Hôm nay,  

Nguyễn Lương Vỵ - Vấn nạn của cái Being

10/02/202200:18:00(Xem: 17386)

blank
  

Nguyễn Lương Vỵ - Vấn nạn của cái Being
.
Trịnh Y Thư
.

Có thể nói những bài thơ trong tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ (xuất bản cuối năm 2014) là những biến tấu liên miên bất tận của cái Being.
 
Being chứ không phải đời sống như chúng ta thường hiểu. Bạn có thể gọi nó là kiếp nhân sinh, kiếp người, đời sống, hữu thể, hiện tồn, hiện hữu, hiện sinh, hiện tính, thể tính, hoặc cả chục từ ngữ khác tương tự. Nhưng xin bạn cho phép tôi gọi nó bằng cái từ tiếng Anh Being. Giản dị, hàm súc, nhưng hết sức bao la, gợi mở. Dịch sang tiếng Việt, gọi nó là “đời sống” hoặc “kiếp người” thì không đủ nghĩa, còn các thuật ngữ Hán-Việt thì bị tô đậm bởi màu sắc Triết học nặng nề, khó hiểu. Kỳ thực, dưới luồng sáng của Triết học, Being được định nghĩa là, “Một hình thái ý thức chủ quan lẫn khách quan lý giải thực tại và sự hiện hữu.” Các triết gia Hy Lạp cổ đại nói nhiều về nó. Sang thời cận, hiện đại các triết gia như Hegel, Heidegger, Sartre, v.v… cũng tốn khá nhiều giấy mực về nó. Tuy nhiên, bởi không mấy mặn mà với Triết học nên tôi thích hiểu từ Being theo cái nhìn của thi ca, một suy nghiệm giao thoa giữa thực tại và huyễn mộng, bằng một thứ ngôn ngữ trong suốt chứ không dày đặc thuật ngữ vốn rất dễ đưa người ta sa vào chốn hỏa mù. Being dưới mắt nhìn của thi ca, có lẽ đơn giản hơn và dĩ nhiên “thơ” hơn. Vì nó, Shakespeare băn khoăn, “to be or not to be”; Nguyễn Du gọi nó là “cuộc bể dâu [với] những điều trông thấy mà đau đớn lòng”; gần chúng ta hơn, Milan Kundera gọi nó là cái “hệ toán hiện sinh”; và nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, với tinh thần cụ thể Việt Nam tính, thấy gì nói đó, gọi nó là “bầu trời lộn ngược.” Hiển nhiên, các thi sĩ cũng đã tốn không ít giấy mực cho cái Being mà tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ này là tốn kém mới nhất.
   
Mở tập thơ, tôi bắt gặp ngay thái độ và câu trả lời của nhà thơ, mà tôi đặc biệt yêu thích và tâm đắc, về cái Being, “Hỏi ta vui hay buồn? Theo nắng sáng xuống phố!” (Âm cuối thu). Một thái độ trầm tĩnh thấm đẫm tinh thần Đạo giáo đông phương! Nhẹ nhàng. Phơi phới. Thong dong. Không cần đi vào những suy nghiệm siêu hình mà lại tác động mạnh mẽ lên cảm xúc, đó là lợi thế của thi ca trên Triết học. Câu thơ biểu hiện một ý thức trong sáng nắm bắt được lẽ sống thiên nhiên, thấu hiểu lẽ đời và những hữu hạn tất yếu của con người sinh sống trong đó. Sống hài hòa với những quy luật tự nhiên, sống nương theo lẽ đời chứ không chinh phục cuộc đời; sống luôn luôn khiêm tốn, chẳng bao giờ dám vọng động đến độ tự nhận mình là đỉnh cao (mà khiếp hãi nhất là đỉnh cao trí tuệ). Phải chăng đấy là triết lý sống của người xưa mà ngày nay chúng ta gần như quên bẵng?
  
Theo tôi, nhà thơ chẳng cần phải trả lời câu hỏi đời buồn hay vui, bởi cuộc truy tìm ấy là một “nghịch lý chung cuộc”, nếu tôi được phép vay mượn cụm từ này của Kundera. Một nghịch lý “hết thuốc chữa” của cái Being. Và, với Nguyễn Lương Vỵ, nó là “Dấu hỏi hẳn đã chìm trong mộ, Hay vẫn lang thang trên đường về?” hay “Dấu hỏi giữa hư không thầm nhắc, Xa lòng giấc mộng vẫn cầm canh.” (Dấu hỏi giữa hư không). Mọi suy diễn và lý giải về cái Being đều mang nặng tính chủ quan và không thực. Quan trọng hơn, nó sẽ không đi đến đâu và giải quyết được gì cho chính bản thân chúng ta, nói gì đến tha nhân. Nhà thơ là kẻ nhạy cảm với đời sống hơn ai hết, đau cái đau của nhân sinh, vui cái vui của đồng loại, nhưng đừng kêu gọi nhà thơ cho lời giải đáp của cái “hệ toán hiện sinh” kia. “Đời thơ không khổ nạn, Làm sao thấu được thơ?” (Không đề IV). Bởi nó là câu hỏi giữa hư không.
  
Không có câu trả lời nhưng cũng không tuyệt vọng. Vâng, nhà thơ chìm đắm trong nỗi buồn, từ nỗi buồn vạn cổ cho đến nỗi buồn vu vơ, nhưng nhà thơ không tuyệt vọng. Quả thế, tôi không hề tìm thấy một ý nghĩ tuyệt vọng nào trong thơ Nguyễn Lương Vỵ. Ngược lại là đằng khác. Cho dù “khổ nạn” bao nhiêu chăng nữa, nhà thơ vẫn “xanh” như trong bốn câu, “Thánh ca rồi cũng tan, Cầm dương rồi cũng tạnh. Lạnh lạnh lạnh lạnh lạnh, Thi sĩ đã về xanh.” (Không đề VIII).
 
Ugo Betti, nhà văn kiêm kịch tác gia người Ý có lần nói, “Tại bất cứ giây phút nào tôi mở mắt, tôi đều hiện hữu. Còn trước đó, trong suốt cái vô hạn, là cái gì? Thưa, không là gì cả.” Một tình cờ thật thú vị, tôi tìm thấy ý tưởng này của ông nhà văn viết cách đây gần ba phần tư thế kỷ trong mấy câu thơ sau của Nguyễn Lương Vỵ, “Mộng ngày quên hỏi lại, Chùm bông dại bay rồi. Lòng tay vắng tiếng trời, Biết làm sao gặp được. (Phải vậy không?). Sư thật là, chỉ cần sống, chỉ cần hiện hữu trên mặt thế gian này đã đủ cho nhà thơ cảm thấy toại nguyện, “Sống cho trọn kiếp, nào phải trò trẻ con.” Câu thơ của Boris Pasternak trong bài thơ bất hủ Hamlet. Tôi nghe kể hôm nhà thơ qua đời, nhà nước Xô-viết chẳng những không loan báo mà còn tìm mọi cách ngăn cản người tiễn đưa thi hào quá cố ra huyệt mộ. Thế nhưng vẫn có vài ngàn người đến dự đám tang ông. Chừng chục người ghé vai khiêng quan tài, nắp áo quan mở toang, họ vừa đi vừa cất giọng trầm hùng đọc to bài thơ Hamlet như lời tiễn đưa vĩnh biệt nhà thơ vĩ đại của dân tộc họ. Tôi chạnh nghĩ, thực ra họ đọc lời tâm nguyện sống như ông đấy. Sống cho trọn kiếp! Ôi, một điều khó khăn vô hạn!
  
Người là con vật duy nhất mà cái Being của riêng hắn là vấn nạn chỉ mình hắn giải quyết. Sự vĩ đại của con người không nằm ở những thành tựu chính trị hay kinh tế, không ở chỗ “thành công hay thành nhân,” mà chính ở chỗ hắn can đảm sống và sống cho trọn kiếp. Âm nhạc của Beethoven không ca ngợi con người anh hùng hay cá nhân thần thánh. Nó là bản tụng ca cho cái tinh thần sống như con người. Và đừng quên câu nói bất hủ của Jean-Paul Sartre, như nguyên lý thứ nhất cho Triết học Hiện sinh, “Con người chẳng là cái gì ngoài cái hắn tạo dựng nên chính hắn.”
 
*
 
Mặc dù tự nhận mình có sống trong mộng ảo trong những câu thơ sau, “Cuối đời càng lắm mộng, Đêm về mộng am mây. Ngày ủ trong lòng tay, Ngát thơm chùm bông dại.” (Phải vậy không?). Thế nhưng Nguyễn Lương Vỵ không có xu hướng quay về cõi mộng như rất nhiều nhà thơ miền Nam Việt Nam thuộc thế hệ trước. (Một hiện tượng khá lạ bởi trong một đất nước tơi bời khói lửa chiến tranh mà chỉ có vài ba thi sĩ nói về chiến tranh). Không quay về cõi mộng, Nguyễn Lương Vỵ cũng tuyệt đối rũ bỏ son phấn lụa là. Bạn sẽ không tìm thấy những thi ảnh kiểu “em buông tóc kiêu sa đi trong chiều nắng hạ” hoặc “ngón tay em dài, ngón chân em nhỏ” trong thơ Nguyễn Lương Vỵ bao giờ. Tôi mừng lắm. Bởi thú thật, tôi ớn loại thơ đó đến tận óc. Mong nó sẽ mãi mãi nằm trên kệ sách bụi bám của các thư viện thị trấn miền xa.
 
Thơ Nguyễn Lương Vỵ không son phấn lụa là nhưng nhục cảm thì có.
 
Hai bài thơ thấm đẫm nhục cảm là bài “Đêm Tượng Trưng” và bài “Hà Hà Hà!”. Thấm đẫm nhục cảm nhưng cả hai đều kết bằng tiếng cười ha hả như khoái trá, như chọc ghẹo, như đùa cợt bông phèng. Tôi lấy làm lạ. Khi đụng chạm đến vấn đề thân xác nhục cảm, người ta thường hay “chất ngất cơn say” hoặc “đưa em lên đỉnh cuộc tình” chứ ai đời lại cất tiếng cười ha hả bao giờ. Tôi có cảm tưởng đây chỉ là sự châm biếm, tự biếm thì đúng hơn, nào đó của chính nhà thơ. Nhục cảm được thăng hoa bởi tiếng cười ha hả chăng? Nhục cảm ở chừng mực nào đó biến thành sự hài hước. Nhưng cái hài hước ở đây nhất định không phải là sự trào phúng hoặc mỉa mai cay độc. Ngược lại, nó chính là tinh thần tích cực yêu cái đẹp tự nhiên. Nó được thể hiện bằng tiếng cười khoái trá. Trong thơ Nguyễn Lương Vỵ, có nhiều tiếng cười khoái trá như thế lắm. Dịch xong một câu thơ cổ, “Mừng rơn hơn trúng số” (Hương cổ thi). Hoặc tự biếm “Mừng ta ngày càng khù!” (Không đề III). Tự biếm rồi cười khà khoái trá. Một thái độ khinh mạn ư? Nhưng nếu hiểu hài hước là cảm xúc chủ quan về tính mâu thuẫn (cái nghịch lý hết thuốc chữa) của đối tượng thì chúng ta nhận thức được thái độ hết sức nhân bản của nhà nghệ sĩ. “Je suis Charlie!”
 
Đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ, bạn sẽ ít bắt gặp những thi ảnh cụ thể của thực tại. Không có những thao thức hay trăn trở (đôi khi rất sáo, giả tạo) của kiếp sống hay kiếp tha hương. Tôi không trách nhà thơ quay lưng với thực tại, bởi thực tại lắm khi chỉ là giấc mộng vô thường, đến rồi đi, tồn tại rồi tan biến, có rồi không, hoan lạc rồi đau khổ, nói chung là cái vòng luẩn quẩn vô thủy vô chung. Nó có gì đáng cho nhà thơ ca ngợi đâu. Hãy xem nó như cỏ rác, bụi bặm bám lên người trong những giây phút vô ý, sa đà, biếng nghĩ; hoặc nếu cần thì cứ đổ lỗi cho số kiếp, cho định mệnh tai ương hay quyền lực bạo tàn nào đó. Nó là phần dư thừa, những tế bào ung thư của đời sống.
 
Cái đáng ca ngợi trong thi ca chính là sự cô độc, sự hiu quạnh của kiếp người. “Đêm lạnh không tiếng dế, Chỉ có tiếng thạch sùng. Tiếng trời là tiếng gió, Cửa sổ khép hờ rung.” (Mấy bận thu phai). Hay “Người đi đâu lặng ngắt, Đời về đâu lặng thinh.” (Không đề V). Sự thinh lặng giúp nhà thơ chiêm nghiệm lẽ sống và những điều khác lạ mà có lẽ khó nhận thức nếu chung quanh là cảnh huyên náo của cuộc đời. “Khách lạ đứng nín thinh, Cúi nhặt vài âm lạ.” (Trưa ở chùa Linh Ứng).
Nguyễn Lương Vỵ bảo làm thơ tức là làm thinh. Câu “Mần thơ là mần thinh” (Tự hỏi tự đáp), như một lời tuyên ngôn cho việc làm thơ của mình, láy đi láy lại như một điệp khúc trong tập thơ. Nó đồng nghĩa với sự cô độc. Làm thơ là nói với chính mình, là độc thoại với khoảng không vô hạn trong lòng mình. Đúng ra, nghệ thuật nào cũng là sự đối diện của người nghệ sĩ với sự cô độc của chính mình. Chỉ sự cô độc mới cho người nghệ sĩ tìm ra cảm hứng sáng tạo, cho “Chữ reo xanh ý tứ, Sắc màu ứa vó câu.” (Không đề IX). Trăm năm trong cõi người ta là Trăm năm hiu quạnh. Hoặc như Octavio Paz, nhà thơ lớn nhất của nền thi ca Mexico thời hiện đại nhận định trong cuốn The Labyrinth of Solitude, “Sự hiu quạnh là cái gì sâu thẳm nhất của kiếp người. Con người là sinh vật duy nhất biết mình cô đơn.”
 
Tôi yêu thích những bài “Không Đề” trong tập thơ Năm Chữ Ngàn Câu này, nhất là bài Không Đề IV đề tặng nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh. Nó gói ghém cái nhìn của nhà thơ về nhà thơ. Như trả lời câu hỏi, “Nhà thơ, mi là ai?” Có những câu khá cường điệu trong bài thơ như, “Đời thơ không lời đáp, Tự móc mắt moi tim.” Sự cường điệu có lẽ là cần thiết như một hình thức biểu đạt, nhưng tựu trung, nó vẫn khẳng định thi sĩ luôn luôn là kẻ cô đơn. “Đời thơ không quán xá, Chữ buốt giá tuỷ trời.”
 
Mô-típ huyết-âm, âm-huyết xuất hiện như nốt nhạc láy rền vang động trong thơ Nguyễn Lương Vỵ. Chúng hiện hữu như một ám ảnh khôn nguôi, quay về mãi, mỗi lần với một ý nghĩa khác nhau, và tất cả những ý nghĩa khác nhau đó tuôn chảy qua cụm từ như dòng nước tuôn chảy qua lòng sông. Tôi muốn gọi chúng là lòng sông của Heraclitus. (“Bạn không thể bước hai lần xuống cùng một dòng sông”). Tôi không rõ lắm hiệu ứng thi ca của các cụm từ đó khi xuất hiện trong những bài thơ mà đôi khi hiện ra như tiếng kêu tắc nghẹn, ngậm ngùi. Chỉ thấy bàng bạc một cảm xúc mơ hồ dấy lên trong tâm tưởng chảy qua dòng sông này có một dòng sông khác; dòng sông với ý nghĩa mới và những ý nghĩa cũ cộng hưởng, hòa nhập vào nhau. Cuộc nghiệm sinh mỗi lần vang lên là một lần hòa nhập vào nhau khiến bản hòa âm đời sống càng thêm phong phú.
 
Ít thấy những thi ảnh cụ thể trong thơ Nguyễn Lương Vỵ, và nếu có thì nó mang hơi hướm cổ điển như những câu sau trong bài Âm cuối thu, “Chiêm bao màu nắng lụa, Hửng sáng ửng một đoá. Cúc vàng đang ngậm sương, Tóc bạc vừa níu gió.” Cú điệu, nhạc tính trong thơ đều đều, êm nhẹ, đa phần là thuận âm, bởi hầu hết là thơ năm chữ niêm luật chỉn chu. Đọc tập thơ, thú thật có lúc tôi muốn tìm một nốt nhạc nghịch âm nào đó, và mặc dù trước khi gấp sách, tôi bắt gặp vài ba bài thơ xuôi và thơ tự do, nhưng nhạc tính của những bài thơ đó vẫn không thoát khỏi sự êm dịu cố hữu của thuận âm. Bạn cũng sẽ thất vọng nếu bạn tìm kiếm sự khai phá (hoặc đột phá, bứt phá, công phá, nếu muốn nói theo ngôn ngữ thời thượng) trong thơ Nguyễn Lương Vỵ. Không có những thử nghiệm mới lạ hoặc những hình thức làm dáng kiêu kỳ. Không có những kiểu vắt dòng ngược ngạo hay những ký hiệu gạch ngang gạch chéo ngớ ngẩn như thơ của nhiều nhà thơ ngày nay. Không có những thi ảnh trừu tượng, bí hiểm, làm dáng. Thơ Nguyễn Lương Vỵ chủ về ý nghĩa và nghệ thuật phối từ. Nhà thơ cẩn trọng với chữ nghĩa vốn là truyền thống của thi ca Việt Nam từ thời Trung đại. Đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ, tôi ít bắt gặp những từ hào nhoáng, nuột nà. Thế nhưng, nhờ tài năng và một tâm hồn yêu thơ cao độ, Nguyễn Lương Vỵ đã khéo léo sắp đặt những từ tưởng là tầm thường như hòn sỏi bên cạnh nhau để biến chúng thành chuỗi ngọc sáng ngời.
 
Đọc xong tập thơ của Nguyễn Lương Vỵ, nếu có kẻ hỏi tôi đời buồn hay vui thì tôi sẽ trả lời kẻ ấy bằng câu thơ “Theo nắng sáng xuống phố!” rồi thản nhiên nhìn cái Being chảy trôi trước mắt.

.
GHI CHÚ:
​Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ sinh ngày 9/5/1952 tại Quán Rường, Tam Kỳ, Quảng Nam. Từ trần ngày 18/2/2021 tại Quận Cam, California. Nguyễn Lương Vỵ nổi tiếng trong giới văn học Miễn Nam VN từ 1969, khi còn là học sinh trung học. Ông sáng tác đa dạng, nổi bật với văn phong riêng biệt, xuất sắc trong cả thơ đời và thơ đạo.
.
Tác phẩm đã in của Nguyễn Lương Vỵ:
. Âm Vang Và Sắc Màu (NXB Trẻ, Sài Gòn, 1991);
. Phương Ý (NXB Thanh Niên, Sài Gòn, 2000);
. Hòa Âm Âm Âm Âm… (NXB Thư Ấn Quán, New Jersey, 2007);
. Huyết Âm (NXB Q&P Production, California, 2008);
. Tinh Âm (NXB Q&P Production, California, 2010);
. Bốn Câu Thất Huyền Âm (NXB Q&P, Production, California, 2011);
. Tám Câu Lục Huyền Âm (NXB Q&P Production, California, 2013);
. Năm Chữ Năm Câu (NXB Q&P Production, California, 01.2014);
. Năm Chữ Ngàn Câu (NXB Q&P Production, California, 12.2014);
. Tuyển Tập Thơ 45 Năm (1969 – 2014) (NXB Sống, Q&P Production, California, 2015).
. Tuyển Tập Thơ 50 Năm (1969-2019) (Văn Học Press, Q&P Production, California, 2020).
.
.

Mỗi chương sách hy vọng là một con đường trở về—trở về với hơi thở, với sự dịu dàng của lòng từ bi, với sự sáng suốt trong việc nhìn và nghe, trở về với những lời dạy của Đức Phật; trở về với tâm tĩnh lặng tựa tấm gương phản chiếu, hiển lộ khi ta ngồi bích quán mà Tổ Bồ Đề Đạt Ma từng mô tả; và trở về với sự thảnh thơi, giản dị mà vua Trần Nhân Tông từng ca ngợi. || Each chapter, hopefully, is a path of return—a return to the breath, to the tenderness of loving-kindness, to the clarity of seeing and hearing, to the Buddha's teachings, to the still mirror-mind manifested while gazing at the wall that Bodhidharma described, and to the ease and simplicity praised by Trần Nhân Tông.
Trump xù tiền thưởng 50 triệu đô, bất kể các mật báo viên giúp cho tin để biệt kích Mỹ bắt cóc Maduro đang bị cảnh sát Venezuela truy nã cùng với vợ con họ
- Mỹ rút 5.000 quân khỏi Đức, căng thẳng với Đức gia tăng. - Hàng chục thành phố Mỹ biểu tình nhân Ngày Quốc tế Lao động. - Iran – Mỹ bế tắc, đề xuất hòa bình bị bác bỏ. - Mỹ cảnh báo trừng phạt tàu biển trả phí cho Iran để qua eo biển Hormuz. - RSF: Việt Nam xếp hạng 174/180 về tự do báo chí năm 2026. - Nạn nhân đầu tiên của cuộc khủng hoảng dầu mỏ: Spirit Airlines ngừng hoạt động. - AI có thể phát hiện ung thư tuyến tụy sớm tới 3 năm trước khi có triệu chứng.
• Mặc Áo Thun Hay Đội Nón “8647” Có Tội Không? • Trump Ký Luật Mở Lại Phần Lớn Bộ Nội An • Chính Quyền Trump Nói Chiến Cuộc Với Iran Đã “Chấm Dứt” Ngay Trước Hạn 60 Ngày • Chính Quyền Trump Kháng Cáo Lệnh Ngăn Cắt Giảm Khuyến Cáo Chích Ngừa Trẻ Em • Trump Ký Sắc Lệnh Mở Rộng Tiết Kiệm Hưu Trí Cho Người Không Có 401(k) • Giá Nhà Giảm Tại Hàng Chục Thành Phố Lớn Ở Hoa Kỳ • Cổng Thông Tin Medicare Làm Lộ Số An Sinh Xã Hội Của Bác Sĩ • Người Mỹ Gốc Á Là Nhóm Chủng Tộc Lo Âu Nhất Nước Mỹ • Đồng Coin Trump Khiến Người Ủng Hộ Mất Hơn 4 Tỉ Mỹ Kim? • Ứng Cử Viên Cộng Hòa Ở Oklahoma Được Tìm Thấy Chết Trong Xe Tải • Ghislaine Maxwell Bị Nghi Vẫn Điều Hành Diễn Đàn Tin Tức Reddit Từ Trong Tù • Nợ Công Hoa Kỳ Lần Đầu Tiên Vượt Sản Lượng Kinh Tế Cả Năm
Vào ngày 27 tháng 3 năm 2026, Bộ Lao động Hoa Kỳ (DOL) đã công bố một luật đề xuất có thể định hình lại đáng kể các yêu cầu về mức lương thông dụng đối với các chương trình H-1B, PERM và các chương trình liên quan, cũng như hồ sơ diện không di dân E-3. Luật này sẽ nâng mức lương tối thiểu mà người sử dụng lao động phải trả để bảo lãnh cho người lao động diện H-1B và thẻ xanh dựa trên việc làm. DOL cho biết những thay đổi này nhằm phản ánh tốt hơn mức lương được trả cho những người lao động Hoa Kỳ làm công việc tương tự, và nhằm giảm thiểu khả năng bị cắt giảm tiền lương.
Ngày bầu cử sơ bộ 2 tháng 6 năm 2025 đang đến gần. Đối với những cư dân Quận Cam chọn phương pháp bầu qua thư, phiếu bầu sẽ được gởi tới bắt đầu từ ngày 4 tháng 5. Gọi là “bầu cử sơ bộ”, nhưng có rất nhiều chức vụ quan trọng đối với cuộc sống hằng ngày của người dân được quyết định ngay trong kỳ bầu cử này, không đợi đến bầu cử giữa kỳ vào tháng 11 tới. Một trong những vị trí đó là chiếc ghế Thẩm Phán Tòa án Thượng thẩm Quận Cam (Seat #13). Ông Robert Mestman là một trong những ứng cử viên cho chức vụ này, đã gặp gỡ Việt Báo để nói về sự quan trọng của vai trò thẩm phán Quận Cam và mục đích tranh cử của mình.
Những người vận động cho biện pháp đánh thuế một lần vào giới tỷ phú California cho biết họ đã thu đủ chữ ký để đưa vấn đề này lên lá phiếu tháng Mười Một, mở ra một cuộc tranh luận lớn giữa nghiệp đoàn, giới kỹ nghệ Silicon Valley và Thống đốc Gavin Newsom, theo Nick Robins-Early và hãng tin, đăng trên The Guardian ngày 27 tháng 4, 2026. Chiến dịch này do nghiệp đoàn Service Employees International Union-United Healthcare Workers West bảo trợ. Theo thông báo của tổ chức, ban vận động đã thu hơn 1.5 triệu chữ ký, vượt xa mức 870,000 chữ ký cần thiết để biện pháp được đưa ra cho cử tri quyết định.
Theo Maureen Groppe của USA Today và số thăm dò mới của Marquette Law School Poll, công bố ngày 23 tháng 4, 2026, đa số người Mỹ cho rằng Tối Cao Pháp Viện đang tránh đưa ra những phán quyết có thể khiến Tổng thống Donald Trump không tuân hành, dù tòa vừa bác phần lớn chính sách thuế quan của ông hồi tháng Hai. Bản thăm dò của Marquette, thực hiện từ ngày 8 đến 16 tháng 4 với 982 người trưởng thành trên toàn quốc, cho thấy 66% người được hỏi ủng hộ phán quyết ngày 20 tháng 2 của Tối Cao Pháp Viện, theo đó Trump không có thẩm quyền áp đặt các sắc thuế rộng lớn dựa trên Đạo Luật Quyền Hạn Kinh Tế Khẩn Cấp Quốc Tế (IEEPA). Tuy vậy, 57% vẫn nói tòa đang cố tránh những phán quyết mà Trump có thể từ chối tuân theo. Tỷ lệ này không đổi so với cuộc thăm dò hồi tháng Giêng.
Năm 2026 có thể là năm cuối cùng ở Anh mà một người tròn 18 tuổi còn được mua một gói thuốc lá hợp pháp. Từ những người sinh năm 2009 trở về sau, nếu luật mới có hiệu lực, họ sẽ bị cấm mua thuốc lá suốt đời, trong nỗ lực xây dựng một “thế hệ không khói thuốc”. Đầu tuần qua, cả Hạ viện và Thượng viện Anh đã thông qua các sửa đổi cuối cùng của Dự luật Thuốc lá và Thuốc lá điện tử (Tobacco and Vapes Bill), trong đó cấm vĩnh viễn việc bán thuốc lá cho người sinh từ ngày 1.1.2009 trở đi. Luật sẽ áp dụng trên toàn Vương quốc Anh: Anh, Scotland, Wales và Bắc Ireland.
Một nghiên cứu vừa công bố cho thấy phần lớn những cam kết “bảo vệ môi trường” của các công ty thịt và sữa thực chất chỉ nhằm đánh bóng hình ảnh. Ngành thịt và sữa là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất. Việc sản xuất thịt chiếm khoảng 57% lượng phát thải trong lĩnh vực thực phẩm toàn cầu, còn ngành sữa đóng góp thêm khoảng 4%. Riêng năm 2023, năm công ty lớn nhất trong ngành đã thải ra khoảng 496 triệu tấn khí nhà kính—nhiều hơn cả một số tập đoàn dầu khí lớn. Theo nghiên cứu đăng trên tạp chí PLOS Climate, các nhà khoa học đã xem xét 1.233 tuyên bố về môi trường của 33 công ty trong giai đoạn 2021–2024. Kết quả cho thấy 98% trong số này có dấu hiệu gây hiểu lầm hoặc nói quá về mức độ bảo vệ môi trường.
Bản tin Reuters cho biết: Mỹ xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia đáng quan ngại hàng đầu về quyền sở hữu trí tuệ. Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR: U.S. Trade Representative) đã xác định Việt Nam là quốc gia đáng quan ngại hàng đầu, hay còn gọi là "Quốc gia Nước ngoài Ưu tiên" (Priority Foreign Country), về vấn đề quyền sở hữu trí tuệ trong một báo cáo thường niên được công bố vào hôm thứ Năm; việc này làm dấy lên khả năng về một cuộc điều tra thương mại mới đối với Việt Nam.
Hạ Viện Hoa Kỳ đã thông qua dự luật tài trợ phần lớn hoạt động của Bộ Nội An, chấm dứt tình trạng đóng cửa kéo dài tại nhiều đơn vị của cơ quan này, sau khi Bạch Ốc cảnh cáo ngân khoản khẩn cấp dùng để trả lương nhân viên có thể cạn từ tuần tới.
Chúng ta thỉnh thoảng lại gặp một số cuộc thảo luận, tưởng chừng như rất mới, nhưng thực ra chỉ là các đề tài rất xa xưa. Có một số vị tăng, ni ưa thích vào nơi góc rừng, ven núi để sống lặng lẽ; chư tổ ngày xưa cũng rất nhiều vị làm như thế, và Đức Phật cũng từng khuyên dạy như thế. Mặt khác, có nhiều vị tăng, ni chọn thái độ vào đời, xây chùa, sống giữa phố chợ để tìm cơ duyên thuyết pháp cho chúng sinh; chư tổ ngày xưa cũng có nhiều vị từng làm như thế, và Đức Phật cũng từng khuyên dạy như thế. Hai lựa chọn không trái nghịch nhau, nếu tứ chúng tăng, ni và cư sĩ đều tu trì giới, định, tuệ.
Gió Kè Sông Sàigon Xích sắt nó lăn trên bờ sông Sài Gòn lồng lộng gió Xích sắt nó nghiến vào chỗ hai ta ngồi với nhau đêm qua Lục bình quấn quýt trôi trong đêm như đôi ta sợ lạc dòng Sao mình lại chọn chỗ này để ngồi hay còn chuyện gì khác
• Cộng Đồng Người Việt Khắp Nơi Tưởng Niệm 51 • Kinh Tế Mỹ Tăng 2% Đầu Năm 2026, Nhưng Lạm Phát Lên Mức Cao Nhất 3 Năm • Hegseth Đối Mặt Thêm Một Ngày Bị Chất Vấn Về Cuộc Chiến Với Iran • Louisiana Dự Định Hoãn Bầu Cử Sơ Bộ Hạ Viện Sau Phán Quyết Tối Cao Pháp Viện • Thống Đốc Janet Mills Rút Khỏi Cuộc Đua Thượng Viện Maine, Mở Đường Cho Platner • Tòa Bác Đơn Xin Xử Lại Vụ Trump-Carroll, Trump Vẫn Phải Bồi Thường 83 Triệu Mỹ Kim • Lãnh Tụ Tối Cao Iran Cam Kết Bảo Vệ Năng Lực Hạt Nhân Và Hỏa Tiễn Giữa Lúc Giá Dầu Tăng Vọt • Dự Luật Lưỡng Đảng Nhằm Cấm Xe Và Phụ Tùng Trung Quốc • Florida Thông Qua Bản Đồ Bầu Cử Mới, Tạo Thêm 4 Ghế Thiên Về Cộng Hòa • Uber Ra Mắt Dịch Vụ Đặt Khách Sạn, Nhà Nghỉ Dưỡng Trong Ứng Dụng • CDC Cảnh Báo Sẽ Có Thêm Ca Sởi Tại Mỹ Trong Mùa Du Lịch Sắp Tới • Mỹ Sẽ Bác Chiếu Khán Với Người Nói Sợ Bị Bách Hại Khi Về Nước • Hàn Quốc: Tòa Phúc Thẩm Kết Án Cựu Tổng Thống Yoon 7 Năm Tù • Thiếu Niên Pháp Bị Truy Tố Tại Singapore Vì Đoạn Video Liếm Ống Hút Ở M
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.