Hôm nay,  

Mưa Thuận Thành

18/02/202200:00:00(Xem: 5844)

 

Hoang-cam-1

 

Tôi có thể giữ được chủ quan về Mưa Thuận Thành1 hay không, sau tất cả những huyền thoại đã nghe về Hoàng Cầm? Ông là tác giả của Về Kinh Bắc2, tập thơ cho đến bây giờ vẫn tiếp tục mang vầng hào quang riêng của những tác phẩm nằm lâu trong ngăn kéo mà chỉ cái tên của nó đã hứa hẹn, và hơn cả hứa hẹn: đã thiết lập hẳn một không gian tinh thần đặc trưng, là điều mà đa số các tập thơ hiện nay không làm nổi. Nhiều người sành điệu rỉ tai nhau, rằng ông là một trong số hiếm hoi những thi sĩ thực thụ còn tồn tại. Tên ông, ngay sinh thời, dường như đã được nối vào danh sách không dài lắm của những tên tuổi được mụ thời gian tính khí rất thất thường đồng ý lưu lại. Nhưng tác phẩm của Hoàng Cầm lại đến với công chúng muộn mằn, và phải chở trên lưng một quá khứ nguy hiểm. Nguy hiểm cho chính ông đã đành, cho người đọc cũng nguy hiểm chẳng kém. Tôi có giữ được lòng mình, hay cũng vì đủ thứ lý do nằm ngoài bản thân tác phẩm mà phải chi ra một vài món tình cảm và nhận thức nào đó cho những huyền thoại ấy, cho quá khứ ấy? Nguy cơ là lớn. Nhưng tôi hy vọng vào khoảng cách giữa các thế hệ. Hoàng Cầm và tôi là người cùng thời, nhưng ông có trước tôi một thời đại không lặp lại nữa, hay dùng chữ của ông: một gia phả tinh thần mà dù đã được rũ bụi thì tôi cũng không thể đơn giản làm quen.

Trước ông ít lâu, những người trẻ tuổi đang háo hức nhóm dậy một cuộc cách mệnh về thi ca đã tấn công không thương tiếc kể cả thi sĩ sáng danh Tản Đà, người đại biểu chính thức cho nền thơ cũ3, nhân danh một hồn thơ mới của một thời đại mới, bất chấp ngọn roi quật lại cũng phũ phàng của một chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng đầy uy tín. Đã qua lâu rồi cuộc nội chiến vĩ đại, kéo theo những hậu quả ăn chặt vào lòng ngôn ngữ Việt và chiếm một vị trí có thể gọi là bành trướng trong lịch sử thơ Việt ấy. Những người trẻ tuổi của các thế hệ tiếp theo không khởi xướng – hoặc không có cơ hội khởi xướng – một phong trào thơ ca nào tương tự về tầm vóc như thế nữa. Chúng ta đành ghi nhận tính khoan dung giữa các trào lưu và phong cách trong lịch sử thơ Việt từ đó đến nay, nếu quả thật nửa thế kỷ qua thơ Việt – ở miền Bắc trước và ở cả nước sau thống nhất – đã có nhiều hơn là một trào lưu duy nhất, một phong cách duy nhất. Tuy nhiên, khoảng cách giữa các thế hệ vẫn có thật, và hơn nữa: khoảng cách giữa các thời đại.
 
Vậy thì trước hết, tôi thấy Hoàng Cầm đẹp và xa cách. Thật lạ lùng, thực ra hầu hết những gì tạm gọi là chất liệu làm nên thế giới thơ ông đều còn nguyên, thực ra không xa vời, không siêu nhiên hoang đường gì hết, mà hồn thơ ông vẫn là một người khách xa, không dễ cho tôi bày tỏ đúng cách lòng trân trọng, chứ chưa nói đến việc cởi mở tâm tình. Trong khi đó, chẳng hạn cái thế giới Chiêm Thành mộng mị ma ảo của họ Chế đã điêu tàn từ lâu, nhưng Chế Lan Viên thuở ấy với tôi lại là gần gũi. Không phải là vấn đề ngôn ngữ, dù Hoàng Cầm có một hệ lời tinh vi và lắt léo, đôi khi lắt léo tới mức người biết đọc thơ ông cũng không nhất thiết phát hiện ra những lỗi in sai trầm trọng, vì cái lý thông thường của các con chữ, cái lý của một nghĩa gói trong một chữ, ở trường hợp ông rất nhiều khi chẳng giúp được gì. Cái hệ lời ới hời vi vút sấp ngửa khép nép nghiêng ngửa mê và tê tê vời vợi ấy lại đi đôi với một âm vận rất riêng, dường như đã được gọt giũa tính toán cho không còn một chút ngẫu nhiên nào lọt lưới, đồng thời cũng dường như chỉ cảnh vẻ thế thôi, chẳng mấy bận tâm, nên lắm chỗ cứ ngang phứa lên, phá kỷ lục của cả những tay chơi ngang thượng thặng, nhưng khác xa loại thơ xuôi tai, loại thơ có đổi thanh đổi vận, có xuống hàng và có thu xếp hòm hòm một số lượng từ ngữ nào đó cho một tiết tấu nào đó. Tất nhiên là Hoàng Cầm cầu kỳ. Đấy có vẻ như một phản ứng trước xu thế giản dị hoá, giản đơn hoá, bình dân hoá, rồi thô thiển hoá trong thơ Việt từ nhiều chục năm nay, sau khi nền thơ ca bác học đầy điển tích sâu xa và niêm luật khe khắt bị chôn bởi thơ tiền chiến, rồi đến lượt mình, thơ tiền chiến lại bị lấp đến thắt lưng bởi thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa. Bất kỳ câu nào của ông cũng tiêu tao yểu điệu, tuy nhiều chỗ chỉ là một kiểu chơi không thấm thía và thuyết phục lắm, không làm người đọc bàng hoàng bởi một sự phi thường nào đó phát lộ qua vài con chữ, một kiểu chơi thường gặp ở những nghệ sĩ không nhất thiết chủ trương nghệ thuật buộc phải tải một cái gì đó ngoài chính nó và đương nhiên, người làm ra nó: 
 
Đón chị hồn chênh/lệch bóng đêm... 
Vùi trong trắng-xoá vĩnh hằng thơ ngây... 
Ở Yên Kỳ sao con vẫn thiếu/Một nơi nằm yên/Mấy kỳ nguôi quên
...

Và cũng không phải cái thường được gọi một cách bí ẩn và hàm hồ là những ẩn ức nào đó ở Hoàng Cầm. Xem ra đấy có vẻ như một liên hệ dễ dãi với quê hương Kinh Bắc của ông. Như đã nói, thực ra Kinh Bắc ấy, với những chùa chiền hội hè lăng miếu dân ca huyền thoại và những người nam người nữ tương đối rụt rè trong nhục cảm, không xa lạ gì với phần đông người Việt còn sống đến hết thế kỷ hai mươi này. Những sản phẩm tinh thần thuần túy thành phố lớn chưa thống trị chúng ta. Còn đô thị cổ với không khí đặc trưng của nó như trong thơ Hoàng Cầm, chứ không phải làng quê Việt Nam truyền thống, thì chưa lùi xa vào dĩ vãng đến thế. Vậy mà sao ông vẫn mang một vẻ đẹp xa cách, mặc dù ba phần tư Mưa Thuận Thành được viết trong thời gian gần đây, có bài thậm chí cuối năm ngoái.

Hoàng Cầm không phải một thi sĩ thời thế để người đọc có thể tìm kiếm tức thì sự cảm thông gần gũi qua những bày tỏ tâm huyết về xã hội và cuộc đời. Ông không đơn giản tới mức cứ đau đời từ trang này sang trang khác. Ông cũng không chỉ bảo cho ai, rằng thực ra cái Đẹp trốn ở đâu. Không hùng tráng, không khắc nghiệt, không cười cợt, rất ít triết lý, không có chính kiến. Song thật dễ chịu khi thi sĩ không nhảy bổ ra từ mỗi góc thơ để thét vào mặt tôi hoặc thầm thì sâu sắc vào tai tôi, rằng cuộc đời thì đầy rẫy điều đáng phàn nàn, kết cục chỉ riêng tác giả là biết đau đớn, hoặc căng thẳng hơn: biết đau đớn một cách thẩm mĩ nhất. Không như vậy. Thế giới tình cảm của Hoàng Cầm trong Mưa Thuận Thành, dù gồm nhiều mảng rất khác nhau, chỉ xót xa, phiền muộn, yểu điệu, yếu ớt, tinh vi, nhiều mặc cảm, nhiều nữ tính. Có một cậu thiếu niên cầm lá diêu bông, lá hy vọng hờ, lá hư không, đi suốt cuộc đời thơ ông, cậu thiếu niên xưng Em, em đứng nhìn theo, em gọi đôi cho một đời lẽo đẽo cô đơn đa tình, dẫu sau này, cũng trong cùng một tập thơ, ngôi thứ và các đại từ nhân xưng có được phân bổ lại, phù hợp với các quy ước chung hơn. Ở Hoàng Cầm không có dấu hiệu gì của phản kháng, tức giận, bùng nổ, hiếu chiến. Trí thông minh không được huy động để đối phó với những nỗi buồn. Bản năng cũng được kìm nén. Chỉ êm dịu một lẽ chấp nhận thoáng chút xót xa. Thế giới ấy, tôi khó chia sẻ.

Điều duy nhất có thể giúp tôi cắt nghĩa câu hỏi nêu ở phần trên là trường liên tưởng rất đặc trưng Hoàng Cầm. Em thì Em ngắt quãng tân hôn/Theo chị lùa mưa đuổi nắng buồn/ Hai đứa lung linh lơi yếm áo/Thuyền trăng dềnh/sã cánh cô đơn... Với tôi, những lung linh lơi, trăng dềnh, sã cánh cô đơn, biếc thời gian, cõi mưa nhung, sạm màu cô đơn, điệu kèn hư vô... là những thứ không còn mấy sức gợi cảm. Chúng đã mất tia sáng tạo loé lên ở một thuở ban đầu nào đó từ lâu. Nhiều câu thơ khác của ông cũng đứng chênh vênh giữa ranh giới của khám phá và sáo mòn, làm đau tim và đau đầu chính độc giả của riêng ông, thậm chí làm những người ngưỡng mộ ông vô điều kiện có thể rối loạn khả năng cảm thụ: Luỹ tre gầy nhuốm sương... Nến khuya loang vũng máu... Chuông sớm có nghiêng về mộng cũ..., rồi khói tím, hương tím, hoa tím, bóng tím, chuông buông tím... Những tín hiệu đó xa lạ với lớp trẻ ngày nay, vẫn hiếu kỳ như mọi lớp trẻ, nhưng ưa tốc độc cao, thích sòng phẳng, chuộng hiệu quả và ghét mùi mẫn. Lần đầu đọc thơ ông, tôi hơi bối rối trước những từ ngữ không ngờ có thể đặt cạnh nhau, những hình ảnh không ngờ có thể tiếp nối nhau để xuất hiện những thi tứ không ngờ và một nhạc điệu không ngờ. Tôi không bắt được cái cơ chế hoạt động trong ông để sản sinh ra những điều ấy. Tiếp tục đọc ông, tôi vẫn bối rối, nhưng lần này vì không dám chắc tất cả những thứ độc đáo bất ngờ đó có được hình thành trên cơ sở của một trường liên tưởng khác thường, với khả năng hấp thụ và đàn hồi lớn, hay một phần đáng kể nào đó có thể chỉ là một lối chơi công phu, quá công phu nữa so với hiệu quả, vì rất có thể người chơi đã quan niệm hiệu quả theo cách khe khắt nhất của riêng mình. Nếu quả như vậy, vẻ đẹp xa cách của ông sẽ được chiêm ngưỡng như người ta thường chiêm ngưỡng các vị cao thủ miên man bên những ván cờ mà đường đi nước bước ít ai có đủ tâm trí và thời gian để hiểu.

Nhưng bất kể thế nào, khả năng liên tưởng kỳ lạ của Hoàng Cầm vẫn là điều đáng quan tâm hơn cả so với những phẩm chất khác. Chính nó đã quyết định từng câu từng chữ có vị Hoàng Cầm. Ở những chỗ không có nó, tôi không nhận ra Hoàng Cầm, mặc dù cũng chẳng có gì để chê hay khen: Có nét buồn khôi nguyên/Chìm sâu vào đằng đẵng/Có tiếng ca ưu phiền/Chìm sâu vào lẳng lặng... Nhưng ngay lập tức, ở khổ sau, liên tưởng xuất hiện, tuy không xuất sắc lắm: Và dai dẳng em ơi/Là cơn say khát lá/Cứ thon mềm xanh lả/Trong men quê bồi hồi... Chính nó đã gọi về cho ông những cảm xúc đang lang thang ở đâu đó, đã xâu chuỗi những hình ảnh, đã lảy ra những từ ngữ, nhạc điệu không thể có nổi ở một trường liên tưởng nông cạn, nghèo nàn, hoặc tầm thường hơn. Không có nó thì những bài thơ tuyệt vời của ông: Cây tam cúc, Lá diêu bông, Theo đuổi, Về với ta, Chùa Hương... sẽ chỉ là những câu chuyện rời rạc, không xứng đáng với tâm trạng đằng sau. Nhưng đấy là một mạch liên tưởng khó nắm bắt, lắt léo, đột ngột nhảy cóc, đột ngột mất hút rồi lại vụt trở về như không có gì cần giải thích. Tôi có lẽ nằm ở một mạch liên tưởng khác, trong đó những đường ngang ngõ tắt của cảm xúc và suy tư vẫn được chỉ dẫn bằng một tấm bảng nào đó của lô-gích. Bởi thế, chưa tìm được đường gần gũi với thơ Hoàng Cầm hơn chăng?

Có thể say mê thơ Hoàng Cầm, cũng có thể khó chịu, hoặc cả hai một lúc. Cảm giác nước đôi ấy không có đối với số đông thi phẩm Việt Nam. Cũng có thể thuần tuý thán phục tài thơ ông, học ở ông, thậm chí chịu ảnh hưởng của ông mà vẫn giữ được một khoảng cách với ông. Ông cũng là người đi một mình, chẳng choán đầy ai, chẳng ai choán đầy ông, và bất chấp tất cả sự đa cảm đa mang, vẫn cô độc.
 
Xuân Diệu, Tố Hữu... có những bài thơ và câu thơ hay, nhưng không dựng nổi một không gian tinh thần, một vương quốc thơ dẫu bé nhỏ đến mấy nhưng là của riêng mình. Chế Lan Viên với thật nhiều hứa hẹn và ân sủng cũng chỉ chớm làm được điều ấy. Cùng với Hàn Mặc Tử, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, có thể phần nào Nguyễn Bính... trước ông, và Trần Dần, Đặng Đình Hưng, nửa sau của Lê Đạt... cùng thời, Hoàng Cầm là một trong số không nhiều lắm những người lập được cho mình một vương quốc thơ riêng, với nền móng, bản sắc và các nghi thức không thể trộn lẫn. Tập Mưa Thuận Thành không cần đề tên tác giả, vì chắc chắn đó là Hoàng Cầm.

Có những tác giả mà ai cũng kính trọng và không ai đọc, trừ những người có việc phải đọc. Có những tác giả chỉ bất tử bằng các huyền thoại bên ngoài tác phẩm. Tôi hy vọng đấy không là trường hợp Hoàng Cầm. Tác phẩm của ông càng rũ đi được những hào quang phụ càng tốt. 
– Phạm Thị Hoài
(Hà Nội, tháng Tư 1991, hiệu đính cho bản đăng trên Việt Báo tháng Hai 2022, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hoàng Cầm).
 
Chú thích:

[1]  Nhà Xuất bản Văn học, Hà Nội, 1991.
2  Về Kinh Bắc (1959-1960) được chính thức xuất bản lần đầu năm 1994, Nhà Xuất bản Văn học, Hà Nội.
3  Hoài Thanh, Một thời đại trong thi ca (1941).
Phụ lục:
 
Mưa Thuận Thành
 
Nhớ mưa Thuận Thành
Long lanh mắt ướt

Là mưa ái phi
Tơ tằm óng chuốt
Ngón tay trắng nuột
Nâng bồng Thiên Thai
Mưa chạm ngõ ngoài
Chùm cau tóc xoã
Miệng cười kẽ lá
Mưa nhoà gương soi
Phủ Chúa mưa lơi
Cung Vua mưa chơi
Lên ngôi hoàng hậu
Cứ mưa Thuận Thành
Hạt mưa chưa đậu
Vai trần Ỷ Lan
Mưa còn khép nép
Nhẹ rung tơ đàn
Lách qua cửa hẹp
Mưa càng chứa chan
Ngoài bến Luy Lâu
Tóc mưa nghiêng đầu
Vành khăn lỏng lẻo
Hạt mưa chèo bẻo
Nhạt nắng xiên khoai
Hạt mưa hoa nhài
Tàn đêm kỹ nữ
Hạt mưa sành sứ
Vỡ gạch Bát Tràng
Hai mảnh đa mang
Chiều khô lá ngải
Mưa gái thương chồng
Ướt đằm nắng quái
Sang đò cạn sông
Mưa chuông chùa lặn
Về bến trai tơ
Chùa Dâu ni cô
Sao còn thẩn thơ
Sao còn ngơ ngẩn
Không về kinh đô
Ơi đêm đợi chờ
Mưa ngồi cổng vắng
Mưa nằm lẳng lặng
Hỏi gì xin thưa
Nhớ lụa mưa lùa
Sồi non yếm tơ
[…]
Thuận Thành đang mưa…
 
 

Thánh lễ Tạ ơn đã được tổ chức thường niên để tạ ơn Chúa và cảm ơn nhau sau một năm sinh sống, làm việc, học tập và phục vụ. Vì đại dịch bệnh COVID-19 nên chương trình Lễ Tạ Ơn năm nay được tổ chức trực tuyến (online) thay vì trực tiếp như những năm trước đây. Thánh lễ Tạ ơn năm 2021 đã được Học viện Lãnh đạo Nghĩa Sinh (NghiaSinh Leadership Academy) tổ chức với sự điều hành của Chương trình Thạc sĩ Khoa học Quản trị và Lãnh đạo Thực hành (Master of Science in Performance Management and Leadership Program).
Khi một nữ tu trẻ tại 1 dòng Công Giáo ở Đông Âu nói với Mẹ bề Trên rằng 1 linh mục đã tìm cách sờ mó cô, cô bị Mẹ Bề Trên nói có lẽ lỗi của nữ tu này đã khiêu gợi linh mục kia. Khi các nữ tu gốc Phi tại Minnesota hỏi vì sao họ cứ phải đi xúc tuyết thì được nói vì các nữ tu này trẻ và khỏe, bất kể các nữ tu da trắng cùng tuổi đang sống cùng trong tu viện.
Với niềm hoan hỷ ấy, đệ tử Huệ Hương (Úc Châu) kính xin được tường thuật lại những gì đã thu thập trong buổi Đại Hộ Hoằng Pháp lần 1 năm 2021, được mở rộng trên diễn đàn online theo hệ thống trực tiếp Zoom. Vào 4:00 giờ sáng thứ Bảy ngày 27/11/2021 theo giờ Âu Châu hoặc giờ thay đổi tại nhiều địa phương khác nhau: Sài Gòn (Việt Nam): 10:00 sáng thứ Bảy 27/11/2021; Los Angeles (USA): 8PM thứ Sáu 26/11/2021; Ottawa (Canada): 11PM thứ Sáu 26/11/2021; Melbourne (Australia): 2PM thứ Bảy, 27/11/202.
Nhiều trường hợp bị lây nhiễm biến thể omicron của vi khuẩn corona đã gia tăng tại nhiều nước trên thế giới hôm Chủ Nhật, 28 tháng 11 năm 2021, và nhiều chính phủ vội vã đóng các biên giới ngay dù các nhà khoa học đã cảnh báo rằng chưa rõ có phải biến thể mới có đáng báo động hơn các phiên bản của vi khuẩn hay không, theo Hãng Tin Mỹ AP tường thuật hôm Chủ Nhật. Biến thể mới đã được xác định vài ngày trước bởi các nhà nghiên cứu tại Nam Phi, và phần nhiều vẫn chưa biết rõ về nó, gồm có phải nó lây nhiễm nhiều hơn, có phải nó có thể gây bệnh nghiêm trọng hơn hay có thể tránh được sự bảo vệ của các thuốc chích ngừa hay không. Nhưng nhiều nước đã vội vã hành động, phản ảnh sự lo lắng về điều mà có thể kéo dài đại dịch mà đã giết chết hơn 5 triệu người.
Nhà báo Bùi Tín nhận xét: “Có rất ít thông tin chính xác về nội dung thật sự của cuộc gặp này được tiết lộ, nhưng ý đồ đen tối của những người lãnh đạo Bắc Kinh đến phó hội đối với tương lai của đất nước ta đã không che mắt được ai. Đến nỗi ngoại trưởng Việt Nam lúc bấy giờ, ông Nguyễn Cơ Thạch, người bị gạt ra ngoài rìa của cuộc họp lịch sử này, đã phải than thở: ‘Thế là một cuộc Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu!”
“Có lúc Honiara hoàn toàn căng thẳng, nhưng thành phố hiện đã trở lại bình thường,” theo Rave cho hay. Lực lượng an ninh đã không thể ngăn chận bất ổn tại Honiara mà đã bắt đầu hôm Thứ Tư với những người biểu tình đòi Thủ Tướng Manasseh Sogavare từ chức và hôi của và đốt tiệm và các cơ sở kinh doanh. Nhiều người biểu tình đến từ tỉnh Malaita đông dân nhất, nơi có sự phẫn nộ đối với chính phủ và chống lại quyết định năm 2019 của chính phủ này để chấm dứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan và thiết lập quan hệ chính thức với Trung Cộng, theo Reuters tường trình.
Hôm Thứ Bảy Anh Quốc đã siết chặt các quy định về việc đeo khẩu trang và thử nghiệm những người từ các nơi trên thế giới đến sau khi phát hiện 2 trường hợp lây nhiễm mới. Các trường hợp mới được xác nhận hôm Thứ Bảy tại Đức và Ý, với Bỉ, Do Thái và Hong Kong cũng báo cáo rằng biến thể đã được tìm thấy trong những người đi lại. Tại Hoa Kỳ, Bác Sĩ Anthony Fauci, chuyên gia về các bệnh truyền nhiễm của chính phủ, nói rằng ông không ngạc nhiên nếu biến thể omicron cũng đã có mặt tại Hoa Kỳ.
Sau những hành động thiếu văn hóa của nhóm du học sinh “con ông cháu cha” từ Việt Nam sang, cũng như hành động hạ cấp của tướng Tô Lâm “đớp” miếng thịt bò dát vàng, và bản tin trên Yahoo về 500 người Việt làm cu-li cho Tàu cộng đã đề cập đến hai chữ “nô lệ”, người Việt Nam nghĩ gì?
Hôm nay là ngày Thứ Bảy Vì Kinh Doanh Nhỏ (Small Business Saturday), 2 ngày sau Lễ Tạ Ơn và 1 ngày sau Thứ Sáu Đen, nhiều doanh nghiệp nhỏ tại Quận Cam (hầu hết kinh doanh của dân Việt là kinh doanh nhỏ, như tiệm ăn, tiệm tạp hóa...) hy vọng mùa mua sắm sau đại dịch sẽ giúp tăng thương vụ.
Hôm Thứ Sáu, 26 tháng 11 năm 2021, chứng khoán đã rớt mạnh với Dow Jones mất giá hơn 1,000 điểm, trong lúc biến thể mới của vi khuẩn corona lần đầu tiên được phát hiện tại Nam Phi có vẻ đang lây lan khắp thế giới, theo Hãng Tin Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Sáu. Các nhà đầu tư không chắc là biến thể có khả năng đảo ngược tiến trình nhiều tháng kiểm soát đại dịch Covid-19 hay không.
Tổng Thống Joe Biden hôm Thứ Sáu, 26 tháng 11 năm 2021, đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ hạn chế đi lại từ Nam Phi và 7 quốc gia khác bắt đầu vào Thứ Hai tới trong khi một biến thể vi khuẩn corona mới đã xuất hiện, theo CNN tường thuật hôm Thứ Sáu. Hành động theo lời khuyên từ chuyên gia hàng đầu về các bệnh truyền nhiễm quốc gia là Bác Sĩ Anthony Fauci, và Cơ Quan CDC, chính phủ Biden sẽ hạn chế đi lại từ Nam Phi, Botswana, Zimbabwe, Namibia, Lesotho, Eswatini, Mozambique và Malawi.
Chính quyền tỉnh Thanh Hóa tại Việt Nam đã đình chỉ việc chích thuốc ngừa Covid-19 của Trung Quốc qua lô thuốc Vero Cell có liên quan đến “sốc phản vệ” vì đã có 4 người thiệt mạng sau khi chích loại thuốc này và hàng chục người khác đang được theo dõi, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) tường thuật hôm Thứ Sáu, 26 tháng 11 năm 2021.
Nhân mùa Lễ Tạ Ơn với món ăn truyền thống không thể thiếu là gà tây, Việt Báo xin dịch bài viết của Giáo Sư Jack Lynch dạy tại Đại Học Rutgers University – Newark, mà trong đó đề cập đến một thắc mắc của không ít người rằng là tại sao con gà này lại có tên là ‘Turkey’ tức Thổ Nhĩ Kỳ, và một số chuyện có liên qua đến cái tên gà tây này. Bài này được đăng trên trang mạng https://theconversation.com hôm 22 tháng 11 năm 2021.
Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938 – 2003) đã để lại nhiều tác phẩm lớn, vừa có giá trị Phật học, vừa có giá trị văn học. Một tác phẩm trong những tháng cuối của cuộc đời Ni Trưởng là tập thơ Ngọa Bệnh Ca, được sáng tác trong thời gian nằm bệnh vào đầu năm 2003. Rồi cuối năm 2003, Ni Trưởng tử nạn trong một tai nạn giao thông. Bài viết nảy sẽ ghi lại những suy nghĩ về bài thơ “Người Gỗ” trong thi tập Ngọa Bệnh Ca của Ni Trưởng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.