Hôm nay,  

Người Em Xóm Giếng

29/08/202017:07:00(Xem: 6902)
blank 
Người đàn bà trẻ để nhẹ cái thau đồ giặt xuống kế bên miệng giếng rồi đặt đứa con nhỏ nãy giờ chị xốc nách đứng hơi xa xa một chút. Chị vừa kéo nước vừa ngó chừng con bé. Giặt quần áo dơ của con mà chị nhăn nhăn mũi kiểu tiểu thơ nhà giàu phải săn sóc con so khi chưa quen cực khổ. Đứa nhỏ lẩn quẩn bên mẹ. Con bé chừng 4 tuổi kháu khỉnh, mặt mày rất dễ thương. Thằng Tín nằm dựa lưng vô gốc mít nghỉ trưa tránh nắng thấy hết cảnh tượng. Nó đưa hai ngón tay búng ‘tróc tróc’ con bé để hai đứa cùng cười. Rồi nó thiu thiu ngủ gà ngủ gật khi một vài cơn gió mát thổi qua.

Trong mơ màng nó cảm giác như ai đó bỏ gàu kéo nước mà nhấp cái gàu gần đầy xuống mặt nước quá mạnh. Nó vẫn chập chờn giữa mê và tỉnh của cơn nắng trưa chói chang muốn làm nổ màng tang người. Rồi nó tỉnh giấc hẳn hòi, mắt ráo hoảnh khi nghe tiếng khóc kể của người đàn bà trẻ. Không cần suy nghĩ nhiều nó cũng biết chuyện gì đã xảy ra. Buổi trưa nắng nóng, quanh giếng không có bao nhiêu người, chắc nịch là chẳng ai có thể giúp gì cho chị ta: vợ chồng ông thầy giác lể thì khỏi nói, yếu nhớt như sên, ba bà cụ quá già người Bắc di cư, mới tới Xóm Giếng không được bao lâu.
 

Thằng Tín ngó qua năm người kia rồi chú ý tới người đàn bà trẻ. Mới nhìn thấy nước mắt nước mũi của chị ta thì nó đã tính leo xuống giếng rồi, nhưng khi bắt gặp ánh mắt khinh khi của ông thầy giác lể, nó thấy lại như in cặp mắt đó với hai bạt tai nẩy lửa trên má nó mấy tháng trước thì lòng lại lạnh tanh và chần chờ rồi lại muốn bỏ đi. Hình ảnh sư phụ nó bị lính kín còng tay dẫn độ về đồn. Tiếng xầm xì về sự cáo gian để đoạt chùa. Cặp mắt hớn hở và cái cười thỏa mãn trước đây của bà thầy như mình bắt được kẻ trộm danh tiếng làm cho thằng Tín muốn quay lưng bỏ đi hơn nữa.
 

Nó ngừng suy nghĩ thiệt hơn khi nhớ tới nụ cười vô tư của con bé chừng nửa tiếng đồng hồ trước khi nó đưa tay làm tiếng ‘tróc tróc’…
 

⁂

‘Anh em nói mình từng là người Sàigòn, sống ở đó mấy chục năm chớ có biết đường Huỳnh Quang Tiên không vậy?’
 

Ông Ba ngừng nói, đảo mắt qua mấy người bạn cùng bàn. Ai nấy đều tránh cặp mắt của ông như thầm thú nhận rằng mình không biết.

Ngoài kia nắng đã liếm tới chưn cột bàn ông Thiên. Người đàn bà đương cong lưng quét sân, bụi bay lên coi bộ nhiều, thỉnh thoảng ngó về phía tiệc nhậu dã chiến của bốn người đàn ông, lắc lắc đầu nhè nhẹ. Ông Ba nhăn mặt không vừa ý nhưng rồi cũng kể tiếp.
 

‘Hồi nẵm đó nhe, tôi lăn lóc từng ngày gần hai chục năm ở đó, qua bao khốn khổ nầy nọ nên thỉnh thoảng cảnh xóm giếng đường Huỳnh Quang Tiên hiện ra trong chiêm bao với đầy đủ tình huống buồn, sợ, chán chường, với chuyện tình si, tình lụy đớn đau. Nhiều khi thức dậy còn thấy nước mắt chảy ròng, kiểu như đàn bà lưu lạc tha phương, hôm nào đó chạnh lòng nhớ quê sụt sùi thổn thức.’
 

Thấy mấy bạn cùng bàn vẫn còn ngơ ngác, ông Ba nói tiếp, kiểu lập đi lập lại của dân nhậu:

‘Đường Huỳnh Quang Tiên đó hả?’
 

‘Nói vầy cho dễ hiểu nè! Bắt đầu từ góc đường Nguyễn Cư Trinh với Trần Hưng Đạo nhe! Từ đó băng qua đường Trần Hưng Đạo thẳng xuống tới bờ sông Bến Chương Dương là đường Huỳnh Quang Tiên. Tôi nói là nói tên đường Việt Nam có sau thời Pháp chớ nói tên đường trước đó như là Blancsubé de CauKho, Galiéni hay Quai de Belgique thì anh em còn bù trất hơn nữa!’
 

Cả bàn lại yên lặng. Một người nhẹ nhàng đưa tay quơ quơ đuổi vài ba con ruồi hổn hào đậu lên miếng cánh gà xương xẩu nảy giờ chưa ai chịu bỏ vô chén mình.
 

‘Bây giờ thì tên mới là con mẹ gì đó hổng nhớ nỗi… Ối! Hơi sức đâu mà nhớ mấy cái tên lạ huắc lạ huơ đó! Anh hùng với ai chứ đâu có anh hùng gì với bọn mình, phải không các bạn?’

‘Đường Huỳnh Quang Tiên đó nhe, dọc theo đường nầy bên tay mặt hồi trước là khu nhà sàn cất trên đầm lầy rạch cùn rạch cạn, nước ra nước vô hằng ngày. Đi ngoài đường thì hổng thấy nhà sàn gì hết nhưng chỉ cần rẽ vô một đường hẻm là thấy liền bởi vì mặt tiền đường nhà cửa tương đối khang trang, họ cất tiếp nối che kín bên trong. Tốt khoe xấu che mà!’

Ông Ba ngừng nói, đưa tay bóc một miếng cóc bỏ vô miệng. Miếng mồi coi bộ cứng nên ông nhả ra bỏ lại vô chén mình.

Mẹ! Lúc nào cũng tưởng răng cỏ còn cứng như hồi đó. Cắn nhẹ mà đau thấu tới óc. Ông than thầm. Thấy bạn nhậu ngó mình, ông tiếp:

‘Còn bên tay trái phía trong có một khu đất trống lai rai vài ba cái mả đá ong, giữa đám đất trống là cái giếng mội. Người ta quen kêu như vậy nhưng mà hỏng trúng. Giếng nào lại chẳng là giếng mội, không mội làm sao có nước? Tui nói vậy anh em thấy phải không?

Lại vài ba phút yên lặng, yên lặng tới tiếng ruồi bay vo ve cũng nghe…
 

‘Giếng nầy phải kêu bằng giếng xây mới đúng, xây đàng hoàng, lớp dưới cùng thì là đất sét, trên đó là đá ong, dầy đâu chừng hai thước, trên cùng cũng độ hai thước là gạch đỏ, thứ gạch xây tường đó. Xưa người ta không văn minh bằng mình bây giờ nhưng xây giếng có ý lắm, chừng cách ba bốn tấc thì họ chừa một lỗ nhỏ để thợ vét giếng hay khi ai đó có chuyện gì cần xuống giếng thì leo dễ dàng. Tứ bề đều như vậy!’

‘Tui nói vầy anh em hình dung được không nè!’

‘Hai chưn giang ra hai bên, hai tay cho vô hai lỗ đối diện, lần lần thay đổi vị trí tay chơn là leo tới đáy giếng ngon lành. Nước giếng luôn luôn chỉ cao tới ngực người lớn nên người bình tĩnh té giếng cũng không có gì phải quá sợ. Lên thì cũng cách đó thôi. Anh em biết không? Thợ vét giếng dầu kinh nghiệm nghề bao lâu cũng vậy, không được ở dưới đáy giếng quá mười lăm phút. Ngộp thở mà chết. Muốn ở lâu họ phải đem theo một cái đèn dầu, hay là cây đuốc dầu chai, đốt lên để thay đổi không khí mới có đủ ốc xy mà thở.’
 

Bạn nhậu hai người há hốc miệng ra nghe, một người trẻ nhứt bọn chăm chăm địa mấy miếng thịt ngon trong dĩa rồi từ tốn gắp một miếng ngon nhứt bỏ vô chén mình. Bác Ba chuyển hệ liền:

‘Ừ ăn đi! Tự nhiên nhe! Miếng đó nhiều thịt mà bợm nhậu tụi nầy thì không ưa thịt, chỉ khoái xương thôi.’

Bác tiếp câu chuyện của mình tỉnh bơ.

‘Giếng nầy nước trong veo mà xài bao nhiêu cũng không cạn nên cả xóm đâu độ chừng cả trăm nhà xúm xít nhau cùng xài. Tụi tui hồi đó kêu là Xóm Giếng Huỳnh Quang Tiên. Lúc đó xa lắm mới có một cái phông tên, bây giờ kêu là máy nước đó! Còn nước của nhà máy nước chuyền vô nhà hả? Đừng có mơ! Chỉ xóm giàu nhà gạch, nhà lầu mới có, xóm nghèo thì đừng hòng. Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài. Ai dè giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây… Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô. Giếng vàng không phải là giếng có vàng đâu à nhe! Đó là giếng có vài ba lá ngô đồng trổ màu vàng rụng xuống trong đó. Thi sĩ nói giếng có lá rụng vô thì đẹp. Đẹp ông nội tôi chứ đẹp. Thúi giếng thì có.’

Ông Ba hễ rượu vô thì nói chuyện nọ xọ chuyện kia sang đàng nhưng bạn nhậu không ai tỏ ý bất mãn để phê bình. Có người còn tán thưởng bằng cách khi thấy ông ngừng nói liền mời chun rượu nãy giờ đương chờ. Thường thì ông tiếp cái chun mời một cách lịch sự nhưng cầm chừng vài phút là đặt xuống kiếm chuyện gì đó làm để câu giờ!
 

Lúc nầy không biết ông ứng bà hành gì mà ông Ba cầm chung đế đưa lên miệng húp cái rột, để xuống mạnh tay, k…h…à một hơi dài dáng vẻ gì đó như tự hào mình đã làm tròn bổn phận với anh em. Ông ngả lưng vô ghế dựa, mắt chớp chớp:

‘Nói nầy nghe nè! Ở gần xóm giếng có cái lợi là biết nhiều chuyện hay lắm của xóm. Biết trước thiên hạ à nhe! Cô nào bắt cặp với cậu nào. Con gái nhà ai chịu đèn với con trai nhà ai, mình khỏi cần có cặp mắt tinh đời cũng biết qua cái nhìn vui buồn của họ hay nghe vài ba câu đong đưa trao qua đáp lại. Không trật đâu được, mười lần như một đều trúng.’
 

Một người trẻ đưa tay rót cho mình một chung rồi rót vòng cho ba người khác. Cậu để chai rượu xuống, cầm chung của ông Ba đưa lên cao, nói:

‘Cháu kính Bác Ba chung nầy. Ngồi uống với bậc trưởng thượng có cái lợi là biết được nhiều chuyện đời xưa mà không có sách vở nào ghi lại. Lần trước được nghe chuyện con Gái, em mà biết lo thay mẹ tắm cho anh. Lại nghe chuyện bà già chuyên nghề khóc mướn tới chừng con gái mình chết thì không còn nước mắt để khóc. Thảm biết là bao nhiêu. Bữa nay Bác kể chuyện gì đó của Xóm Giếng Huỳnh Quang Tiên cho anh em mở trí khôn nha Bác!’
 

Một người tuổi cũng xồn xồn, xách chai rượu đứng dậy:

“Để tui lo vụ nầy’. Chú vừa nói vừa đưa chai rượu còn chút cặn lót đáy lên lắc lắc. Trước khi dợm cẳng bước đi còn nói thêm: ‘Nhưng chú Ba chậm kể chuyện đợi tôi về nha!’
 

Bác Ba trở mình vói lấy gói thuốc rê trong túi áo móc trên lưng ghế của người bạn ngồi gần:

‘Xóm giếng đó thì đã để lại cho tôi mấy kỷ niệm nhớ đời, nhớ đời buồn buồn trong dạ… nhưng đời mà, kỷ niệm buồn làm cho cuộc sống của mình phong phú hơn, chứ trơn lu, trớt quớt thì đời đâu có gì đáng nói. Tôi quí hai chục năm ở đó còn hơn vàng. Càng quí hơn nữa là mình đã làm đúng, chẳng hại ai, chẳng làm lỡ đời ai. Tiếng lỡ đời bác xuống giọng kéo dài hơi với âm thanh thê lương kiểu than thở của kép Năm Phồi ngày nào.’

Bàn nhậu trở nên im lặng một cách kỳ lạ.
 

⁂

Xóm Giếng sống bình thản tháng ngày. Ngôi chùa Hoa Nghiêm Tự làm tròn vai trò tạo nên nếp sống êm ả của vùng. Sáng chiều đều có tiếng gõ mõ công phu. Nhà ở gần nghe lời kinh ê a của sư trụ trì miết rồi biết giờ giấc khỏi cần coi đồng hồ. Chú tiểu Tín Giác ra vô quét tước, nấu nước pha trà sớm chiều cho thầy cách kính cẩn và nghiêm trang của một đứa trẻ hiểu chuyện mình cần làm.
 

Một sáng kia hai xe traction đen, bản xanh, bảng số VNN-XXX đậu trước chùa. Bốn người lính áo vàng đẩy cửa hùng hổ bước vô. Người lối xóm không dám bu tới coi chuyện gì như họ thường làm khi có chuyện lạ trong xóm, chỉ rút trong nhà, len lén vạch màn ngó ra.

Một lúc sau mấy người lính áp giải sư cụ ra xe. Tay cụ bị còng về phía trước. Tiểu Tín Giác vừa khóc vừa chạy theo trao vội tay nải cho sư khi xe bắt đầu lăn bánh.

Lối xóm ào ra. Mỗi người một câu quanh mấy từ thường nghe trao đổi nho nhỏ trên miệng người dân: Việt Minh, truyền đơn, quốc sự, lựu đạn, dao găm, thuốc Tây, trong khu, tiền giả…
 

Ai nghe cũng lắc đầu le lưỡi.

Rồi tiểu Tín Giác phải về nhà với cha mẹ, cũng ở trong xóm sau khi ở trong chùa một mình độ chừng mươi bữa nửa tháng trông đợi thầy về mà không thấy.

Tiểu về lại nhà, cái đầu trọc chừa chóp tóc trên mỏ ác được hớt gọn để chờ ngày mọc tóc. Chùa đóng cửa, coi như bỏ hoang từ đó. Cho tới một hôm nhà ông bà thầy giác lể kế bên cho người mở cửa chùa dọn đồ đạc nhà mình vô, hạ những liễn đối, những đồ vật thờ phượng xuống và kêu người đem tất cả tượng Phật dâng tặng cho mấy chùa ở gần gần như Thủ Đức, Nhà Bè, Giồng Ông Tố, Bình Nhâm, Bình Hòa…
 

Người trong xóm bàn tán cho rằng gia đình kia chiếm ngang vì ông thầy chủ chùa không còn nữa. Thằng Tín mỗi khi đi ngang ngôi chùa xưa, nơi nó từng sống những năm êm đềm dưới sự dạy dỗ của thầy mình luôn luôn thấy nao nao lòng. Bốn tiếng bao hàm sự kính trọng thân thiết chú tiểu Tín Giác đã được thay bằng mấy tiếng coi thường đượm chút khi dể Thằng Tín xách nước mướn ban đầu nó không muốn nghe, nhưng thét rồi cũng quen.
 

Có lần thằng Tín tình cờ nghe một người nào đó trong xóm xầm xì với ba nó là nên làm đơn đòi lại chùa cho nó với lý do nó là đệ tử ruột của thầy. Ba nó là người bình dân, ít học, có đời sống đơn giản nên chỉ nghe mà không ý kiến cũng không có hành động gì sau đó.
 

Người kia nói rõ ràng ý mình:

‘Chắc ông bà thầy giác lể toan tính trước nên tố cáo gian gì đó để ông thầy bị bắt. Tố cáo thì đâu khó gì. Có chứng cớ hay không người bị tố cáo cứ bị lính kín bắt đi trước đã. Vài tháng ở trong bót Catina, hay vài ba năm ở trong Khám Lớn nếu được thả về, thân tàn ma dại, sản nghiệp về tay người khác cũng được kêu là may mắn do phước đức ông bà để lại…’
 

⁂

Người đàn bà quét sân ý chừng đã làm xong phận sự, xách chổi vô nhà, đi ngang qua đám nhậu, để xuống bàn họ mấy trái xoài sống lấy từ dĩa trái cây cúng bàn ông Thiên. Bác Ba ngó theo từng cử chỉ của vợ nhưng không nói gì. Người vợ đi ra nhà sau, một lúc đem tới cho tiệc nhậu con dao Con Chó với chén nước mắm đường trong đó lềnh bềnh ba bốn trái ớt mọng đỏ. Ông Ba ngó lên vợ như cảm ơn rồi ngó bạn nhậu, tiếp tục câu chuyện của mình….
 

‘Ờ… ờ… ờ. … Hồi đó tôi nghe bàn tán thiếu điều đầy lỗ tai nhưng mà nghe thì nghe vậy chớ không biết đúng không nữa. Mấy chục năm nay tôi nghĩ hoài mà không ra câu trả lời. Thôi thì mình theo cách từ bi, không đổ oan cho người, nên bỏ qua không truy cứu.’

Ông cười ra tiếng, nói giọng mai mỉa:

‘Mà truy cứu mẹ gì được. Bằng chứng đâu?’

‘Rồi chú Tiểu gì đó sau nầy sống ra sao ông Ba biết không?’

Ông Ba trầm ngâm thiệt lâu, mới thủng thẳng kể từng tiếng chậm chậm như xúc động chuyện đời mình. Bạn nhậu chăm chú lắng tai nghe.
 

⁂

Trong xóm giếng, thằng Tín không ghét ai hết. Vậy mà hôm rằm vừa qua nó bắt đầu ghét ông chồng bà thầy giác lể. Số là nhà bà Tư giác lể có tục cúng rằm trước bàn Ông Thiên. Mỗi lần cúng thì bà thầy thắp nhang xá bốn phía xong xuôi rồi vô nhà ngồi ngó ra canh chừng dĩa trái cây. Xóm thỉnh thoảng có đứa bưng nguyên dĩa khiến cho bà cảnh giác trong giận hờn trách móc. Để bào chữa tánh keo kiệt của mình bà thường nói rằng đứa lớn nhỏ nào bất kỳ, thèm thì xin, bà cho không hẹp lượng. Nếu không dám xin thì trút hết trái cây cũng được nhưng đừng bưng nguyên cái dĩa bà mất công mua dĩa khác.
 

Thằng Tín sau khi hết ở chùa thì về nhà sống với cha mẹ nghèo ở ngoài rìa xóm giếng, nghĩa là ở sát chợ Cầu Kho. Nó không còn cái chỏm tóc trên đầu của chú điệu nữa và nhiều lần khi tóc lún phún ra chừng hai lóng tay là đã lo đi hớt để mong tóc mọc lên nhiều… Người trong xóm kêu nó bằng thằng Tín xách nước mướn. Mười ba tuổi nó bự xộn, cao nhồng, xách hai tay hai thùng nước, loại thùng dầu hôi hiệu con gà, đi te te một hơi tới nhà ai đó mướn đổ nước tháng mà nước vẫn còn mấp mé miệng thùng, không vơi bao nhiêu. Nghề đơn giản vậy mà sống được, còn có tiền giúp cho cha mẹ nó là đằng khác.

Bực bội nhứt là bà thầy giác lể quả quyết là nó ăn cắp đồ cúng rằm trên bàn ông Thiên kỳ rằm đó.

‘Chuyện hay a nhe, mà Bác Ba biết là anh Tín có ăn cắp không vậy?’

Tiếng một bạn nhậu phát ngôn lớn hơn bình thường. Người vợ bác đứng đâu đó ngước mặt lên ngó rồi nói nho nhỏ nhưng cũng đủ cho bạn nhậu của chồng nghe. ‘Cũng ba cái chuyện đó mà kể năm nầy qua năm khác không nhàm. Người thiệt lạ lùng! Hễ có chút rượu vô là giở chuyện cũ ra nói hoài.’

Ông Ba nghe hết từng tiếng lèm bèm của vợ nhưng coi như không, trả lời bạn hùng hồn:

‘Đâu có! Nó gốc tu mà! Tu đâu hồi 6, 7 tuổi gì đó. Sanh khó nuôi khó, ban cua lưỡi trắng nên cha mẹ nó đem dâng cho Phật, ăn mày cơm Phật, nghe kinh nghe kệ nên tánh cũng thuần lương. Tu chừng 4 năm thì sư cụ bị nạn. Nó mới rời chùa chừng độ 2, 3 năm chứ mấy, đâu nhiễm thói hư tật xấu mau được.’
 

…Thằng Mẹo đi ngang nhà bà thầy giác lể. Nó chíp trong bụng dĩa trái cây trên bàn ông Thiên nhưng chưa dám ra tay, bả ở trong nhà ngó ra lườm lườm. Dịp may là bà thầy nghe tiếng chồng kêu liền đi vô, nó chạy mau tới bưng cái dĩa xuống, lật vạt áo lên đổ hết vô. Lật đật nó làm rớt hai trái xoài xuống đất. Nó lượm lên, chợt thằng Tín xách hai thùng nước đi ngang nó lẹ tay liệng vô thùng nước rồi ba chưn bốn cẳng chạy mất.
 

Bà thầy giác lể ra không thấy dĩa trái cây lại thấy thằng Tín với hai thùng nước, đứng xớ rớ đó thì cũng hơi nghi. Bà tới dòm vô thì thấy hai trái xoài của mình. Bà la lớn…

Thằng Tín thiệt thà, không đủ miệng lưỡi chỉ ú ớ là không phải tui…

Và hai ba bạt tai xáng xuống làm nó xiểng niểng. Những lời miệt tuôn ra phũ phàng rằng là đồ tu dối thế, may mà hết tu chớ không thì sau nầy thành Đạo Chuối, Đạo Xôi hay là kiểu thầy chùa Lỗ Trí Thâm ăn thịt chó... Mặt đỏ gay, thằng Tín đứng thẫn thờ buồn hiu. Nó chợt nhớ tới thầy mình năm ngoái ông về không thấy chùa, hai thầy trò nói với nhau rằng mình đã hết duyên tu chùa, bây giờ ra đời tu chợ cũng là cách tu, nhưng phải nhẫn thiệt nhiều… Nó rươm rướm nước mắt, ngó bâng quơ rồi xách hai thùng nước tiếp tục làm công chuyện của mình.
 

⁂

Thằng Tín được cả xóm nhìn bằng cặp mắt có chút xanh sau việc cứu con bé té giếng. Cô gái rượu của ông thầy giác lể đã chịu cười chào với nó. Con bé Diễm thì thân thiện hết mức. Cái thuộc từ xách nước mướn bị rớt đi lúc nào không biết. Tiếng thằng trước tên Tín cũng được nhiều người tự động bỏ đi. Năm 18 tuổi thì thằng Tín mua được chiếc xe mobilette xanh. Nó làm nghề bổ hàng cho mấy tiệm tạp hóa trong vùng bằng cách xách xe vô Chợ Lớn Mới mua về theo đơn đặt hàng của từng chủ tiệm với một chút tiền công.
 

Bữa kia con nhỏ Diễm đem tới cho thằng Tín cái thơ của Dì Út nó mà mặt mày bùng thụng bùng thịu, hỏi gì cũng không nói. Thơ chỉ có mấy dòng nói là hai người mình nên làm quen nhau qua thơ từ. Câu nó thích nhứt là: Cháu Diễm sẽ làm chim xanh cho hai người. Thơ từ qua lại chừng hai năm thì Thằng Tín nhận được cái thơ chót rằng bao lâu nay nàng viết thơ qua lại cho đỡ buồn do thất tình anh H. đương học trường Y Dược. Cô cháu Diễm bây giờ mới thấy có bộ vui vui. Rồi Dì Út đi lấy chồng không buồn từ giã người tình thơ. Ông thầy giác lể không nói thẳng mặt với ai nhưng bắn tiếng là con gái mình lầy chồng giàu, có tưong lai vì thằng rể sắp ra trường làm Dược sư, mở nhà bào chế thuốc như hai ông La Thành Nghệ, La Thành Trung ở đường Boresse vùng Cầu Ông Lãnh. Xóm giếng Huỳnh Quang Tiên thêm một kẻ thất tình thường thẫn thờ ngày mấy lần đi qua nhà ông bà thầy giác lể mà len lén ngó vô như cố tìm hình bóng người xưa còn vương vấn đâu đó.
 

Nó lục tìm hoài trong trí mà vẫn không giải thích được thích đáng rằng người ấy nói câu giã từ dối hay thiệt. Nó thường tưởng tưởng ra khuôn mặt của cô Dì Út rồi tự an ủi để khỏi đau lòng. Rằng đó là lời thiệt. Nó bị đùa dai, cái thói đùa tàn nhẫn của bọn con gái nhà giàu mới tanh tanh chút tiền mà những năm gần đây học trò các trường lớn thường bắt chước nhau. Đùa để vui, để tự hào có người si mình và để khoe với chúng bạn. Nó nhủ mình tin như vậy để khỏi đau đớn vì bị tình phụ. Nhưng mà vẫn đau đau, vẫn thẩn thờ, vẫn nghi ngờ câu trả lời của mình không đúng.
 

Thằng Tín bỏ xóm giếng Huỳnh Quang Tiên qua vùng Tân Qui Đông sình lầy, muỗi mòng sanh sống để quên mối tình được ban phát bất ngờ hai năm qua.

Một lần nhớ xóm giếng ngày xưa nó trở về thăm. Ba năm mà vật đổi sao dời nhiều, lắm nhà mọc lên bề thế. Có nhà làm hàng rào bao bọc luôn ngôi mả để chiếm đất. Mấy gia đình di cư đã khá hơn nên rủ nhau cùng dọn đi nơi khác. Ông thầy giác lể đã chết. Bà thầy bị ung thư gì đó rề rề ốm yếu thường ngồi trong nhà ngó mong, vô hồn. Cô bé Diễm bây giờ trổ mã coi cũng được ớn. Mẹ của bé trở thành cô phụ khi người chồng biền biệt không để lại vết tích.
 

Thấy thằng Tín, con nhỏ Diễm mừng rơn, chạy ra nắm tay nắm chưn trách móc sao bỏ đi biền biệt không nói lời chia tay để nó được đứng trông theo tới khi anh trở thành cái bóng nhỏ mờ lần. Nghe trách, thằng Tín, chỉ cười trừ. Con nhỏ nầy cải lương dễ sợ. Nó nói thầm.
 

⁂

Con Diễm coi bộ tự do. Nó liến thoắng leo lên chiếc xe mobilette cả chục tuổi đời của tôi bắt chở ra Sàigòn. Nó nói leo lẻo khi mới ngồi an vị và choàng tay qua hông tôi nhột nhột:

‘Anh Tín còn nhớ hồi đó em đếm trước ngực anh có mấy mụt ruồi son và sau lưng anh có mấy mụt ruồi đen không?’

‘Nhớ chứ sau không? Cứ đếm hoài nhột muốn chết. Bà ngoại em rầy bao nhiêu lần mà cũng không sợ. Hồi đó nghèo, trưa chiều gì cũng ở trần bận quần xà lỏn. Trời nắng nằm dựa gốc mít ngủ nên mới cứu được con nhỏ té giếng.’
 

Có tiếng cười như nức nẻ, tiếp theo là tiếng thỏ thẻ nhẹ nhàng:

‘Tám tuổi mà em biết yêu anh rồi đó. Muốn ở gần anh nên lẩn quẩn ngoài giếng hoài. Trưa má kêu đi ngủ lần nào cũng chần chờ!’

‘Em còn nhớ anh dọa là con gái gần con trai hoài thì có chửa không?’

‘Nhớ!’
 

Cả hai làm thinh một hồi hơi lâu. Đường Sàigòn chật chội. Ga xe lửa Sàigòn túa người băng qua đường Boudhonné bất chấp xe cộ. Mấy chiếc xe buýt xịch tới xịch lui khiến con nhỏ ôm người chở mạnh hơn.

‘Em hỏi bà ngoại. Bả nói gần nầy khác, không phải gần như vậy.’

Tôi thấy chuyện nầy cũng lạ. Con bé quyến luyến mình từ đời cố Hỷ cố Lai nào không biết mà lẽo đẽo theo mỗi khi có dịp dầu là mới có 8, 9 tuổi.

‘Hay là mình ăn trưa cơm gà nấu đậu ở quán Thanh Bạch kế bên rạp hát Vĩnh Lợi đi anh.’
 

Tôi e dè:

‘Đi lâu coi chừng chị Hai chửi.’

Con nhỏ sửa liền:

‘Anh không được kêu bằng chị Hai nữa, thay đổi cách xưng hô ngay từ bây giờ là vừa.’
 

Trời mát mà tôi nghe lạnh xương sống. Con nhỏ nói xa gần, thiệt thà như tôi cũng hiểu ý. Tôi ngó lên mấy con chim bay trên bầu trời rồi ngó sang bên kia đường, dãy tiệm bán vải của những người Chà Bombay giàu có để quên hiện tại. Không biết nên buồn hay nên vui, cũng không biết ứng phó kiểu nào cho hợp. Nó vừa mới lớn, còn lanh chanh trong tình yêu trai gái. Tôi lại còn tương tư Dì Út nó chết bỏ làm sao dính dáng với nó được?

‘Anh cứu em té giếng hồi nhỏ. Nếu không có anh cứu thì em đâu còn sống nên em thấy mình thích anh. Cũng là một cách trả ơn vậy mà.’ Con nhỏ nói có vẻ thành thật nhưng với tôi chỉ là trò chơi của ngôn ngữ.

Lấy tay gỡ tay con nhỏ ôm mình quá chặt, tôi nói:

‘Chở em đi như vầy anh sợ Chị Hai má em rầy, chị có thể kêu cảnh sát bắt anh đó. Mà em nói chuyện đàng hoàng đi, nhỏ bằng hột tiêu mà nói chuyện gì đâu không!’

‘Lại chị Hai, anh đổi cách xưng hô đi thì vừa. Đâu anh nói coi, kêu má em bằng gì?’

‘Tới nơi rồi, vô ăn món gì dằn bụng rồi về Diễm ơi!’ Tôi đánh trống lảng và giao xe cho người giữ xe trước tiệm, lấy cái thẻ bỏ vô túi quần vỗ vỗ cho chắc ăn.

‘Cả chục năm rồi không đi ngang chỗ nầy. Hồi trước mỗi lần anh bịnh, sư phụ dắt đi nhà thương Sàigòn thế nào cũng xin sư phụ cho mấy phút đọc chuyện tình của công chúa Margaret và ông Thompson dán ở phòng Thông Tin Anh kế đây.’

‘Anh cù lần và làm kiểu thầy chùa như vầy hèn chi Dì Út bỏ anh đi lấy chồng. Cũng phải thôi, đâu có oan ức gì.’

Con nhỏ mau lớn và coi bộ trưởng thành về sự suy nghĩ hơn mình tưởng. Nó dùng chiêu vừa trách cứ về doạ nạt, khiến tôi nín thinh.
 

Ngồi chưa yên vị con nhỏ nắm hai bàn tay tôi đương mở cái khăn bọc muỗng nĩa dao vừa mới được đặt trên bàn, và đương ngạc nhiên khi thấy lần đầu cái khăn trắng muốt, sang trọng quá chừng:

‘Anh Tín nầy, em lớn rồi phải không? Thành nhơn chi mỹ rồi, Học Đệ Nhị rồi, cuối năm thi Tú Tài rồi. Phải không nói thiệt đi? Mà chỉ lớn với anh thôi nhe. Người khác thì đừng hòng tới gần.’

Tôi chu mỏ:

‘Lớn cái con khỉ. Ngày nào cũng lật báo đọc mục Mai Bê Bi mà đòi làm người lớn.’

Con bé mặt tươi vui, chợt đổi đề tài:

‘Nhớ khi đó anh nói anh tuổi Tý phải không. Tuổi Tý là người có tánh chù chừ, không quyết định gì đúng lúc hết. Nói cho anh nghe: Lẹ tay thì còn, chậm tay thì hết, con chuột chù chừ thì… thì có thể mất mồi và mất mạng.’

Con bé làm tôi hoang mang, Gì mà ghê vậy em?

Nó nói nhỏ: Anh hiền như cục bột lò bánh mì, ai muốn nặn sao thì nặn, không ý kiến. Bộ anh mới đẻ ngày hôm qua chắc. Còn em, bộ em là gỗ đá chắc, không biết yêu.
 

Hai tay nó nắm tay tôi bóp mạnh:

‘Anh Tín, có cần phải nghe em nói là em yêu anh anh mới chịu hay sao?’

Tôi rút tay về khi người bồi bàn đem hai dĩa cơm gà nấu đậu ra, nói nhỏ:

‘Anh vẫn còn nhớ Dì Út. Không thể để em đền bù chuyện cứu mạng ngày xưa bằng tình yêu nông nỗi của em.’

Nông nỗi! Con bé lập lại hai tiếng đó rồi đứng phắt dậy chạy ra đường phóng bạt mạng lên một chiếc xích lô đương trờ tới.

Tôi ngồi lặng. Rồi em sẽ quên thôi.

Tôi về thẳng bên Tân Qui Đông. Lúc qua bến đò Tôn Thất Thuyết, nhìn bóng mình trôi trôi trong dòng nước tôi tự an ủi rằng mình đúng, rồi má với bà em sẽ bắt em đi lấy chồng. Cuộc sống mới sẽ giúp em quên chuyện tình cảm thời mới lớn. Nhưng mà cha mẹ ơi, hai chục năm lính, hai chục năm sống bất như ý, hễ khi trời mưa thì tôi nhớ đến chuyện mình với hai người con gái, chuyện nào cũng lỡ làng. Mình tới họ lui. Họ tới mình lui. Lỗi tại duyên số hay lỗi tại tui trù trừ không quyết đoán. Tôi như cục bột ở lò bánh mì, chỉ chờ người ta nặn mình, chứ không thể tự mình thành gì hết.
 

Ta chỉ có một đời để sống, chỉ có một lúc thật quyết liệt để quyết định. Phải sống chơn thật với lòng và với giá trị phổ biến. Phải quyết định cách đúng đắn không lợi dụng để thủ lợi. Tôi trên căn bản là một chú tiểu mà, mộ người con Phật ngay từ nhỏ mà…

Mấy bạn hỏi sao mưa thì lại nhớ đến chuyện tình buồn của mình hả?

Ông nhạc sĩ nào đó thiệt rành đời lắm mới viết câu: Mưa bên chồng có làm em khóc? Bất như ý cuộc hôn nhân thì trời càng mưa càng nghe buồn, càng thấy cuộc đời mình là một đau thương lớn. Không khóc sao được. Thương cho thân phận của họ nên mình buồn thôi.
 

(Đón xem: Chuyện người Nhật Bổn cuối cuộc chiến)
  


 


Đức Phật đã dạy đường vào giải thoát có nhiều cửa, không phải chỉ một. Học nhân thời nay, đặc biệt là tại Tây Phương, không chú ý nhiều về Vô Tướng Tam Muội, nhưng đây lại là một cửa vào giải thoát phổ biến trong Thiền Tông Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, và Đại Hàn. Có thể tóm tắt pháp môn này là, “Không hề có một pháp nào để làm.”
về việc cộng sản Việt Nam bắt giữ các thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam... Chúng tôi kêu gọi đồng bào Việt Nam, trong nước và hải ngoại, sát cánh yểm trợ cuộc đấu tranh ôn hòa và chính đáng của các tù nhân lương tâm
Thống Đốc California Gavin Newsom hôm Thứ Ba, 26 tháng 5 tuyên bố rằng ông sẽ nới lỏng các hạn chế của tiểu bang đối với ngành hớt tóc và hair salon cho một số quận trong tiểu bang đáp ứng một số tiêu chuẩn về sức khỏe. Tiểu bang, đã đưa ra một trong những lệnh ở trong nhà trên toàn tiểu bang sớm nhất vào giữa tháng 3, đã và đang tái mở cửa kinh tế toàn tiểu bang trong các giai đoạn. Tiểu bang hiện đang ở giai đoạn 2 của kế hoạch tái mở cửa, mà đã cho phép các cơ sở kinh doanh bán lẻ và việc làm sản xuất với những điều chỉnh. Các quận trong tiểu bang đã đáp ứng một số tiêu chuẩn sức khỏe, gồm ít hơn 25 trường hợp lây nhiễm cho mỗi 100,000 cư dân trong vòng 14 ngày qua hay ít hơn 8% số người thử nghiệm dương tính trong tuần rồi, được phép tiến tới kế hoạch tái mở cửa của tiểu bang.
Đoạn phim về sự đối đầu giữa người da đen quan sát chim và người da trắng dắt chó đi bộ trong Công Viên Trung Tâm Thành Phố New York đã lan truyền, đang khơi dậy cuộc tranh luận về sự kỳ thị chủng tộc hàng ngày và cơn bão truyền thông xã hội. Sự kiện theo sau các trường hợp khét tiếng khác của người da trắng gọi cảnh sát sau khi gặp người da đen đang làm những việc thường ngày như chạy bộ, ở trong công viên hay trên đường phố, đang bơi lội, nướng thịt hay chỉ làm vườn.
Tháng tư/ 2019, các khoa học gia chụp được – thực ra là “tạo” được – tấm hình Hố Đen đầu tiên, giúp nhân loại có dịp chiêm ngưỡng thêm một tí dung nhan của vũ trụ. Sau khi long trọng ăn mừng thành tích mới của ngành khoa học không gian, bước kế tiếp của chúng ta là gì? Có người đề nghị: đặt lại tên, cho nó một danh tánh mới bảnh hơn. Ý kiến rất hay, vì việc tìm tên mới là một trọng trách, đòi hỏi phải nghiên cứu nghiêm chỉnh, kỹ lưỡng. Muốn cho Hố Đen cái tên đúng nghĩa, cần biết nó là cái gì.
California sẽ cho phép các nơi thờ phụng mở cửa các dịch vụ trực tiếp với sức chứa giảm và cho phép các nhà bán lẻ mở để mua sắm trong cửa hàng, theo các viên chức tiểu bang tuyên bố hôm Thứ Hai, 25 tháng 5. Theo các hướng dẫn được công bố bởi Thống Đốc California Gavin Newsom hôm Thứ Hai, các nhà thờ sẽ được phép tái mở cửa với sự chấp thuận từ các viên chức y tế công cộng trong quận, nhưng họ sẽ được yêu cầu giữ số người tham dự 25% sức chứa hay tối đa 100 người. Các viên chức y tế công cộng của tiểu bang và quận sẽ hợp tác để giám định bất cứ sự gia tăng tử vong và số người vào bệnh viên sau 3 tuần nới lỏng các hạn chế.
Ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong năm 2020 đưa ra một mảng trái ngược khi một số người Mỹ ở trong nhà, những người khác tràn ra các bãi biển và hồ tắm, và các nhà lãnh đạo chính trị quốc gia đã vinh danh các thế hệ hy sinh vì chiến tranh, với cựu phó tổng thống Joe Biden đeo khẩu trang và TT Trump không đeo gì cả.
gày chiến sĩ trận vong cũng như những ngày lễ khác của xứ này, người dân nghỉ ngơi, đi chơi, thăm thú họ hàng… Năm nay ngày lễ vẫn còn dịch bệnh nên số người đi chơi giảm rất nhiều, các thương xá, nhà hàng vẫn còn đóng cửa nếu có mở cũng rất hạn chế khách. Ngày chiến sĩ trận vong là ngày lễ quốc gia, tưởng niệm công ơn những người đã vì đất nước mà xả thân, những anh hùng vệ quốc, xây dựng tổ quốc, những người con ưu tú vì lý tưởng tự do mà hiến thân. Hiến thân cho tự do của xứ sở Cờ Hoa và cả tự do của một phần nhân loại trên thế gian này.
Hình ảnh người dân Hoa Kỳ, kể cả tổng thống, các vị dân cử, thống đốc tiểu bang, cho đến các cựu quân nhân hay dân chúng Mỹ cặm cụi cắm những lá cờ nhỏ trên ngôi mộ của các tử sĩ của họ, chắc chắn ai trong chúng ta, những người Việt lưu vong, mà không khỏi chạnh lòng nghĩ đến sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ QLVNCH, những người đã anh dũng chiến đấu bên cạnh “người bạn đồng minh”, để không những bảo vệ nền tự do dân chủ của miền Nam Việt Nam, mà còn giữ vững thành trì chống chủ nghĩa Cộng Sản mạnh mẽ nhất của thế giới tự do trong vùng Đông Nam Á, cho đến ngày họ bị...bỏ rơi!
Do đó, mặc dầu VN luôn coi trong mối quan hệ kinh tế thương mại với TQ. Việt Nam cần phải thoát khỏi ảnh huởng của Trung Quốc là điều kiện tiên quyết để có được môt nền độc lâp bền vững và một nền tư do lâu dài để phát triên kinh té giảm thiểu tối đa sự thâm thủng trên cán cân mậu dịch với TQ mà VN là nạn nhân gánh chịu sự chênh lệch ấy.
Binh thư Tôn Tử gồn có 36 kế, trong đó kế thứ ba là “mượn dao giết người” (tá đao sát nhân). Trong chính trị cận đại Việt Nam, người ứng dụng nhuần nhuyễn kế nầy có lẽ là Hồ Chí Minh, người được đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) vinh danh có 169 bí danh, bút danh, biệt danh trong sách Những tên gọi, bí danh, bút danh của chủ tịch Hồ Chí Minh, do Bảo tàng Hồ Chí Minh biên soạn, Nxb. Chính Trị Quốc Gia ấn hành năm 2001 ở Hà Nội.
Theo truyền thống hằng năm vào ngày Thứ Hai cuối cùng của tháng Năm hàng năm là ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong để vinh danh và tưởng nhớ các chiến sĩ đã hy sinh vì lý tưởng tự do, dân chủ. Nhưng năm nay, trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, tỷ lệ mhưng người mắc bệnh cũng như số tử vong chưa giảm, nên những buổi lễ lớn đành phải hũy bỏ. Riêng tại Nam California vào lúc 10 giờ sáng Thư Hai ngày 25 tháng 5 năm 2020, tại Đài Tưởng Niệm 81 tử sĩ Tiểu Đoàn 7 Nhãy Dù do ông Hoàng Tấn Kỳ Chi Hội Trưởng cùng một số các chiến hữu trong Chi Hội Gia Đình Mũ Đõ Nam California đã long trọng tổ chức buổi lễ đặc vòng hoa tưởng niệm, trong dịp nầy O ng Tạ Đức Trí, Thị Trưởng Thành Phố Westminster cùng phu nhân cũng đã đến đặc vòng hoa tưởng niệm, sau nghi thức niệm hương, mọi người cùng lần lượt đốt nhang, sau đó tất cả cùng sắp thành hàng ngang sau tượng đài để thực hiện nghi thức chào tay trước khi giải tán.
Trang Dân Luận có một một bài viết ngắn (“Tại Sao Báo Chí Chính Thống Không Có Một Dòng Nào Về Chuyện Trần Huỳnh Duy Thức Tuyệt Thực”) của nhà báo Nguyễn Công Khế, với phần kết luận – như sau: “Còn một việc nữa, mấy hôm nay, râm rang trên mạng xã hội, và các cơ quan báo chí nước ngoài đang nói chuyện tù nhân chính trị Trần Huỳnh Duy Thức tuyệt thực 27 ngày có nguy cơ dẫn đến nguy hiểm tính mạng. THDT cũng được trên mạng xã hội và truyền thông nước ngoài đánh giá là một người có trí tuệ trong giới bất đồng chính kiến. Thế thì tại sao trước một tin tức như vậy, phía Nhà nước và báo chí chính thống không hề có một dòng nào, hoặc có việc đó, hay không có?
Truyền thống đại học ở Mỹ (và Oxford, Cambridge ở Anh) gọi buổi lễ tốt nghiệp cho sinh viên sau 4 năm dùi mài kinh sử là Commencement (sự khởi đầu) vì đúng là như vậy, đây là sự kiện khởi đầu cho những người trẻ đang chuẩn bị vào đời. Với một người, tốt nghiệp đại học là một bước chuyển tiếp rực rỡ, chặng cuối cùng của hành trình từ niên thiếu sang làm người lớn thực sự, một bước chuyển hầu như chắc chắn phải xẩy ra, không giống như những giai đoạn chuyển tiếp khác trong cuộc đời. Những mối quan hệ (tình yêu, hôn nhân, bằng hữu) chấm dứt vì tan vỡ, hay một trong hai người qua đời. Công ăn việc làm chấm dứt vì người ta bỏ việc, hay bị sa thải. Nhưng đời sống sinh viên đại học là một trong những thứ hiếm hoi của con người chấm dứt vì một sự khởi đầu mới tinh khôi.
Công ty TNHH Tenma Việt Nam (đóng ở Bắc Ninh) hối lộ tổng cộng 25 triệu yên (khoảng 235 ngàn đôla Mỹ) cho một số cán bộ, công chức ở Việt Nam được đăng tải trên báo Asahi (Nhật Bản) ngày 12-5-2020
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.