Hôm nay,  

GS Nguyễn Văn Sâm Ấn Hành Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ

13/10/202122:21:00(Xem: 7184)

blank

GS Nguyễn Văn Sâm (phải) và nhà báo Phan Tấn Hải
(đang cầm sách Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ) hôm 11/10/2021.

  

GS Nguyễn Văn Sâm Ấn Hành

Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ
 

Phan Tấn Hải
 

Kim Vân Kiều. Nhưng đây là Tuồng Kim Vân Kiều, và là bản Nam Bộ, Nam Kỳ Lục Tỉnh. Trong khi Truyện Kiều của Nguyễn Du viết theo thể thơ lục bát, trong bầu không khí văn học quý tộc, những người dân Nam Bộ đã làm cho bình dân hóa, và chuyển thành một phiên bản tuồng để trình diễn cho khán giả xem. Truyện Kiều tập trung vào yếu tố đọc, Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ tập trung vào yếu tố sân khấu. Do vậy Truyện Kiều là nét thơ tài hoa riêng của nhà thơ Nguyễn Du, ngồi viết trong đơn độc. Trong khi đó, Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ là đóng góp tập thể của nhiều nhà sáng tác trong một thời gian dài khoảng 60 năm.
 

Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ được GS Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu. Nguyễn Hiền Tâm bổ chính. Sách in khổ lớn, dày 496 trang. Nhà xuất bản Gió Việt ấn hành.
 

GS Nguyễn Văn Sâm nơi trang 34 sách này ghi nhận về yếu tố tuồng và thời lượng hình thành sách tuồng (bản Nôm): “Nhìn chung, có thể nói mà không sợ sai lầm rằng Tuồng Kiều Nam Bộ hình thành trong suốt sáu mươi năm (tạm gọi là 1875-1942) qua nhiều cải tiến. Nguyên nhân hình thành là để phù hợp với sự thưởng thức của người lưu dân mới vừa định cư ở vùng đất mới mọi thứ đều thiếu thốn, nhứt là mức độ văn chương thơ phú, không thể thưởng thức được loại văn chương quá cầu kỳ kiêu sa của nguyên tác.”
 

Cần ghi nhận rằng, tuy gọi Tuồng Kim Vân Kiều hướng về giới bình dân, nhưng các tác giả nơi một số trang vẫn giữ thói quen học giả. Thí dụ, nơi trang 332, có tới 11 dòng viết bằng từ Hán Việt, trích dòng đầu là: “Niệm kinh: triêu triêu mộ mộ nhứt tham thiền…” Hiển nhiên, không phải các nhà nho uyên thâm, sẽ không sáng tác được Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ.

 
blank

 

*

 
Nơi đầu sách Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ có bài dùng như Lời Đầu Sách của TS Nguyễn Văn Trần, Paris, dài 10 trang sách, từ trang 13 tới trang 22 để giới thiệu sơ lược về chữ Nôm và công trình của GS Nguyễn Văn Sâm, nhưng đặt nhan đề cho Lời Đầu Sách là “Một Bông Hồng Mùa Đông.” Nơi đây, chúng ta dẫn ra phần về chữ Nôm và GS Nguyễn Văn Sâm, do TS Nguyễn Văn Trần   viết, trích:
  

“... Từ khi có chữ quốc ngữ, nhiều tài liệu văn học xưa hàng ngàn năm bằng chữ Nôm được các học giả sau này viết lại bằng chữ quốc ngữ làm cho nhiều người đọc cứ tưởng đó là những bản văn quốc ngữ, mà quên đi đã có chữ Nôm và nền văn học chữ Nôm. Nên việc học chữ Nôm ngày nay vẫn là điều cần thiết và quan trọng.

Học giả Đào Duy Anh, trong Lời tựa quyển «Chữ Nôm, nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến», Hà Nội, 1973, xác định chữ Nôm là thứ chữ dân tộc của ta đã được dùng trong gần 10 thế kỷ, mãi đến cuối thời Pháp thuộc, nó trở thành cổ tự, như chữ Hán, không còn được sử dụng trong đời sống hằng ngày nữa.

Đây là về văn tự. Về tiếng nói, từ ngữ tiếng Nôm lẫn tiếng Hán-Việt làm thành phần lớn thứ tiếng mà người Việt vẫn sử dụng hằng ngày cho đến nay.

Rất tiếc vì chữ Nôm không còn thông dụng nên từ đó không còn mấy người đọc và hiểu được. Nhưng cũng như chữ Hán, chữ Nôm là kho tàng gìn giữ một phần quan trọng văn hóa dân tộc. Muốn tiếp xúc với văn hóa dân tộc, phải biết chữ Hán và chữ Nôm.

Muốn học chữ Nôm, phải biết chữ Hán. Nhưng chưa đủ, mà còn phải biết lịch sử, đời sống xã hội, cách cấu tạo chữ Nôm qua các thời kỳ…

Về nguồn gốc chữ Nôm, học giả Đào Duy Anh có kể ra chuyện chuông đồng chùa Vân Bản có khắc nhiều hàng chữ Hán trong đó có vài chữ Nôm nhưng chính ông không thấy tài liệu in chụp lại rõ ràng nên sau cùng ông căn cứ vào tấm bia chùa Tháp Miếu, huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phú, có ghi đầu năm 1210, đời Lý Cao Tôn, là chứng tích có nhiều chữ Nôm rõ ràng.
 

Về những người nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam bằng chữ Nho và chữ Nôm, trước ông, là những người Pháp như ông Maspéro,… Riêng kẻ nghiên cứu chữ Nôm một cách nghiêm túc, có hệ thống, theo ông, cũng người Pháp, được ông nhắc tới, đó là ông A. Chéon với quyển «Cours de Chữ Nôm».

Tên đầy đủ của ông A. Chéon là Jean-Nicolas-Arthur Chéon (1856 – 1928), nghạch công chức cao cấp của chánh quyền Pháp. Ông được đề cử làm giáo sư dạy ở trường bổn quốc Collège Chasseloup-Laubat. Năm 1889, ông làm Phụ tá cho ông Antony Landes, đặc trách Phòng Chánh Trị của Chánh phủ Nam kỳ. Năm sau, ông bị đổi ra Hà Nội làm Đổng Lý Văn Phòng cho Phủ Thống Sứ.

Ông am hiểu tường tận tiếng Việt Nam. Trong những công trình nghiên cứu của ông về ngôn ngữ học, đáng kể là quyển «Văn phạm chữ An Nam» (1904), «Cours de langue annamite» (Sách dạy tiếng An nam, Hà Nội, 1904), «Tuyển tập 100 bài văn annamites, chú giải và dịch » (Hà Nội, 1899), « Phân tích 100 bài văn trong sách Cours d'Annamite dịch ra chữ Nôm», «Một bản nghiên cúu tiếng lóng (Argot) Annamite và một ghi chú về những thổ ngữ (dialectes) Nguồn, Sắc và Mường» (BEFEO, tập V và VII), «Un Cours de chữ Nôm»,… Ông là người bạn đầu tiên của Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội.
 

Ông Đào Duy Anh nhắc tới quyển «Cours de chữ Nôm» của ông Jean-Nicols-Arthur Chéon nhưng ông lấy làm tiếc là không thấy cuốn đó vì trong thư viện của Viện Khoa học xã hội không còn cuốn sách đó. Nó bị mất từ lâu.

Chữ Nôm là gì? Ông Đào Duy Anh nhắc lại định nghĩa của học giả người Tàu, ông Vương Lực, năm 1948, viết trong một bài nghiên cứu về tiếng Hán-Việt, chữ Nôm là «Chữ Việt mô phỏng theo chữ Hán mà tạo thành».

Không thoát khỏi hoàn cảnh chữ quốc ngữ lúc ra đời, chữ Nôm trong suốt thời gian dài bị giới nho sĩ hủ nho kịch liệt chống đối, dè bỉu, cho rằng chữ Nôm chỉ là thứ chữ «nôm na là cha mách qué» (nôm na là cách nói, cách diễn đạt mộc mạc, theo cách người dân thường không biết chữ Nho, còn mách qué là cách nói thiếu văn hoá đến mức đáng khinh). Cũng vì những xung đột gay gắt do lòng đố kỵ chỉ nhằm bảo vệ cái mũ cánh chuồn và chiếc áo thụng của giới quan lại mà chữ Nôm trong suốt thời gian dài đã không hoàn chỉnh và thống nhứt được. Mất chữ Nho đồng nghĩa với mất địa vị của họ.

Khi nghiên cúu về chữ Nôm, ông Đào Duy Anh lấy làm tiếc hiện nay không có nhiều người Việt Nam am hiểu chữ Nôm để đọc lại sách xưa và diễn dịch, chú giải giúp người ngày nay hiểu văn học và văn hóa của mình thời tổ tiên trước đây. Theo ông, hiện nay trong thư viện của Viện Khoa Học Xã Hội ở Hà Nội còn giữ được 1148 quyển sách bằng chữ Nôm mà chưa được khai thác đúng mức. Ngoài ra, ông nghĩ chắc chắn còn nhiều tài liệu chữ Nôm trong dân gian và ở rải rác trong các thư viện ngoại quốc như Anh, Pháp, Nhựt, Tàu, Đại Hàn…

Đúng như ông nghĩ, riêng ở thư viện quốc gia Pháp, thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ Paris còn giữ một số lớn tài liệu bằng chữ Nôm. Có nhiều tài liệu chưa được khai thác.
 

Cách nay vài năm, cứ mỗi năm vào mùa thu, Giáo sư Hán Nôm Nguyễn văn Sâm vẫn đều đặn qua Paris một tháng, dành nhiều thì giờ vào thư viện tìm những bản văn Nôm của tác giả xứ Nam kỳ để diễn dịch ra quốc ngữ với thêm chú giải. Cách nay hai năm, vì không kịp đọc tại chỗ, ông in lại hơn 3000 trang ôm về Huê Kỳ đọc và phiên dịch. Ông nói thấy ham quá nhưng bây nhiêu đây cũng phải mất nhiều thì giờ mới làm xong. Năm rồi ông không qua Paris được vì dịch Vũ Hán.
 

Giáo sư Nguyễn văn Sâm và chữ Nôm

Trước 30/04/75, Giáo sư Nguyễn văn Sâm dạy văn chương tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn, Đại học Vạn Hạnh, Đại học Cần Thơ...

Năm 1979, ông tỵ nạn ở Mỹ. Ông không biên khảo nữa mà viết truyện ngắn (lối 90 truyện) và làm một số bài thơ, đăng trên nhiều tạp chí của người Việt hải ngoại. Ông tâm sự «Vì những thôi thúc phải nói lên sự suy nghĩ của mình về quê hương và thân phận người Việt, ngay trên quê hương, hay lạc loài tha hương».

Gần đây, ông chọn trở về với gia tài cổ của dân tộc ở miền đất Nam kỳ bằng cách phiên âm các tuồng hát bội, truyện thơ viết bằng chữ Nôm chưa từng được phiên âm mà nguyên bản hiện còn đang nằm trong các thư viện lớn ở Paris (Theo trang P. Ký internet). Như ông vừa làm xong «Tuồng Kim Vân Kiều Nam bộ» và giới thiệu:

«Học giới để ý tới truyện Kiều đều biết tác phẩm nầy có nhiều phó phẩm, nào là tuồng hát bội Kiều, tuồng chèo Kiều, thơ Vịnh Kiều, thơ Xử Án Kiều, Kim Vân Kiều Ca, Kim Vân Kiều Diễn Ca, Túy Kiều Phú… và hàng trăm bài thơ lẩy Kiều nhiều cách ngắn dài, kể cả có người viết lại toàn thể truyện Kiều và thay những chữ ông ta cho là khó hiểu để tạo nên một bản văn Kiều mới mà ông cho rằng có tánh cách dân tộc hơn. Đặc biệt phó phẩm viết theo toàn bộ các sự kiện trong truyện Kiều bằng một thể loại văn học khác hẳn để phù hợp với sự thưởng thức của một vùng miền mới phải kể đến nhiều tuồng Kiều”.
 

Giáo sư Lê Hữu Mục, cùng dạy ở Văn Khoa với Giáo sư Nguyễn văn Sâm, cũng chuyên về Hán-Nôm. Cách nay khá lâu, ông qua Paris làm tiếp công trình phiên dịch chữ Nôm của ông Tạ Trọng Hiệp ở Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học (CNRS) bỏ dở dang vì sức khỏe.

Trước ông Tạ Trọng Hiệp là Giáo sư Hoàng Xuân Hãn.

Nay các ông Hoàng Xuân Hãn, Tạ Trọng Hiệp và Lê Hữu Mục đều đã lần lượt qua đời. Tôi chưa nghe nói ở Pháp, về ngành Hán-Nôm, có ai nối tiếp.

Ông Lê Hữu Mục nghiên cứu văn học chữ Nôm nhưng ông không mấy quan tâm tới những tài liệu cổ của các nhà văn, học giả Nam Kỳ vì ông cho không có giá trị văn chương đúng mức. Trong lúc đó ông Nguyễn văn Sâm để tâm lục tìm những bản văn chữ Nôm của tác giả Nam kỳ để phiên dịch và chú giải. Trước khối tài liệu đồ sộ còn giữ trong thư viện ở Paris, ông lo ngại không biết thời gian cho phép ông hoàn tất được tới đâu!
 

Nay, công trình biên soạn chữ Nôm xứ Nam kỳ của ông đã khá đồ sộ. Đáng khâm phục. Tên tuổi của ông nổi bật trong giới Văn học chữ Nôm là điều không ai có thể lấy làm lạ được. Những tác phẩm về chữ Nôm của ông đã in có nhiều thể loại: truyện, thơ, tuồng hát... (coi “Tuyển tập Nguyễn văn Sâm”). Những thứ này, tôi nghĩ, nếu không có Giáo sư Nguyễn văn Sâm làm, chắc tất cả cũng sẽ còn nằm yên trong các “tàng kinh các” không biết tới chừng nào? Vì không có giá trị văn chương để cho các học giả Hán Nôm để ý tới?
 

Tháng 10/2019, Giáo sư Nguyễn văn Sâm có giới thiệu nhơn buổi nói chuyện với “anh em văn nghệ sĩ tự do” ở Paris “Nữ tắc của Trương Vĩnh Ký, Phiên âm và chú giải”, 56 trang (sách biếu). Về Mỹ, năm sau, ông cho in cuốn “Tuồng Kim Vân Kiều Nam Bộ” do ông phiên âm và chú giải như những quyển khác ông đã làm.
 

Đây là một ấn bản hiếm còn giữ được ở một gia đình tư nhơn miền đồng bằng sông Cửu Long nên ở lời cuối sách, ông đã không quên tỏ lòng biết ơn người giữ sách đã có nhã ý trao lại ông quyển sách hiếm:

“Nhân đây tôi xin gởi lời cám ơn tới người đã trao đổi với tôi bản tuồng nầy mà tôi sẽ nói tên khi được chấp thuận. Những sự trao đổi tư liệu văn học nào cũng có mặt tích cực của nó. Ở xa đất nước, nếu không nhờ sự trao đổi tôi sẽ khó lòng có được những bản tuồng quí, và hôm nay quí vị đã không có quyển sách lạ đang cầm trên tay: Quyển Tuồng Kiều Nam Bộ hay tuồng Kim Vân Kiều ở Đồng Bằng Cửu Long, hay tuồng Kiều ở Miền Nam”. (Tôi muốn gọi nhiều cách để nhấn mạnh trên tính cách Miền Nam của bản tuồng).
 

Truyện Kiều của Nguyễn Du được nhiều người phiên âm, phóng tác, viết lại theo các thể loại khác nhau như Phú, Ca, Tuồng hát,… vì nó là một tuyệt tác (UNESCO chọn) và viết bằng chữ Nôm. Trong số tác giả đó có khá nhiều là người xứ Nam kỳ. Họ cũng viết lại truyện Kiều, với văn bác học của nguyên tác theo ngôn ngữ Nam kỳ, theo sở thích và sanh hoạt Nam kỳ, để họ thưởng thức, đánh giá cái hay của Truyện Kiều, theo họ!

Từ Truyện Kiều được Nguyễn Du sáng tác bằng chữ Nôm tới nay chưa có một tác phẩm nào bằng quốc ngữ mà hay bằng hoặc hay hơn. Vì người ta đã bỏ quên chữ Nôm mà dùng chữ quốc ngữ với mẫu tự La-Tinh? Nó thiếu cái hồn dân tộc?

Người nghiên cứu, phiên âm, chú giải chữ Nôm ra quốc ngữ để phổ biến là người giữ hồn dân tộc. Giữ Hồn Nước!

Giáo sư Nguyễn văn Sâm là người trong số rất hiếm quí làm công việc không còn mấy người làm này. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay tre đã già đang chờ măng mọc!
  

Ở Hà Nội có Viện Hán-Nôm, có học giả Hán-Nôm nhưng tại sao học giả Đào Duy Anh lại than trong thư viện của Viện Khoa Học Xã Hội nay còn giữ những 1148 quyển chữ Nôm chưa được khai thác vì thiếu người chuyên môn? Theo Giáo sư Lê Hữu Mục thuật lại chuyện được ông sử gia Trần văn Giàu tới nhà thăm và nài nỉ ông ở lại giảng dạy và nghiên cứu Hán-Nôm vì các nhà Hán-Nôm học của ta, theo ông Trần văn Giàu, có được mặt này thì lại mất mặt kia.

Mùa thu năm rồi, Giáo sư Nguyễn văn Sâm, trong thư thăm hỏi nhau thường lệ, báo tin ông sẽ cho ra mắt một quyển truyện Kiều mới chữ Nôm, phiên âm và chú giải, vào cuối năm. Ông ngỏ ý muốn tôi viết vài hàng về tác phẩm này của ông. Tôi vội thưa với ông là nếu viết thì tôi viết kiểu tay ngang. Ông đồng ý: “Viết kiểu nào cũng được!”

Vì ông biết tôi đúng là tay ngang nếu cầm viết.
 

Tôi hứa với ông. Vì thật lòng cảm kích tình cảm của ông dành cho tôi và nhứt là kính trọng ông ở tuổi này mà vẫn say mê làm công việc gìn giữ chữ Nôm, tức giữ Hồn Nước! Ông đã không quan tâm tới tôi sẽ viết hay dở thế nào. Miễn có chút vết tích của bạn mà thôi!

Vậy quí vị bất chợt có đọc bài viết này, xin hiểu cho tại sao nó có ở đây mà niệm tình lượng giải cho.

Trân trọng,

Paris, mùa đông 2020

Nguyễn văn Trần”

 

*

 
Nghĩa là, theo ghi nhận của TS Nguyễn Văn Trần, người duy nhất có nhiều công trình giá trị về chữ Nôm hiện nay là GS Nguyễn Văn Sâm tại Hoa Kỳ, trong khi toàn bộ nhân sự trong Viện Hán Nôm tại Hà Nội lại không chịu làm việc tích cực mà chẳng ai hiểu chính xác vì sao (theo nhận định của học giả Đào Duy Anh và sử gia Trần Văn Giàu). Nơi đây, chúng ta nói các học giả Hà Nội “không chịu làm việc tích cực mà chẳng ai hiểu chính xác vì sao” là để tránh phải suy đoán, và cũng để bày tỏ lòng tôn trọng những người tài năng về chữ Nôm ở Hà Nội nhưng không có cơ hội thuận lợi hay không được trọng dụng để làm việc.

Bây giờ, chúng ta có thể nghe trực tiếp từ Giáo sư Nguyễn Văn Sâm nói sơ lược về Tuổng Kim Vân Kiều Nam Bộ: Giáo sư Nguyễn Văn Sâm và phu nhân hôm 11/10/2021 đã tới thăm nhà báo Phan Tấn Hải, ký tặng tác phẩm mới ấn hành, nhan đề "Tuồng Kim Vân Kiều: Truyện Kiều ở Nam Kỳ Lục Tỉnh, toàn bộ ba hồi với bản Nôm."

Video sau đây dài 2:36 phút, thu hình tại tư gia của nhà báo Phan Tấn Hải tại Westminster, California, ghi lời Giáo sư Nguyễn Văn Sâm nói về tác phẩm Kim Vân Kiều Nam Bộ.

https://youtu.be/fzlQOZic-3o


Dự kiến sẽ có buổi Phát Hành Đầu Tiên và Trà Đàm ở

Viện Việt Học
15355 Brookhurst St., Suite 222,
Westminster, CA 92683, USA
Tel: 714-775-2050


vào ngày 23/10/2021 từ 10 giờ sáng tới 1 giờ trưa.

Để ký sách và trao đổi văn chương giữa các độc giả.
Kính mời quý độc giả đang cư ngụ ở Nam California tham dự.

 



Những người có khuynh hướng cực đoan trong chính kiến, dù hữu khuynh hay tả khuynh, đều có những đặc điểm giống nhau và rất khác người ôn hoà. Bài viết này tóm lược một nghiên cứu tâm lý học đăng trên Sage Journals tháng Giêng 2019. Hy vọng nó sẽ giúp ta hiểu thêm về hiện tượng tâm lý chính trị cực đoan để tránh bị khích động, đồng thời giúp ta tìm ra cách hoá giải. Xin lưu ý “hữu khuynh”và “tả khuynh” trong bài được dùng theo định nghĩa thông thường và hoàn toàn không hàm ý tốt hay xấu. Trong chính trị học, cộng đồng con người thường được chia làm ba nhóm: cấp tiến (liberal), trung hoà (moderate) và bảo thủ (conservative). Sự phân cách này phần lớn xuất phát một cách tự nhiên, nhưng nó cũng có thể được nhào nặn thêm bởi giáo dục, truyền thống, truyền thông, xã hội v.v.
nhà báo kỳ cựu Don Oberdorfer trên tờ Washington Post ngày 3/3/1987 nhấn mạnh lời tuyên bố của trưởng đoàn IRAC: “Chúng tôi (người tị nạn) vẫn bị coi là một vấn đề cần giải quyết. Nay chúng tôi nhất định sẽ góp phần vào giải pháp.”
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Chết phải là một chuyến du lịch tuyệt vời vì chưa có một ai đã trở về!(“La mort doit être un beau voyage puisque personne n'en est revenue”). Thông thường trong những dịp Tết, người đời thường chúc tụng lẫn nhau sống thọ đến trăm tuổi. Không phải ai muốn chết lúc nào là chết được đâu. Phải tới số mới chết. Trời kêu ai nấy dạ mà Sống quá thọ có tốt, có cần thiết không? Không có ai nghĩ giống ai hết. Đặt câu hỏi như trên có thể làm nhiều người cảm thấy khó chịu, nhưng đó là sự thật. Tuổi thọ (longévité) trong điều kiện sức khoẻ bình thường, không ngừng gia tăng thêm lên mãi tại các quốc gia kỹ nghệ giàu có... Sự gia tăng nầy thật ra phải được xem như là một sự kéo dài của tuổi trẻ (jeunesse) hơn là một sự kéo dài của…tuổi già (vieillesse). Tại sao chúng ta già? Tuổi thọ đến lúc nào sẽ dừng lại? Nhân loại đã đạt được đến mức nầy hay chưa?
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Vào lúc 5:00 giờ chiều Chủ Nhật 26/04/2020, Hòa Thượng Thích Phước Tịnh đã có buổi nói chuyện trên mạng lần thứ hai với nhóm Phật tử Giớ Trẻ Mây Từ, với chủ đề những điều Phật tử nên làm trong mùa đại dịch COVID-19 đang tiếp tục hoành hành.
New York bị thiệt hại nặng nề hơn bất cứ khu vực nào tại Hoa Kỳ bởi đại dịch vi khuẩn corona tính đến nay, 26 tháng 4, và ác mộng của tiểu bang vẫn còn chưa hết. Hôm Thứ Bảy, 25 tháng 4, có 5,902 người đã thử nghiệm dương tính với vi khuẩn corona, và trong khi đó là sự sút giảm từ cao điểm của tiểu bang (khi một ngày chứng kiến hơn 10,000 người thử nghiệm dương tính), tiểu bang này vẫn còn nhiều trường hợp bị lây mới hơn 25 tiểu bang đã bị trong tổng số hơn 3 tháng kể từ vụ lây lan của vi khuẩn vào Mỹ bắt đầu.
Nam Hàn tiếp tục đổ nước vào suy đoán gia tăng về sức khỏe của lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un, nói với CNN rằng ông ấy “còn sống và khỏe.” “Lập trường của chính phủ chúng tôi là vững vàng,” theo Moon Chung-in, cố vấn hàng đầu về chính sách đối ngoại cho Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-in, nói với CNN. “Kim Jong Un còn sống và khỏe. Ông ấy đã và đang ở tại khu vực Wonsan kể từ ngày 13 tháng 4. Không có biến đổi gì đáng nghi ngờ tính đến nay được phát hiện cả.”
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Hiện nay đã có 10 nước trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Úc Châu, và Canada đang bàn tính đưa đơn kiện Trung Cộng phải chịu trách nhiệm về những hành động xấu xa của họ (Chinese government to pay for their malign actions). Việc đòi bồi thường nay thực ra chỉ là con số tượng trưng vì thực tế chưa có một thống kê nào liệt ra được tổn thất về kinh tế, tài chánh, đời sống tinh thần vật chất của 210 nước đang có người bị nhiễm bệnh này lên đến bao nhiêu ngàn ngàn tỷ USD. Đó là chưa kể đến thiệt hại về nhân mạng đã trên 2 triệu 200 ngàn người đang bị bệnh và gần 200 ngàn tử vong trên thế giới. Bởi vì sự thiệt hại nhân mạng quá lớn này, không thể ước tính số tiền như thế nào mới đền bù lại được những đau thương của người thân mất người thân trong suốt hơn bốn tháng qua.
Nước Mỹ hiện nay đã có chừng 50 ngàn người chết vì đại dịch Covid-19. Dịch đến trễ hơn nhiều nơi khác, nhưng Mỹ đã nhanh chóng trở thành quốc gia với số người bị nhiễm cũng như tử vong cao nhất thế giới. Phản ứng của chính phủ Mỹ thay đổi theo đà tăng của đại dịch. Trong khoảng hai tháng, Tổng thống Trump tỏ ra lạc quan và không cho đây là nguy cơ. Đột nhiên, khi dịch đã gia tăng đến mức không chối cãi được nữa, chính phủ vội vã phản ứng. Người ta khám phá là nước Mỹ khắp nơi bị thiếu thốn trầm trọng phương tiện để chống dịch, và số người chết tăng vọt.
Hôm Thứ Bảy, nhiều người ra biển chơi, bất kể lệnh cách ly. Carrie Braun, phát ngôn nhân Ty Cảnh Sát Quận Cam, nói chỉ đóng cửa các sân đậu xe bên bãi biển, nhưng không đóng cửa các bãi biển.
Hôm Thứ Bảy, 25 tháng 4 năm 2020, nhiều tin đồn xoay quanh việc nhà độc tài Bắc Hàn Kim Jong Un đã chết hay gần chết sau cuộc giải phẫu tim, với nhiều bản tin trích thuật từ Nhật và Trung Quốc. Phó giám đốc Đài Truyền Hình Vệ Tinh Hồng Kông HKSTV, hệ thống tại Hồng Kông có trụ sở tại Bắc Kinh, cho rằng Kim đã chết, trích “nguồn tin rất chắc chắn,” và đăng tải thông tin trên ứng dụng nhắn tin Trung Quốc Weibo khiến các phương tiện truyền thông xã hội xôn xao, theo báo International Business Times tường trình cho biết.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.