Hôm nay,  

Thiền Mặc Chiếu

29/12/202119:52:00(Xem: 12217)
blank                                        
 
Thiền Mặc Chiếu
.
Thiền Sư Thánh Nghiêm
Nguyên Giác dịch
.

Dưới đây là một trình bày về Thiền Mặc Chiếu, trích dịch một phần từ cuốn Hoofprint of the Ox (Dấu Chân Trâu) của Thiền Sư Thánh Nghiêm (Sheng Yen), dựa theo bản Anh dịch của GS Dan Stevenson. Thầy Thánh Nghiêm nối pháp từ cả hai dòng Lâm Tế và Tào Động, chuyên hoằng pháp Thiền Tông với cả hai truyền thống này, có ảnh hưởng lớn ở nhiều nứơc. Năm 2000, thiền sư là một trong các diễn giả chính trong Hội Nghị Thượng Đỉnh Tôn Giáo Thiên Niên Kỷ tổ chức ở Liên Hiệp Quốc. Thầy thường mở các thiền thất dài 7 ngày ở các nước, đôi khi mở các thiền thất dài 49 ngày. Tuy chuyên dạy về Thiền Thọai Đầu và Thiền Mặc Chiếu, Thiền Sư Thánh Nghiêm lại là một giảng sư uyên bác, đa dạng và cũng là một luận sư của Tịnh Độ Tông.
 

Sinh năm 1931 ở Thượng Hải, thầy đi tu từ năm 13 tuổi ở Chùa Quảng Giáo (Guang Jiao), sau đó vào Phật Học Viện ở Tu Viện Tịnh An (Ching-an), Thượng Hải, được ảnh hưởng từ Thiền Sư Hư Vân và Pháp Sư Thái Hư. Sau gần 10 năm phải hòan tục vì chiến tranh, thầy vào tu trở lại năm 1959 tại Đài Bắc. Từ năm 1961 tới 1968, thầy nhập biệt thất ở Tu Viện Chiêu Nguyên (Chao Yuan) ở một vùng núi Đài Loan.
 

Trong khi làm giảng sư tại Tu Viện Thiện Đạo (Shan Dao) ở Đài Bắc, thầy sang Nhật Bản du học và tốt nghiệp các văn bằng Cao Học (1971) và Tiến Sĩ (1975) về văn học Phật Giáo tại Đại Học Rissho. Từng trải qua kinh nghiệm đại ngộ năm 28 tuổi, và nhiều năm sau thầy đã được các vị thầy lớn ấn khả, truyền ngọn đèn pháp: năm 1975 bởi Thiền Sư Đông Sơ (Dong Chu) của dòng Tào Động, và năm 1978 bởi Thiền Sư Linh Nguyên (Ling Yuan) của dòng Lâm Tế (Thiền Sư Linh Nguyên là một đại đệ tử của ngài Hư Vân). Thầy bắt đầu hoằng pháp sang Hoa Kỳ năm 1977; tính tới năm 2002, thầy có khỏang 3,000 thiền sinh ở Mỹ, và hơn 300,000 thiền sinh ở Đài Loan.
 

Dịch giả trân trọng cảm ơn Thiền Sư Trí Châu (Quận Cam) và quý thầy từ dòng pháp Thiền Sư Thánh Nghiêm đã hướng dẫn về một số cách phiên âm cho bài dịch sau đây về Mặc Chiếu – cốt tủy của Thiền Tào Động.
.
(Bắt đầu bản văn.)
.
Mặc chiếu là một phương pháp đơn giản, quá đơn giản, thực vậy, rằng sự đơn giản này trở thành sự khó khăn của nó. Trong cùng tận, nó là phương pháp của không-phương-pháp, trong đó học nhân buông bỏ hết mọi tìm kiếm, mọi ràng buộc gắn bó, mọi mong đợi, và chỉ việc sống Thiền một cách trực tiếp. Để thực hành mặc chiếu, hãy buông bỏ tất cả mọi việc bận rộn, mọi niệm phân biệt, và hãy tỉnh thức một cách trong trẻo lặng lẽ, chấp nhận tất cả mọi chuyện một cách đầy đủ, [cứ để] y hệt như chúng là chúng. Đừng mong đợi theo bất cứ gì, cũng đừng trụ tâm vào bất cứ gì. Hãy đơn giản để cho tâm tỉnh thức một cách tự nhiên của bạn đón nhận mọi thứ, y hệt như chúng là chúng. Đó là sự tĩnh lặng và chiếu sáng tự nhiên của Thiền. Khi có sự phân biệt và dính mắc, thì sự tĩnh lặng và chiếu sáng kỳ diệu đó bị ngăn che. Tâm vốn là bất động và vắng lặng, một cách tự nhiên, và cùng lúc đó thì tâm lại có khả năng biết một cách tròn đầy. Không cần ra sức để đánh bóng nó, hay làm nó chiếu sáng, bởi vì nó vẫn là như thế đó. Về nguyên tắc, mặc chiếu rất là đơn giản. Nhưng, bởi vì chúng ta quá phức tạp, nó trở thành một pháp môn khó khăn để tu tập. Các trở ngại lớn nhất khởi lên từ chỗ làm quá nhiều. Bởi vì tất cả chúng ta có khuynh hướng làm quá nhiều – ngay cả trong thiền định – chúng ta có thể cần phải trải qua các tu tập tư lương sơ khởi, và rồi sẽ gỡ bỏ hết [mọi pháp tu] trước khi chúng ta đơn sơ đủ để dùng tới mặc chiếu một cách hiệu qủa.
 

Ngài Hoằng Trí Chánh Giác (Hung-chih Cheng-chueh) dạy rằng thân nên ngồi một cách tĩnh lặng, và tâm nên mở ra tòan diện nhưng bất động. Xuyên qua pháp môn này, học nhân làm trong sạch tâm cho tới khi đạt được “sự trong trẻo của một hồ nước mùa thu và sáng y hệt như mặt trăng chiếu sáng trên bầu trời mùa thu.” Ngài chỉ dạy thêm nữa rằng, “Trong pháp ngồi lặng lẽ này, dù bất cứ cảnh nào xuất hiện thì tâm cũng rất là trong trẻo cho tới tòan bộ các chi tiết, nhưng mọi thứ thì tự là nơi nó nguyên thủy là, trong nơi chốn riêng của chúng. Tâm vẫn ở trong một niệm dài mười ngàn năm, nhưng không trụ vào bất kỳ hình tướng nào, bên trong hay bên ngòai.” (Hung-chih ch’an-shih kuang lu, T48)
 

Trong pháp môn mặc chiếu, chúng ta nói rằng bạn không nên sử dụng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân hay ý. Nếu bạn thấy niệm của bạn trụ vào, một cách cố ý, các cảnh [đối tượng] của việc thấy, nghe, ngửi, nếm, hay cảm thọ bất cứ thứ gì, bạn nên buông xả hết. Nhưng ngay cả thế vẫn chưa đủ. Bạn không nên dùng cái tâm lăng xăng của bạn tí nào. Bạn nên buông xả luôn mọi phân biệt, mọi mong đợi và nuối tiếc, mọi điều ưa thích và chán ghét, mọi tham vọng và mục tiêu. Bạn nên buông ngay cả cái ý nghĩ về “buông xả” nữa. Đừng nghĩ về bạn như một chúng sinh chưa giác ngộ đời thường, cũng đừng nghĩ rằng bạn phải gột rửa hết mọi phiền não và tận lực lo thành Phật. Không nên có một niệm nào về giác ngộ, không niệm nào về Thiền, không niệm nào về thành tựu hay đắc ngộ gì. Không ngay cả một niệm về nỗ lực tu tập “vô niệm” (not- thinking). Sự “lặng lẽ” trong mặc chiếu không phải là thứ lặng lẽ của đè nén hay lặng lẽ cố ý, nhưng chỉ đơn giản là buông xả và để cho mọi chuyện tự an nghỉ, để chúng là như chúng là. Chúng ta chỉ đơn giản buông xả các nỗi lo lắng trong tâm, mọi vạn duyên ràng buộc, và để tâm an hòa, xa lìa các niệm, trong chỗ không có gì để làm. Thọat tiên, điều này sẽ khó khăn. Nhưng khi bạn thiền tập sâu thêm, sự tĩnh lặng này trở thành một sự tĩnh lặng sâu thẳm, trong đó mọi phân biệt biến mất đi, và sẽ không có khác biệt nào giữa sự tĩnh lặng và sự năng động kỳ diệu. Người nào kinh nghiệm được sự tĩnh lặng thâm sâu thì sẽ cảm thấy như dường cỏ dại mọc ra từ hai mắt của mình, như dường đá tảng chặn hết hai tai của mình, như dường rêu mọc trên lưỡi mình – tất cả mọi việc chúng sinh bận rộn phức tạp đã biến mất từ lâu, để thiên nhiên hoang dại chiếm ngập cả rồi.
 

So sánh như thế không có nghĩa là nói rằng các cảm thọ không còn họat dụng nữa, rằng mắt không còn thấy, rằng lưỡi thì bất động, và rằng tai bịt hết mọi âm thanh. Nếu có chuyện như thế, thì sự tĩnh lặng trong cách tu mặc chiếu của bạn sẽ không phải là sự tĩnh lặng thâm sâu, vì tâm sẽ vẫn còn hiện ra một hình ảnh của sự im lặng và tận lực tránh né các họat động. Đó không phải sự vắng lặng hòan tòan cả tâm và thân được chỉ ra bởi sự so sánh trên. Trong sự đơn giản và vắng lặng thâm sâu – với tuyệt nhiên không có gì để làm – bạn không phải mất ý thức, nhưng thực ra thì bạn hiện hữu một cách tòan diện và tinh tế. Không có một niệm thứ nhì, tất cả mọi vật đều hiển lộ trong bạn, và [hiển lộ] bạn trong tất cả mọi vật.
 

Bạn có thể thắc mắc, làm cách nào một thiền gia đang trải qua kinh nghiệm sự tĩnh lặng thâm sâu này có gì khác hơn một vật vô tình, thí dụ như một khúc gỗ. Nó như là rằng, sẽ không có sự tỉnh thức hữu tâm nào hay là sự họat động nào. Tuy nhiên, có một dị biệt căn bản giữa sự tĩnh lặng thâm sâu của mặc chiếu, và sự lặng lẽ im im của sự không biết; và để chỉ ra dị biệt này, chúng ta đã đặt chữ “chiếu” (chao) sau chữ “mặc” (mo). Thực ra, sự tĩnh lặng không xa rời khỏi sự chiếu sáng, và sự chiếu sáng [không xa] khỏi sự tĩnh lặng. Chúng là một và là cùng một thứ. Ngay cả trứơc khi mọi niệm, và mọi liên hệ tâm thức được đặt xuống để an nghỉ, cái biết đã rất là cực kỳ trực tiếp, tinh tế, và sắc bén. Nói cách khác, cái tánh biết chiếu sáng xuất hiện không xa lìa khỏi cái tĩnh lặng thâm sâu.
 

Tại sao lại thế? Khi tâm đã lắng xuống và an tỉnh, các niệm phân biệt biến mất; khi niệm phân biệt biến mất, thì cũng biến mất luôn các hạn chế khả nghiệm của quá khứ, hiện tại và tương lai, của trong và ngòai, của cái này và cái kia, của ta và người khác. Với không còn một chỉ số nào để ghi dấu mốc sự trôi qua, thế là thời gian không có thể hiện hữu nữa. Tương tự, với không còn một biên giới lăng xăng nào giữa cái ta và người khác, giữa cái này và cái nọ, nên sẽ không còn hạn chế nào hay hệ quy chiếu nào để định nghĩa không gian nữa; do vậy việc lập biên giới không gian cũng không còn hiện hữu nữa. Cái tánh biết chiếu sáng của mặc chiếu không bị hạn chế bởi bất cứ thứ gì, bởi vì không có niệm nào về “cái tôi” hay bất cứ dính mắc nào các hình tướng, mà các hình tứơng này sẽ cách biệt tâm và môi trường. Tâm của bạn thì y hệt như một tấm gương không biên giới, mà, cho dù chính nó bất động, gương này phản chiếu mọi thứ, hệt như nó là. Không có chi tiết nào bị lọai trừ ra; không có gì bị ngăn che lại. Tấm gương và thế giới nó phản chiếu thì hòa vào nhau một cách tòan hảo như là bất khả tách biệt.
 

Ngài Hoằng Trí Chánh Giác so sánh trạng thái này như mặt hồ mùa thu, hay bầu trời mùa thu. Với khí trời mát và khô của mùa thu, hồ nước lắng đọng, trở thành rất mực tĩnh lặng và trong trẻo, tới nổi bạn có thể thấy cá lơ lửng dưới các chiều sâu; bầu trời thì rất cao và quang đãng tới nổi bạn có thể thấy các cánh chim bay dịu dàng trên bầu trời xanh. Ngài cũng so sánh nó với mặt trăng mùa thu, chiếu sáng trong trẻo và cao tới nổi mọi thứ dưới đất được chiếu sáng bởi ánh trăng dịu và mát.
 

Trong một số phương diện, mặc chiếu, với dị biệt giữa tĩnh lặng và chiếu sáng, giữa lặng lẽ và quan sát, thì gợi lại pháp môn Phật Giáo kinh điển về Chỉ Quán, đặc biệt như được công thức hóa bởi trường phái Thiên Thai Tông của Trung Quốc. Nhà sư Trí Khải (538-597) của Thiên Thai Tông viết trong cuốn Đại Chỉ Quán của sư như sau:
 

Học nhân hãy trọn lòng tin rằng tâm này chính nó là Pháp Tánh. Khi niệm khởi lên, thì đó chỉ là Pháp Tánh khởi lên. Khi niệm diệt đi, thì đó chỉ là Pháp Tánh biến đi… Trở về tận gốc, trở lại về nguồn, Pháp Tánh tự nó là sự tĩnh lặng tòan diện. Điều này gọi là “chỉ” (an định). Khi tu pháp Chỉ như cách này, tất cả hành vi niệm tưởng trứơc đó đều ngừng lại. Trong pháp tu Quán, hãy quán tưởng rằng, nguyên khởi, tâm vô minh thì đồng nhất với Pháp Tánh. Do vậy, nơi tận gốc của nó, nó là sự rỗng vắng tận nền tảng. Tòan bộ các hành vi thiện và ác khởi lên từ niệm mê vọng thì y hệt như không gian rỗng vắng. Hai pháp tu này thì tuyệt nhiên không hai. Chúng không dị biệt nhau gì cả.
 

Trong các hệ thống Phật Giáo Aán Độ cổ điển, chỉ (samatha) và quán (vipasyana) thường được tu tập riêng biệt nhau. Thí dụ, kỹ thuật như ngũ đình tâm quán (năm phương pháp làm tâm tĩnh lặng) hay là pháp quán tưởng các đĩa màu có tên là kasinas có thể được sử dụng lúc đầu để đạt sự tĩnh lặng sâu và nhập định. Một khi định lực đã có được, thì phương pháp quán có thể áp dụng, như pháp tứ niệm xứ. Xuyên qua pháp sau này [tứ niệm xứ], tuệ giải thóat được phát triển. Dần dần, sau khi sức định sâu hơn, và tuệ giác bén hơn, các chức năng này hòa vào nhau và giác ngộ sâu thẳm xảy ra. Trong Đại Thừa, điều này gọi là “chánh định, xa lìa vọng tưởng” hay là “tối thượng tam muội” (the most supreme of supra- mundane samadhis). Thành tựu như thế chỉ tới từ một sự giác ngộ tòan triệt, thâm sâu, không phải các kinh nghiệm tiểu ngộ ngắn hạn có ảnh hưởng hạn chế. Mặc dù đường đi tới pháp chánh định này thì lâu dài và chậm, nhưng một khi đạt được, thì nó không bao giờ lặn mất. Chánh định này liên tục hiển lộ trong bạn, và xuyên qua sức mạnh của trí tuệ và năng lực sinh khởi từ chánh định này, bạn có thể làm việc như một tâm nguyện bồ tát để giúp chúng sinh khác.
 

Mặc dù chúng ta đã phân biệt hai phương diện của mặc chiếu nhằm làm sáng tỏ pháp tu này, nhưng thực tế lại không chính xác khi xem mặc và chiếu như hai cái riêng biệt. Vì nếu làm thế, thì đã diễn dịch sai pháp tu đúng của mặc chiếu, cũng như là con đường đốn ngộ của Thiền. Để khởi sự, tỉnh lặng và chiếu sáng thì không thể tách rời nhau, và phải hiện hữu đồng thời: Trong cái chiếu chân thật, bạn đã buông hết việc dính mắc theo các niệm và cảm thọ, và một cách trực tiếp đón nhận vạn pháp, do vậy một cách đồng thời đưa tâm về chỗ tỉnh lặng hòan tòan. Rồi, một lần nữa, trong cái tỉnh lặng và làm an hết các niệm, thì những dính mắc vào các đối tượng và hình tướng đặc biệt đều sẽ biến mất, và tánh biết hiện ra chiếu sáng vạn pháp một cách phổ quát mà không bị ngăn che. Do vậy, bạn luôn luôn mặc và chiếu một cách đồng thời, trong một và cùng khỏanh khắc đó của cái biết.
 

Sẽ nhầm lẫn khi nghĩ rằng bạn trước tiên phải thiết lập bình an nội tâm, và chỉ lúc đó, mới ứng dụng cái tỉnh biết mở ngõ. Khi tâm trở nên sáng rõ hơn, nó trở thành rỗng hơn và lặng hơn, và khi nó trở thành rỗng hơn và lặng hơn, thì nó sáng rõ hơn. Khi bạn càng quên đi các nỗ lực giả tạo trong việc bồi đắp sự tỉnh lặng và sự chiếu sáng, thì tâm càng trở thành tỉnh lặng hơn và chiếu sáng hơn. Nhưng một điểm cũng cốt tủy tương đương để ghi nhớ về mặc chiếu lại là, theo Thiền Tông, tâm trong tự tánh đã sẵn tỉnh lặng, rỗng vắng và chiếu sáng. Nó không cần bồi đắp tí nào. Khi càng ra sức nỗ lực ngăn niệm, hay cố gắng làm sáng tâm hơn, thì chỉ chồng chất thêm mê vọng lên trên mê vọng. Nếu có bất cứ kiểu nào gọi là tu tập “một kỹ thuật” về mặc chiếu, thì nó lại không phải mặc chiếu chút nào, nhưng chỉ là dính mắc và phân biệt mạnh mẽ thôi. Đây là thông điệp chân thực của Thiền Tông về mặc chiếu: Nó là một phương pháp không phương pháp. Trong mặc chiếu, nhân (tu tập) và quả (giác ngộ) trong tận cùng thì không hề tách rời nhau.
 

Khái niệm và pháp tu mặc chiếu được mô tả khá rõ bởi hai dòng trong Kinh Kim Cương:

Hãy để tâm này sinh khởi: không trụ [tâm] vào bất cứ gì.
 

Trong tu tập mặc chiếu, bạn sẽ không nắm lấy hay trụ vào bất cứ phương diện nào của thân, tâm, hay môi trường (cảnh). Do vậy, như kinh nói, bạn chỉ đơn giản “không trụ vào bất cứ gì hết.” Nếu bạn chỉ riêng nhấn mạnh phương diện này, bạn có thể làm tâm bình lặng, và vào các tầng định tâm được mô tả trong truyền thống Nam Tông. Trong các trạng thái này, có sự tỉnh lặng sâu thẳm, nhưng lại rất ít hay không có sự chiếu sáng, vì tâm vẫn còn bị buộc vào một hình tướng cụ thể – tức là, sự tỉnh lặng (stillness) và sự vô tướng (formlessness). Khả năng của nó để chiếu sáng một cách phổ quát, hoặc khả năng biết về vạn pháp lại bị ngăn che bởi sự dính mắc vào niệm về tánh không. Trong mặc chiếu chân thực, có sự chiếu sáng thêm vào sự tỉnh lặng, một cách chính xác bởi vì tâm không an trú vào bất kỳ niệm nào về sự tỉnh lặng hay về tánh không. Thiền gia phải buông bỏ cả mọi khái niệm về nắm lấy và về không nắm lấy, về buông xả và về không buông xả: đây mới là “vô trụ” chân thực. Vô trụ không dính gì tới chuyện [các căn] bỏ chạy hay cách ly với môi trừơng [cảnh]. Nó có nghĩa là buông xả dính mắc thiên lệch, và thấy không ngăn ngại thẳng vào các vật, và đón nhận cái tòan thể, để cho bạn tỉnh biết về vạn pháp, cả trong và ngòai, y hệt như nó đang là. Vì lý do này, kinh viết, “Hãy cứ để cho tâm sinh khởi và năng động.”
 

Ngài Huệ Năng đưa ra một giải thích về pháp tu này và quan hệ của nó với Thiền trong Kinh Pháp Bảo Đàn:

“Kẻ mê chấp pháp tướng, chấp nhất hạnh tam muội, cứ nói ngồi yên chẳng động, vọng chẳng khởi nơi tâm tức là nhất hạnh tam muội; kiến giải như vậy đồng với vô tình, đó là nhân duyên chướng đạo. Thiện tri thức, đạo cần phải linh động, chớ nên làm cho ngăn trệ. Tâm chẳng trụ pháp thì đạo được linh động, tâm nếu trụ pháp, gọi là tự trói.” (Phẩm Định Huệ. Theo bản dịch Kinh Pháp Bảo Đàn của cố Hòa Thượng Duy Lực.)
 

Vào các thời kỳ đầu của pháp môn mặc chiếu, việc buông xả và chiếu sáng này là một niệm, một pháp tu tập đầy nỗ lực và ý thức – mà pháp tu tập này được sinh khởi từ khả năng phân biệt của tâm. Do vậy, người tu nương vào nó, và thực tập với các mong đợi, y hệt như bất kỳ niệm mê vọng nào. Nhưng khi pháp tu thuần thục được, thì niệm về pháp tu này biến mất. Khi chúng ta thực sự trở thành chính chúng ta, và pháp môn của không-pháp-môn thực sự trở thành không còn phương pháp nào hết, thì đó là mặc và chiếu chân thực. Tâm không còn dao động hay phân biệt nữa, và mặc chiếu trở thành tỉnh lặng và chiếu sáng. Đây là Thiền.
 

(Hết bản văn.)



Tháng Năm hằng năm được chọn là Tháng Di sản Người Mỹ gốc Á, Người bản địa Hawaii và các đảo Thái Bình Dương (AANHPI) — là dịp để tôn vinh những nền văn hóa, lịch sử cùng các đóng góp đã góp phần hình thành cộng đồng chúng ta hôm nay. Đây cũng là lúc để mỗi người suy ngẫm về những giá trị chung, thường được nuôi dưỡng qua những việc làm giản dị và ý thức trong đời sống hằng ngày.
Có hiệu lực từ ngày 30 tháng 3, các lãnh sự quán Hoa Kỳ đã mở rộng việc “kiểm tra mạng xã hội” thêm cho các đương đơn diện chiếu khán không di dân, chẳng hạn như những người phụ thuộc diện H-3 và H-4, K-1, K-2, K-3, và R-1. Những diện này được thêm vào ngoài đương đơn H-1B và người phụ thuộc của họ, cùng với những người xin chiếu khán diện F, M, và J dành cho sinh viên và khách trao đổi vốn đã phải chịu sự kiểm tra mạng xã hội.
Thị trường chứng khoán Hoa Kỳ đang cho thấy một hình ảnh gần như trái ngược với đời sống kinh tế của nhiều người Mỹ: chiến sự Hoa Kỳ–Iran làm nghẽn nguồn dầu, giá xăng tăng, lạm phát trở lại trên 3%, niềm tin của người tiêu thụ sa sút, nhưng chỉ số S&P 500 vẫn tăng 29% trong 12 tháng qua và vừa chạm mức cao kỷ lục, theo James Surowiecki viết trên The Atlantic ngày 4 tháng 5 năm 2026. Thoạt nhìn, thị trường có vẻ xa rời thực tế. Sau đợt bán tháo lúc chiến tranh bắt đầu, cổ phiếu lại tăng 13% chỉ trong 30 ngày. Dầu bị chặn, giá cả leo thang, dân chúng bi quan, nhưng giới đầu tư vẫn mua vào.
Tờ Washington Post đã đoạt Giải Pulitzer phục vụ công chúng nhờ loạt bài tường thuật về nỗ lực sâu rộng của Tổng thống Donald Trump trong nhiệm kỳ thứ hai nhằm thu nhỏ bộ máy công chức liên bang và cải tổ chính quyền qua U.S. DOGE Service, cơ quan do Elon Musk dẫn dắt. Giải phục vụ công chúng được xem là phần thưởng cao quý nhất trong hệ thống Pulitzer dành cho báo chí Hoa Kỳ. Đây là lần thứ hai trong vòng năm năm Washington Post nhận giải này. Trước đó, tờ báo từng đoạt giải phục vụ công chúng năm 2022 nhờ loạt bài về cuộc tấn công Quốc Hội ngày 6 tháng 1, 2021.
Mỹ sẽ tịch thu hộ chiếu (passport) các bậc cha/mẹ còn nợ tiền cấp dưỡng nuôi con từ 2.500 USD trở lên. Nếu người nợ đang ở ngoài nước khi hộ chiếu bị thu hồi phải tới Đại sứ quán xin giấy về Mỹ ngay
- Trump gây chiến, làm Mỹ phá sản, mọi thứ tăng giá, kinh tế Mỹ mất hơn 10.000 việc làm mỗi tháng. Cộng Hòa: Mỹ không đủ tiền để tiếp tục trợ cấp y tế cho 22 triệu người Mỹ gặp phí bảo hiểm tăng - Thượng Viện Mỹ cảm ơn TQ đã thúc giục Iran mở lại eo biển Hormuz. - Hốt bạc bằng iao dịch nội gián: hàng trăm triệu đô lệnh bán khống dầu thô bán ra hay mua vài phút trước khi Trump nói sẽ tăng dội bom, hay nói đã có thỏa thuận - Cựu nữ Dân Biểu Marjorie Taylor Greene: các lệnh bán khống dầu thô trị giá 920 triệu USD vài phút trước khi Trump tuyên bố về chiến tranh lúc nóng lúc lạnh thực chất chỉ là "Giao dịch nội gián"
Tony Thurmond là Giám đốc Sở Giáo dục Công lập tiểu bang, năm nay 57 tuổi, đã khẳng định lập trường cấp tiến qua những mục tiêu như thiết lập hệ thống y tế một pháp nhân chi trả (single-payer), xây dựng hai triệu đơn vị nhà ở vào năm 2030, và giải thể Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan (ICE).
• Phạm Thiên Thư, Người “Mang Bụi Đỏ Đi Rồi” • Ngoại Trưởng Rubio Gặp Giáo Hoàng Giữa Lúc Căng Thẳng Mỹ-Vatican • Tòa Công Bố Thư Tuyệt Mệnh Được Cho Là Của Jeffrey Epstein • Người Dùng iPhone Có Thể Nhận Đến 95 Đô La Từ Vụ Kiện Apple • Trump Xin Hoãn Thi Hành Án Vụ E. Jean Carroll • Trung Quốc Nhấn Mạnh Vấn Đề Đài Loan Trước Cuộc Gặp Trump-Tập • Hoa Kỳ Mở Lại Thủ Tục Trục Xuất Sinh Viên Columbia Ủng Hộ Palestine • New York Thông Qua Ngân Sách 268 Tỷ Đô La, Có Thuế Mới Cho Nhà Thứ Hai • Trung Quốc Tuyên Án Tử Hình Treo Hai Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng
Các sở cảnh sát địa phương đang đóng vai trò ngày càng lớn trong việc thực thi luật di trú. Tuy nhiên, việc theo dõi các hoạt động này thường gặp khó khăn. Các hồ sơ thường không đầy đủ, công bố chậm trễ hoặc, khiến các nhà báo và cộng đồng không thể có bức tranh rõ ràng về cách thức ICE hoạt động ở địa phương.
Lúc 5:00g chiều Chủ Nhật, ngày 06/09/2026 (DL), tại Westminster, CA Kính thưa Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni cùng quý Phật tử đồng hương xa gần kính mến, Nhằm mục đích duy trì ngôi Tam Bảo và hỗ trợ các hoạt động hoằng pháp, Chùa Hương Sen chúng con trân trọng kính mời Chư Tôn Thiền Đức cùng quý Phật tử khắp nơi tham dự buổi Tiệc chay văn nghệ, Ngày Hội sách Phật giáo cộng đồng và Giới thiệu Pháp bảo 140 tác phẩm của Chùa Hương Sen.
- Saudi Arabia cấm Mỹ dùng căn cứ ở đây, cấm bay trên không phận Saudi Arabia để tấn công Iran - Iran: cần hòa bình bền vững, sẽ không đầu hàng; Trump lạc quan: sắp có thỏa thuận, nếu không thì Mỹ sẽ dội bom. - Phi cơ Mỹ bắn bể bánh lái 1 tàu dầu Iran tính thoát phong tỏa
- Nữ Dân Biểu Anna Paulina Luna: hồ sơ mật nói có người hành tinh, thì Kinh Enoch của Do Thái Giáo từ trước Công Nguyên đã nói rồi. - Cựu DB Matt Gaetz, và DB Tim Burchett: hồ sơ dĩa bay UFO sẽ long trời lở đất
• Trump Đăng Nội Dung Ngụ Ý Mỹ Và Iran Sắp Đạt Thỏa Thuận Hòa Bình • Ted Tuner, Tỷ Phú Sáng Lập CNN, Người Góp Phần Thay Đổi Truyền Hình Mỹ, Qua Đời • Trump ‘TACO’ Chiến Dịch Quân Sự Chưa Đến 2 Ngày Tuổi • Đức Giáo Hoàng Leo Bác Bỏ Cáo Buộc Của Trump • Người Dùng iPhone Có Thể Nhận Tiền Bồi Thường Đến $95 • FBI Điều Tra Phóng Viên The Atlantic Viết Bài Về Chứng Nghiện Rượu Của Kash Patel • Iran Tấn Công Nhiều Tài Sản Quân Sự Mỹ Hơn Những Gì Ngũ Giác Đài Thông Báo • Bộ Trưởng Thương Mại Điều Trần Vụ Epstein • Việt Nam: Bác Sĩ Viết Chữ Xấu Trong Đơn Thuốc Có Thể Bị Phạt Đến 2 Triệu Đồng
Ứng viên Thẩm phán John Marck do Trump đề cử từ chối xác nhận là Hiến Pháp chỉ cho 2 nhiệm kỳ, nói còn tùy. Và 3 ứng viên khác cũng từ chối trả lời khẳng định
Hai Dân Biểu Liên Bang Derek Trần (Dân Chủ-CA45) và Lou Correa (Dân Chủ-CA46) đã đồng giới thiệu một Đạo Luật mang tên “Honor Our Commitment Act” (Tôn Trọng Cam Kết Của Chúng Ta). Đạo luật này ngăn chặn việc trục xuất những người tị nạn Việt Nam đến Hoa Kỳ trước ngày 12 tháng 7, 1995, thời điểm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Mỹ-Việt. Theo các dân biểu, nhóm tỵ nạn này hiện đang đối diện nguy cơ bị trục xuất dưới các chính sách di trú hà khắc của chính quyền đương nhiệm. Dân biểu Henry Johnson (Georgia-4) cùng tham gia đồng bảo trợ dự luật.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.