer được cho là làm giảm 89% nguy cơ phải vào bệnh viện hoặc thiệt mạng ở những người có nguy cơ cao, trong khi thuốc Merck chỉ giúp giảm được 30%.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.