Hôm nay,  

Tỉnh Thức Với Tâm Không Biết

04/05/202112:43:00(Xem: 13525)
blank 

 

Chủ đề bài này là nói về tỉnh thức với tâm không biết. Như thế, nghĩa là những gì rất mực mênh mông, vì cái biết luôn luôn là có hạn, và cái không biết luôn luôn là cái gì của vô cùng tận. Cũng là một cách chúng ta tới với thế giới này như một hài nhi, rất mực ngây thơ với mọi thứ trên đời. Và vì, bài này được viết trong một tỉnh thức với tâm không biết, tác giả không đại diện cho bất kỳ một thẩm quyền nào. Độc giả được mời gọi tự nhìn về thế giới trong và ngoài với một tâm không biết, nơi dứt bặt tất cả những tư lường của vô lượng những ngày hôm qua, nơi vắng lặng tất cả những mưu tính cho vô lượng những ngày mai, và là nơi chảy xiết không gì để nắm giữ của vô lượng khoảnh khắc hôm nay. Khi tỉnh thức với tâm không biết, cả ba thời quá, hiện, vị lai sẽ được hiển lộ ra rỗng rang tịch lặng như thế. Đó cũng là chỗ bà già bán bánh dẫn Kinh Kim Cang ra hỏi ngài Đức Sơn về tâm của ba thời.
 

Duyên khởi của bài này là, mới tuần trước, đạo hữu Quí Lê có gửi qua email hai đoạn văn tiếng Anh của ngài Krishnamurti, và ghi nhận: “Đây giống như công án nhà Thiền mà thiền sinh thường tư duy.” Khi dò tìm qua mạng, thì biết hai đoạn này trích từ sách “The Book of Life” của J. Krishnamurti” và là đề mục của ngày 20 tháng 12.
 

Nơi đây, xin dịch sang tiếng Việt như sau:
 

“Tôi không biết…
 

“Nếu một người có thể thực sự tới trạng thái nói rằng, ‘Tôi không biết,” nó cho thấy một cảm thức dị thường của khiêm tốn; không có cái kiêu hãnh của kiến thức; không có câu trả lời khẳng định tự ngã để gây ra ấn tượng. Khi bạn có thể thực sự nói, ‘Tôi không biết,’ mà rất ít người có khả năng nói như thế, rằng trong trạng thái đó tất cả sợ hãi đã ngưng lại bởi vì tất cả cảm thức của sự công nhận, sự tìm kiếm vào ký ức, đã tới chỗ kết thúc; không còn tìm kiếm gì nữa vào những cái đã được biết. Thế rồi, một điều dị thường hiển lộ ra. Nếu bạn cho tới giờ lắng nghe điều tôi nói, không chỉ bằng lời nói, nhưng nếu bạn đang thực sự kinh nghiệm nó, bạn sẽ thấy rằng khi bạn có thể nói, ‘Tôi không biết,’ tất cả [mạng lưới] nhân duyên ngưng lại. Và lúc đó cái gì là trạng thái của tâm?
 

Chúng ta đang tìm kiếm những gì vĩnh cửu – nói vĩnh cửu trong ý nghĩa thời gian, những gì bền vững, những gì trường tồn mãi mãi. Chúng ta thấy rằng mọi thứ về chúng ta là vô thường, là trôi chảy, là đang sinh ra và đang lụi tàn, và đang chết đi, và cuộc tìm kiếm của chúng ta luôn luôn là để dựng lập một điều gì để bền vững trong những cái đã được biết. Nhưng rằng, cái linh thánh thực sự là siêu vượt qua những đo lường của thời gian; nó không được tìm thấy trong những cái đã được biết.” (1)
 

Người viết đã trả lời email đạo hữu Quí Lê rằng: “Hay quá. Tuyệt vời. Lần đầu tiên H. đọc thấy đoạn văn này. Đúng là Thiền Tông. Không gì khác. Cảm ơn. Kính thân.” Nhưng không chỉ là Thiền Tông, đó cũng là lời Đức Phật dạy nhiều lần trong Kinh Nhật Tụng Sơ Thời (2), những bài kinh Đức Phật cho chư tăng tụng hàng ngày trong các năm đầu tiên thành lập tăng đoàn.
 

Đọc như thế, mới chợt nhớ tới Abhidharmakośakārikā (A-tì-đạt-ma-câu-xá luận) với 600 bài kệ của ngài Vasubandhu soạn từ thế kỷ thứ 4 hay 5. Về sau bộ luận này được ngài Samathadeva đúc kết thành một cẩm nang gọi là Upāyikā, có tính cô đọng, trong đó bản Tạng ngữ duy nhất còn lại đang được dịch ra Anh văn. Có một phẩm đặc biệt, mang ký số là “Upāyikā 9.004” chỉ có một dòng chữ: “Consciousness arises in dependence upon whatever causes and conditions.” (Dịch: Thức khởi dậy, dựa vào các nhân và các duyên.) (3)
 

Chỉ một câu như thế thôi, chỉ một dòng chữ thôi. Để chỉ vào cội nguồn Tứ Đế. Như thế, toàn bộ Khổ Đế và Tập Đế là nhân và duyên khởi dậy. Như thế, toàn bộ Đạo Đế và Diệt Đế là khi tịch lặng các nhân và các duyên này. Và ngay khi đó, là lời dạy cốt tủy của Đức Phật. Nơi đây, không có lối vào, theo Thiền Tông. Vì tất cả các phương pháp tu hành mà Đức Phật phương tiện dạy, chỉ là ngón tay chỉ trăng. Nói không có lối vào, là nói tất cả các lối đi đều nương vào thức. Nhưng khi, ngay những người đời thường như chúng ta, nói rằng, “Không biết nữa, xin thôi.” Hễ lúc đó lặng lẽ nhìn vào tâm không biết, thì ngay khi đó sẽ vắng bặt tham sân si, vì tham sân si luôn luôn sinh khởi từ những cái được biết, là dựa vào những cái được thấy, được nghe, được cảm thọ và được thức tri. Chính là lời ngài Trần Nhân Tông nói rằng khi đối cảnh (tỉnh thức với nội xứ và ngoại xứ) mà vô tâm được (tỉnh thức với tâm không biết) thì chẳng cần gì tới cái gọi là thiền. Bất kỳ ai cũng có thể tự nghiệm ra, tùy mức độ. Nơi đây, cũng là hoàn mãn Bát Chánh Đạo, vì trong cái tỉnh thức nhìn vào tâm không biết, không một mảy may nào của tham sân si dấy lên nữa: tất cả tham sân si đều là những trận mưa bụi của thức ngày hôm qua.
 

Khi có được kinh nghiệm như thế, sẽ dễ dàng kinh nghiệm Chương 2 trong sách Trung Luận của ngài Long Thọ. Trong đó, bản Việt dịch của Thầy Thích Thiện Siêu là “Phẩm 02: Quán Về Đi Lại” (4) --- trong khi bản Anh dịch của Jay L. Garfield là “Chapter II: Examination of Motion.” (4)
 

Nơi đây, bạn sẽ hạnh phúc vô cùng khi trải qua kinh nghiệm rằng khi đang bước, đang đi, đang nhấc chân lên, đang đặt chân xuống, đang chuyển động… nhưng đồng thời cũng thấy rằng không hề có cái gì đang đi, không hề có cái gì gọi là đi, không hề có cái gì gọi là chuyển động. Tứ Thánh Đế hiển lộ ra như thế, chuyển động nhưng rất là rỗng rang tịch tặng.
 

Trong trường hợp học nhân không ngộ được ý chỉ, không kinh nghiệm được như các chỗ vừa nói, ngài Long Thọ (600-650) trao một phương tiện quán tâm, trong phần Tứ Niệm Xứ của sách Maha Prajnaparamita Sastra (Luận Thư Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa). Nơi đây, chúng ta chỉ dịch phần Niệm Tâm, dựa vào bản Anh dịch của đại sư Gelongma Karma Migme Chödrön trong ấn bản 2001. Cũng nên ghi nhận, nơi đây, ngài Long Thọ không hoàn toàn dạy niệm tâm như truyền thống, mà là chỉ vào thực tướng vô tướng, chỉ vào pháp ấn vô ngã. Bởi vì, trong cái tỉnh thức rỗng rang này: niệm tâm mà không thấy còn tâm nào để niệm, mới thực là niệm tâm pháp ấn. Xin dịch như sau.
 

“Niệm tâm. Niệm tâm là gì đối với bồ tát? Bồ tát quán sát nội tâm. Nội tâm có 3 đặc tướng: sinh, trụ và diệt. Hãy nghĩ thế này: ‘Tâm này không tới từ đâu, và khi biến mất thì không đi về bất cứ đâu. Nó khởi dậy từ một mớ rối bời phức tạp của nội và ngoại của nhân và duyên.’

Tâm này không cố định, không có thực tánh, không hề có thực là sinh, trụ hay diệt; nó không hiện hữu thực ở quá khứ, tương lai hay hiện tại. Tâm này không ở trong, không ở ngoài, không giữa trong/ngoài. Tâm này cũng không có tự tánh, không có đặc tướng, và không có gì sinh khởi hay bất cứ gì làm cho nói sinh khởi. Bên ngoài, có nhiều nhân và duyên chằng chịt nhau, tức là có 6 xứ (ND: tức là, 6 cảnh gặp 6 căn); còn bên trong, là vọng tưởng. Nhưng vì sự tiếp nối liên tục của sinh diệt, tên gọi là tâm (citta) theo thói quen gọi cho tất cả các pháp vừa nói.
 

Tự tánh thực của tâm không hề hiện hữu trong tâm này. Trong tự tánh của nó, tâm không hề sinh ra và cũng không hề diệt. Tâm này luôn luôn sáng chiếu, nhưng, vì ái dục bám vào, cho nên chúng ta nói [một cách sai lầm] về một tâm ô nhiễm. Tâm không tự nhận biết chính nó. Tại sao? Bởi vì tâm này trống rỗng, không có đặc tính nào của tâm. Từ khởi đầu cho tới tận cùng, tâm này không có tánh thực nào cả.

Tâm này không nối kết, cũng không tách lìa các pháp. Nó không hề có gì trước, hay sau, hay giữa. Nó không có màu sắc, không hình dạng, không đối kháng. Nó sinh khởi chỉ từ các lỗi lầm và sai trật. Tâm này thì trống rỗng, không hề có cái gì là ‘tôi’ hay ‘của tôi’; nó vô thường và không thật. Đó là xem xét về tâm.
 

Nhận biết rằng bản tánh của tâm là vô sanh là vào được ‘các pháp vô sanh’. Tại sao? Bởi vì tâm không hể có sinh, không hề có bản tánh nội tại nào, và cũng không hề có đặc tướng nào. Người trí có thể biết nó. Và mặc dù người trí xem xét các đặc tính sanh và diệt của tâm này, sẽ không tìm ra cái sinh khởi thực, cũng không tìm ra cái tịch diệt thực. Không tìm ra bất kỳ nhiễm ô nào, cũng không hề tìm ra thanh tịnh nào trong đó, người trí nhận ra táng sáng chiếu của tâm, tánh sáng chiếu từ giới hạnh mà trong đó tâm không bị ô nhiễm bởi ái dục. 

Đó là cách bồ tát quán sát nội tâm, và tương tự với ngoại tâm, và cả nội tâm và ngoại tâm.” (5)
 

Cứ quán sát như thế, cứ tự nhìn như thế. Nhìn vào khi thức khởi dậy của tâm nhận biết bên trong, và rồi của tâm nhận biết bên ngoài. Rồi sẽ nhận ra cái tâm vốn rỗng rang, vốn tịch lặng, cái tâm không hề sanh khởi. Cũng là cái tâm bao trùm cả “có niệm” và “không niệm” và là cái tâm bất động, y hệt như tánh chiếu của gương, hiện ra tất cả mọi cảnh di động sinh diệt nhưng tánh gương vẫn bất động, không từng suy suyển xê dịch. Và hiển lộ của tánh này chính là cái tâm không biết, cái tâm của sự ngây thơ cực kỳ. Chính ngay ở cái nhìn đó, tất cả các pháp hiện ra thực tướng chính là không hề có tự tánh gì. Tất cả chỉ như chùm bọt sóng, như khói sương mai, như quáng nắng chiều, như tia điện chớp.
 

Nơi đây xin ghi lại một đoạn ở trang 115 từ sách "Thiền sư Nhẫn Tế: 80 Năm Kỷ Niệm Tây Du Phật Quốc" nơi bài Dưới Chân Thầy do sư huynh Nhứt Như Thị Giới kể về Thầy Thích Tịch Chiếu (cũng là bổn sư của người viết):
 

"Có lần Thầy đang ngồi đốt vàng mã do một Phật tử nhờ, một người thấy vậy đến hỏi Thầy: “Thầy tin việc này sao Thầy?” Thầy chỉ ngôi chùa, trả lời: “Ông tưởng ngôi chùa nầy là thật hay sao?”…” (6)
 

Chúng ta có thể đơn giản nghĩ như thế này. Chúng ta sinh ra tại một quốc độ, trong một gia đình, một thị trấn, được đặt cho một tên gọi, rồi vào học một vài trường, lớn lên trong một xã hội, từ đó chúng ta trở thành dị biệt nhau. Hoặc là người Nam, Trung hay Bắc. Hoặc học nhiều hay ít. Hoặc ưa ca vọng cổ, hay hò Huế, hay quan họ. Theo khẩu vị từ nhỏ, chúng ta hoặc ưa thích ăn cơm, hay mì sợi, hay bánh mì. Tất cả các nhân duyên chằng chịt nhiều đời đã đưa chúng ta vào nơi này, nơi kia, tập nhiễm để sống theo mô hình này, mô hình kia. Cứ mỗi ngày, lại trùm vào người thêm một lớp vỏ. Nhưng rồi một hôm, được đọc Kinh Phật, được Đức Phật dạy rằng hãy buông bỏ hết tất cả những gì không phải là ta, là của ta. Y hệt như lột vỏ thân cây chuối, thức dù là quá khứ, hiện tại hay vị lai đều là rỗng không, y như trò chơi ảo thuật, hễ nắm giữ ảo hóa chỉ là dày đặc thêm sinh tử luân hồi.
 

Như thế, hãy tự lột vỏ chuối thì sẽ thấy lõi cây chuối sẽ là không. Thấy được thức là từ nhân duyên, sẽ tự thấy ngay tâm không biết, và chính ngay nơi tâm này thức sẽ không có gì để bám víu. Chỗ này, nhà sư Dogen (Đạo Nguyên) của Tào Động Nhật Bản gọi ngắn gọn là “Buông bỏ thân tâm.”
 

Như thế, tỉnh thức với tâm không biết này, sẽ không còn thức nào có chỗ trụ. Đức Phật trong Kinh SA 63, bản dịch hai thầy Tuệ Sỹ - Đức Thắng là:
 

“Này Tỳ kheo, Ta nói thức không trụ Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn bên, trên, dưới, ngoại trừ ngay trong đời hiện tại sẽ nhập Niết-bàn, diệt tận, tịch tĩnh, thanh lương.” (7)
 

Hãy hình dung rằng mình đang tự lột bỏ hết tất cả những cái đã biết. Lúc đó sẽ không còn thấy mình là Đông, Tây, Nam hay Bắc, không còn thấy mình là vọng cổ hay quan họ, không còn thấy mình là Tây, Tàu, Mỹ, Việt, Hàn, Nhật… gì nữa. Chỉ còn là một đạo nhân trần trụi giữa cuộc đời này. Khi không còn một thức nào dính vào sắc thanh hương vị xúc pháp nữa, chính nơi đó ngay cả một lời cũng không bận tâm để mở miệng. Lúc đó tâm hành giả sẽ kinh nghiệm được tịch tĩnh, thanh lương, và khi nào diệt tận thì đó là Niết Bàn, như lời Đức Phật dạy.
  

Tới đây, một câu hỏi có thể khởi dậy: sao không vào sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền? Than ôi, khi đã thấy được tâm không bệnh, thấy cái tâm chưa từng vướng bệnh, thì uống thuốc chữa trị cái gì nữa. Đức Phật gọi đó là các trường hợp giải thoát thuần túy bằng tuệ, gọi là tuệ giải thoát.
 

Kinh này là SN 12.70. Ngài Susima do ngoại đạo gài vào xuất gia để học pháp Phật. Ngài Susima nhìn thấy nhiều vị Tỳ kheo tới trước Thế Tôn và tuyên bố như sau: “Chúng tôi biết rõ rằng: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'” Đức Phật ấn khả, chấp nhận.
 

Tỳ kheo Susima mới hỏi các vị tỳ kheo, và được quý vị này trả lời rằng, quý ngài không đắc thần túc thông, không đắc thiên nhĩ thông, không đắc tha tâm thông, không nhớ về kiếp trước, không đắc thiên nhãn, không đắc định Sắc giới, không đắc định Vô sắc giới… nhưng thật sự các vị đều đã là bậc A la hán, đã vào Niết Bàn dư y, và đã vượt khỏi ba cõi sáu đường. Câu trả lời của các vị này cho Tỳ kheo Susima là: “Thưa Hiền giả Susīma, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.”
 

Ngài Susima mới hỏi trực tiếp Đức Phật rằng tuệ giải thoát là gì. Đức Phật trả lời: “…trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn.” (theo bản dịch Kinh SN 12.70 của Thầy Minh Châu). Bản Anh dịch Sujato là: “Susīma, first comes knowledge of the stability of natural principles. Afterwards there is knowledge of extinguishment.” Bản Anh dịch Bodhi là: “First, Susīma, comes knowledge of the stability of the Dhamma, afterwards knowledge of Nibbāna.” (8)
 

Kế tiếp, Đức Phật giải thích thêm cho ngài Susima, rằng pháp trú là thấu triệt pháp ấn “vô thường, khổ, vô ngã” trong tất cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức, và đó là tuệ giải thoát. Lúc đó là ly tham, vì không gì còn dính nữa được.
 

Như thế, trong cái tỉnh thức lìa tham sân si này, không cần phải ngồi, không cần phải mài luyện cầu kỳ. Chỉ đơn giản là tỉnh thức với cái tâm lìa tham sân si đó bằng cái thấy nghe hay biết, mà không dính gì vào sắc thọ tưởng hành thức. Trong cách này, Thiền Tông đã trao ra một cây gậy đi đường là tỉnh thức với tâm không biết. Ngay khi đó, đi đứng nằm ngồi mà không hề thấy có cái gì đi đứng nằm ngồi, cũng không hề thấy có tướng đi đứng nằm ngồi, và đó là cái tịch lặng, cái hạnh phúc vô bờ bến.
 

GHI CHÚ:

(1) Krishnamurti. I do not know: http://legacy.jkrishnamurti.org/krishnamurti-teachings/view-daily-quote/20111220.php  

(2) Kinh Nhật Tụng Sơ Thời: https://thuvienhoasen.org/a30590/kinh-nhat-tung-so-thoi

(3) Upāyikā 9.004: https://suttacentral.net/up9.004/en/dhammadinna

(4) HT Thích Thiện Siêu, Trung Luận: https://thuvienhoasen.org/p19a15697/pham-02-quan-ve-di-lai

Garfield, The Fundamental Wisdom of the Middle: www.tinyurl.com/ym7hv24e   

(5) Long Thọ: Niệm Tâm. https://www.wisdomlib.org/buddhism/book/maha-prajnaparamita-sastra/d/doc225580.html

(6) Sách Thiền Sư Nhẫn Tế: https://thuvienhoasen.org/images/file/MTemVP6V0ggQAPE8/80-nam-tay-du-ky-phat-quoc.pdf

(7) Kinh SA 64: https://suttacentral.net/sa64/vi/tue_sy-thang

(8) Kinh SN 12.70: https://suttacentral.net/sn12.70/vi/minh_chau

Kinh tương tự bên A Hàm là SA-347: https://suttacentral.net/sa347/vi/tue_sy-thang

 

 



Trong Phật giáo, con số 84.000 có một ý nghĩa là hình ảnh vô lượng phiền não của chúng sinh và cũng là vô lượng pháp môn mà Đức Phật mở ra để đối trị. Con số này không mang tính toán học, mà diễn tả sự bao la của trí tuệ và phương tiện thiện xảo. Cũng như gương tâm của chúng ta: vô lượng phiền não tới sẽ được hiện ra, và vì nó vô tự tánh nên sẽ biến mất khi trí tuệ hiển lộ, nơi đó tánh chiếu sáng vẫn tịch lặng, không thêm, không bớt. Cho dù nói rằng có 84.000 cửa pháp, mục đích vẫn là một: hành giả nương vào Bát Chánh Đạo để thấy rõ thực tướng các pháp là vô ngã, là vô tự tánh, là do duyên và do vậy là hư ảo. Thấy như thế, trí tuệ giải thoát sẽ sinh khởi. Từ đó, nhìn đâu cũng sẽ thấy giải thoát.
Ngày 23 tháng 6 năm 2026. Chính quyền Tổng thống Trump đang tìm cách tăng chi phí đối với những người di dân nộp đơn xin nhập quốc tịch Hoa Kỳ.Ngày 22 tháng 6, Bộ Nội An Hoa Kỳ (DHS) đã công bố một quy định đề xuất, theo đó chi phí nộp Mẫu N-400 để xin quốc tịch sẽ tăng đáng kể. Theo đề xuất này, lệ phí nộp Mẫu N-400 bằng hồ sơ giấy sẽ tăng 75%, từ 760 Mỹ kim lên 1,330 Mỹ kim. Đối với những người nộp đơn trực tuyến, lệ phí sẽ tăng 80%, từ 710 Mỹ kim lên 1,280 Mỹ kim.
Bộ Nội An Hoa Kỳ (DHS) vừa ban hành quy định siết chặt thời hạn chiếu khán dành cho sinh viên ngoại quốc, hạn chế việc đổi trường hay đổi ngành học — một biện pháp khiến chủ trương cắt giảm di trú của chính quyền Trump lại một lần nữa va chạm với quyền lợi của nền đại học Mỹ. Theo quy định mới, phần lớn sinh viên ngoại quốc chỉ được nhập cảnh Mỹ trong một thời hạn cố định — tối đa bốn năm. Nếu cần thêm thời gian, điều mà nhiều sinh viên chắc chắn sẽ cần, họ phải nộp đơn xin gia hạn và trả lệ phí. Quy định cũng cấm sinh viên đổi ngành học hay chuyển trường trong năm đầu tiên, và rút ngắn thời gian gia hạn sau khi tốt nghiệp (grace period) từ 60 ngày xuống còn 30 ngày — khiến sinh viên mới ra trường có ít thời gian hơn để tìm việc hoặc điều chỉnh tình trạng chiếu khán.
Tại Hoa Kỳ, căn bệnh sởi đã được loại bỏ hoàn toàn vào năm 2000. Nhưng hiện nay số ca nhiễm bệnh đang gia tăng trở lại, nguyên nhân chính là do tỷ lệ chích ngừa giảm. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) báo cáo có 2,170 ca nhiễm trong năm 2026 tính đến ngày 2 tháng 7, cao nhất trong suốt 35 năm qua. Utah đang đối mặt với đợt bùng phát dịch sởi suốt một năm qua; chưa đến 84% trẻ em ở tiểu bang này được tiêm đủ hai liều vaccine MMR (phòng ngừa sởi, quai bị và rubella). Trong khi đó, cộng đồng người Somalia tại Minnesota cũng bị dịch sởi trong năm 2024. Tại đây chỉ có 25% trẻ em được tiêm MMR khi lên 2 tuổi. Người trưởng thành cũng ngày càng dễ mắc sởi hơn: CDC ghi nhận 625 trường hợp người trên 20 tuổi mắc bệnh trong năm 2026.
Một người đàn ông bị liệt từ cổ xuống sau tai nạn lặn cách đây sáu năm nay đã lấy lại được cảm giác và khả năng cầm nắm đồ vật, nhờ một thiết bị thử nghiệm cấy vào não. Thành quả này được công bố trên tập san Nature Medicine ngày 16 tháng 7, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công nghệ nối não với máy.
Cơ quan Quan Thuế và Di Trú Hoa Kỳ (ICE) đã bắt giữ hơn 650 trẻ em tại California từ khi Tổng thống Donald Trump bước vào nhiệm kỳ thứ hai, theo phân tích dữ liệu liên bang của EdSource. Đa số các vụ bắt giữ xảy ra ngay trong nội địa tiểu bang, không phải tại biên giới, nhằm vào những em vốn cư trú và đi học tại California.
Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế (Economist Intelligence Unit, viết tắt EIU), một chi nhánh nghiên cứu và dự báo thuộc tập đoàn xuất bản The Economist, vừa cho công bố Bảng Xếp Hạng Mức Sống Toàn Cầu năm 2026, khảo sát 173 thành phố trên năm phương diện: y tế, văn hóa và môi sinh, giáo dục, hạ tầng cơ sở, và tình hình an ninh chính trị. Đây là bảng xếp hạng mà các sở nhân viên tại nhiều công ty quốc tế vẫn thường tham khảo để tính khoản phụ cấp gian khổ cho nhân viên biệt xứ.
Trên đảo Stora Essingen, ngoại ô Stockholm, cử tri từng dồn phiếu cho đảng Ôn hòa (Moderate) bảo thủ. Nhưng từ năm 2022, khi đảng này liên minh với Đảng Dân chủ Thụy Điển (SD) — lực lượng cực hữu chống nhập cư từng bị coi là "hủi" chính trị — nhiều người đã quay sang đảng Dân chủ Xã hội (Social Democrats) trung tả. Cuộc tổng tuyển cử ngày 13/9 sẽ là phép thử: liệu hình ảnh một Thụy Điển ôn hòa, cởi mở còn đứng vững, hay cử tri muốn nếm thêm chủ nghĩa dân túy chống nhập cư. Đảng Dân Chủ Thụy Điển SD tự nhận đã "thuần hóa" các phần tử cực đoan nhất, đổi logo từ ngọn đuốc sang bông hoa xanh-vàng. Sau bầu cử 2022, SD trở thành đảng cánh hữu lớn nhất trong quốc hội, hậu thuẫn chính phủ của Thủ tướng Ulf Kristersson mà không giữ ghế bộ trưởng. Lần này, ông Kristersson hứa trao ghế nội các cho SD nếu liên minh tái cử.
Hôm thứ Ba, Pháp đã thông-qua một đạo luật lịch-sử, hạn-chế quyền dùng mạng xã-hội đối với trẻ dưới 15 tuổi. Đây là quốc-gia Âu-châu đầu-tiên làm việc này, và cũng là nước mới nhất gia-nhập làn sóng các quốc-gia hành-động chống lại điều họ xem là tác-hại của các dịch-vụ này đối với trẻ vị-thành-niên. Đạo luật, được cả Thượng-viện và Hạ-viện Pháp thông-qua với đa-số áp-đảo, có thể có hiệu-lực sớm nhất vào ngày 1 tháng Chín. Luật cũng cấm dùng điện-thoại di-động trong các trường trung-học, nối dài lệnh cấm đã áp-dụng từ trước tại các trường tiểu-học và trung-học đệ-nhất cấp.
Bản tin CBS News chiều Thứ Năm 23/7/2026: Việt Nam lãnh búa vì Trump áp thuế mới lên hàng chục quốc gia do lấy cớ về vấn đề lao động cưỡng bức. Theo tin từ các phóng viên Sara Cook, Joe Walsh.
- Lý do Trump áp thuế mới: đã hết hạn 150 ngày Tòa Tối Cao buộc Trump gỡ thuế quan áp đặt toàn cầu hồi đầu năm nay - Chỉ miễn thuế mới cho dầu mỏ và khí đốt, vì dân Mỹ cần xăng dầu rẻ
Theo báo Moneywise: Microsoft cân nhắc thay thế ChatGPT và Claude bằng Kimi K3 của Trung Quốc để tiết kiệm 600 triệu đô l. Theo bản tin của phóng viên Joseph Zeballos-Roig: Các mô hình AI giá rẻ của Trung Quốc đang ngày càng phổ biến tại Mỹ. Microsoft có thể sớm trở thành một khách hàng nổi bật.
• Trump Buộc Saudi Arabia Công Nhận Israel Trước Khi Thỏa Ước Nguyên Tử Được Chấp Thuận • Bốn Dân Biểu Cộng Hòa Giúp Hạ Viện Thông Qua Nghị Quyết Hạn Chế Chiến Tranh Iran • Hạ Viện Thông Qua Dự Luật Quốc Phòng Niên Khóa 2027, Sáu Dân Biểu Dân Chủ Bỏ Phiếu Theo Đảng Cộng Hòa • Lo Ngại Hồ Sơ Lý Lịch, Ủy Ban Thượng Viện Tạm Ngưng Xét Người Được Trump Đề Cử • Nhân Viên Công Ty GEO Group Bị Truy Tố Vì Nổ Súng Bắn Người Biểu Tình Chống ICE Ở Colorado • Giá Dầu Vượt 100 Mỹ Kim Một Thùng Sau Các Cuộc Tấn Công Tại Vùng Biển Red Sea • Cảnh Sát Wisconsin Bắn Chết Người Cầm Dao, Biểu Tình Bùng Nổ • Ngoại Trưởng Rubio: Hoa Kỳ Cam Kết Giúp Chấm Dứt Chiến Tranh Ukraine, Nhưng Chưa Có Giải Pháp Nhanh • Thu Hồi Gần 1,6 Triệu Trứng Vì Nguy Cơ Nhiễm Khuẩn Salmonella • Thêm Một Vụ Bùng Phát Cyclospora Chưa Rõ Nguồn Gốc, Không Liên Quan Đến Rau Xà-lách • Về Hưu Sớm Hơn Dự Tính, Người Mỹ Hối Hận Vì Thiếu Lo Xa
LS Tram Nguyen ghi rõ là "nhà lập pháp duy nhất, người nhập cư duy nhất, luật sư chuyên bảo vệ lợi ích công cộng duy nhất và là tiếng nói riêng biệt đại diện cho tầng lớp lao động mà bà luôn ưu tiên... trên toàn khu vực bầu cử."
Nhiều thói quen cũ đã thay đổi. Môi trường cũng trở nên dị biệt với nhiều người chúng ta. Nhiều thập niên trước, chúng ta còn thói quen mỗi ngày ra các tiệm nơi góc phố để thuê sách về đọc. Lúc đó, chúng ta say mê đọc, và trân trọng chữ. Lúc đó, Kim Dung hiện ra như một vị thần, mở ra các chân trời võ hiệp từ các đỉnh núi mịt mù sương. Lúc đó, chưa có Internet, tối tân nhất chỉ là các máy đánh chữ lóc cóc. Lúc đó, chúng ta còn viết nắn nót các dòng chữ trên các trang giấy học trò. Hạnh phúc là khi đọc...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.