Hôm nay,  

Đức Phật ra đời, như mặt trời chói sáng

17/05/202205:29:00(Xem: 6556)
blank

Đức Phật ra đời, như mặt trời chói sáng
 

Nguyên Giác

  

Nếu không có mặt trời, chúng ta sẽ chìm trong bóng đêm, không thể nhìn thấy gì nữa. Thế giới đã có sẵn trước mắt, nhưng chỉ khi ánh mặt trời bừng chiếu, chúng ta mới thấy trọn vẹn trước mắt. Tương tự, nếu Đức Phật không xuất hiện trong đời này, chúng ta sẽ chìm trong tà kiến, không biết tới khi nào mới nhìn thấy Pháp để tìm ra lối giải thoát. Do vậy, ngày Phật Đản cũng là ngày một thế giới giải thoát trọn vẹn được hiển lộ trước mắt cho chúng sinh trong cõi này.
 

So sánh Đức Phật như ánh mặt trời là từ sách Luận Đại Trí Độ của Bồ Tát Long Thọ. Bản Việt dịch của Hòa Thượng Thích Thiện Siêu (1921-2001), trong Tập 1, Chương 7, bản do Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành năm 1997 giải thích về ý nghĩa Đức Phật ra đời: “…người tuy có phước đức, trí tuệ, nhưng nếu Phật không ra đời, thì chỉ thọ báo trong thế gian mà không thể đắc đạo. Nếu gặp Phật ra đời mới có thể đắc đạo, ấy là một lợi ích lớn. Ví như người có mắt, lúc không có mặt trời, thì không thể trông thấy được, cần phải có ánh sáng mặt trời, mới trông thấy được, nên không được nói: “Ta có mắt, cần gì mặt trời”…”
 

Do vậy, khi ánh sáng mặt trời chói rạng, là lúc chúng ta phải bước đi trên đường giải thoát được hiển lộ ra, không phải để thuần túy vui chơi. Chính ngay trong những Kinh nói về những điều hy hữu, trong nhóm Kinh vị tằng hữu, Đức Phật cũng nhấn mạnh và khuyến tấn về pháp tu. Truyền thống chúng ta mừng Lễ Phật Đản thường nhắc cho nhau về các sự tích phi thường để tăng tín tâm và mời nhau cầu nguyện, đôi khi lại quên nói về lời Đức Phật dạy pháp tu sau khi kể các hiện tượng rấr mực bất khả tư nghì.
 

Như trường hợp trong Trung Bộ, Kinh MN 123, còn gọi là “Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp” Ngài A Nan nói tuần tự các hiện tượng phi thường khi Đức Phật ra đời, mỗi lần bắt đầu kể một chuyện phi thường là nói câu “Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn” và khi kể xong là nói câu “con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn.” Thọ trì tức là ghi nhớ, tin nhận, giữ mãi trong lòng, không quên. Kinh MN 123 ghi rằng Ngài A Nan nói 19 lần như thế. Tuy nhiên, Đức Phật cuối Kinh lại nhấn mạnh về pháp tu.
 

Kinh MN 123, bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu (1918–2012), trích vài đoạn như sau:

"Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Bồ-tát khi sanh ra, này Ānanda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời! Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa”. Vì rằng, bạch Thế Tôn, con thọ trì sự việc này, bạch Thế Tôn, là một hy hữu, một vị tằng hữu của Thế Tôn."…(…)

“Do vậy, này Ānanda, hãy thọ trì sự việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai. Ở đây, này Ānanda, các cảm thọ khởi lên nơi Thế Tôn được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại; các tưởng được biết đến; các tầm khởi lên được biết đến; được biết đến, chúng an trú; được biết đến, chúng đi đến biến hoại. Này Ānanda, hãy thọ trì việc này là một hy hữu, một vị tằng hữu của Như Lai.” (ngưng trích)
 

Nghĩa là, trong khi Ngài A Nan liên tục gọi các hiện tượng vượt ngoài các định luật vật lý (như Đức Phật mới sinh đã bước đi 7 bước, và nói một câu…) là hy hữu, Đức Phật đã kéo Ngài A Nan về đúng chỗ phải tu: phải liên tục thấy cảm thọ sinh, trụ, dị, diệt, tương tự thấy như thế với tưởng và tầm (niệm).
 
Trong Kinh này, Đức Phật nhấn mạnh về quan sát 3 đối tượng nơi thân tâm (thọ, tưởng, tầm). Cả hai bản Anh dịch của Sujato và Thanissaro đều dịch ba chữ này là: thọ (feelings), tưởng (perceptions), niệm (thoughts). Ngắn gọn, có thể gọi chung là các hiện tượng sinh diệt trong tâm. Tức là, liên tục thấy tâm. 
 

Kinh tương đương bên Tạng A Hàm là Kinh MA 32, kể rằng Đức Phật mới sinh bước đi 7 bước, nhưng không kể chuyện chỉ tay lên trời và nói. Thêm nữa, Kinh này ghi lời Ngài A Nan kể rằng Đức Phật liên tục bảy năm suy niệm về thân không gián đoạn, và yêu cầu chư Tăng thọ trì như thế. Nghĩa là, Kinh MA 32 là lời dạy rằng phải liên tục quán sát thân và tâm không gián đoạn, và như thế mới là hy hữu, là vị tằng hữu tối thắng. Bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ, trích như sau:

“Con nghe rằng, khi Đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, liền đi bảy bước không khiếp sợ, không kinh hãi, quan sát các phương. Nếu Thế Tôn vừa mới sanh ra, liền đi bảy bước không khiếp sợ, không kinh hãi, quan sát các phương; thì con xin thọ trì pháp vị tằng hữu này của Đức Thế Tôn.

“Con nghe rằng Đức Thế Tôn, trong suốt bảy năm suy niệm về thân, luôn luôn suy niệm không gián đoạn. Nếu Đức Thế Tôn trong suốt bảy năm suy niệm về thân, luôn luôn không gián đoạn; con xin thọ trì pháp vị tằng hữu ấy của Đức Thế Tôn.”

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo rằng: “Này A-nan, ngươi hãy nghe Như Lai nói mà thọ trì thêm pháp vị tằng hữu này nữa. Này A-nan, Như Lai biết thọ sanh, biết trụ, biết diệt, luôn luôn biết, chẳng có lúc nào chẳng biết. Này A-nan, Như Lai biết tư và tưởng sanh, biết trụ, biết diệt, luôn luôn biết. Không lúc không biết. Cho nên, này A-nan hãy nên từ nơi Như Lai mà thọ trì thêm pháp vị tằng hữu này.” (ngưng trích)
 

Hơn hai thiên niên kỷ sau, các bậc long tượng đã nhận được ý chỉ của Đức Phật, nên khi viết sách hoằng pháp đã giảm yếu tố siêu nhiên để tập trung nhấn mạnh về pháp giải thoát.
 

Trong sách “Đức Phật Lịch Sử” – bản Việt dịch của GS Nguyên Tâm Trần Phương Lan dựa vào bản tiếng Đức của ngài H.W. Schumann và bản Anh dịch của ngài M.O'C. Walshe, đã xóa các chi tiết siêu nhiên hy hữu, chuyện y hệt như ở một làng quê Việt Nam, trích:

“...hoàng hậu Màyà đã bốn mươi tuổi, ngay trước thời kỳ lâm sản đã lên đường trở về quê song thân ở Devadaha để sinh con và nhờ mẫu thân Yasodharà bảo dưỡng. Cuộc hành trình bằng xe ngựa hay xe bò cọc cạch lắc lư trên những con đường đất bụi nóng bức khiến cho việc lâm sản xảy ra sớm trước khi về đến Devadaha. Gần làng Lumbini (Lâm-tỳ-ni, nay là Rumindai) giữa trời không có nhà cửa che chở, chỉ có được tàng cây sàla (tên khoa học Shorea Robusta) và cũng không có thầy thuốc nào lo việc hộ sản, hoàng tử ấu nhi Siddhattha sinh ra đời khoảng tháng năm, năm 563 trước CN.” (ngưng trích)
 

Tương tự, trong sách “Đường Xưa Mây Trắng” Thầy Nhất Hạnh (1926-2022) soạn, nơi quyền 1, phần 2, chương 6, cũng không ghi lại các hiện tượng phi thường của Đản Sanh, trích:

“…Tục lệ của nước bà là người con gái có chồng phải về sinh con tại nhà cha mẹ. Trên đường đi, bà đã ghé vào nghỉ tại vườn Lumbini. Trong vườn muôn hoa đang nở rộ, chim chóc đang ca hát vang lừng. Những con công xòe đuôi rực rỡ trong nắng mai. Thấy một cây Vô ưu hoa nở rực đầy cành, bà bước tới. Khi tới gần cây này, bà thấy hơi lảo đảo. Bà vội đưa tay nắm chặt một cành cây vô ưu. Một giây sau đó, bà sinh em bé. Thái tử Siddhatta được các thị nữ nâng lên và bọc lại trong một tấm khăn choàng bằng lụa màu vàng. Các thị nữ biết rằng chuyến đi Ramagama không cần thiết nữa cho nên dìu hoàng hậu ra xe bốn ngựa đi trở về Kapilavatthu. Thái tử được đem tắm bằng nước ấm rồi được đặt lên giường bên cạnh hoàng hậu…” (ngưng trích)
 

Trong sách “Đức Phật và Phật Pháp” của Đại Đức Narada Maha Thera (1898–1983), qua bản Việt dịch của ngài Phạm Kim Khánh, cũng không có hiện tượng siêu nhiên nào trong việc đản sanh, trích:

“Nhằm ngày trăng tròn tháng năm, năm 623 trước D.L., trong vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni) tại Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ) bên ranh giới Ấn Độ của xứ Nepal ngày nay, có hạ sanh một hoàng tử mà về sau trở thành vị giáo chủ vĩ đại nhất trên thế gian. Cha hoàng tử là Đức Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) thuộc quý tộc Sakya (Thích Ca) và mẹ là Hoàng Hậu Maha Maya (Ma Da). Sau khi hạ sanh hoàng tử được bảy ngày thì hoàng hậu thăng hà. Em bà là Maha Pajapati Gotami, cũng cùng kết duyên với Vua Tịnh Phạn, thay thế bà để dưỡng dục hoàng tử và gởi con là Nanda cho một bà vú nuôi chăm sóc.” (ngưng trích)
 

Sách “Phật Học Phổ Thông” của HT Thích Thiện Hoa (1918 – 1973), trong ấn bản Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn Hành 1997, trong Khóa Thứ Nhất: Nhân Thừa Phật Giáo, Bài Thứ 2 cũng viết đơn giản, trích:

“Đến sáng ngày mồng tám tháng tư âm lịch (trước Tây lịch 624 năm), tại vườn Lâm Tỳ Ni, cách thành Ca Tỳ La Vệ 15 cây số, Hoàng hậu Ma Da đang ngoạn cảnh, trông thấy cành hoa Vô Ưu mới nở, thơm ngát, bà đưa tay phải với hái, thì Thái Tử cũng vừa xuất hiện ngay đấy. Ngày đản sanh Thái Tử, trong thành Ca Tỳ La Vệ, cảnh vật đều vui vẻ lạ thường, khí hậu mát mẻ, cây cỏ đều đơm hoa trổ trái; sông, ngòi, mương, giếng nước đều trong đầy; trên hư không chim chóc và hào quang chiếu sáng cả mười phương. Vua Tịnh Phạn vui mừng khôn siết mời các vị tiên tri đến xem tướng Thái Tử.” (ngưng trích)
 

Tương tự, sách “Phật Học Cơ Bản” của Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, nơi Tập 1, Phần 1, Bài 3, ghi cũng rất đơn giản, trích:

“Đến thời khai hoa nở nhụy, theo tục lệ thời bấy giờ, Hoàng hậu phải trở về quê cha là trưởng giả Anjana ở nước Koly (Câu Ly) để an dưỡng, chờ ngày lâm bồn. Trên quãng đường đi, Hoàng hậu Màyà vào vườn Lumbini thưởng ngoạn mùa hoa đang đua nở. Bên tàng cây asoka (vô ưu) che rợp mát, sắc màu tươi sáng, hương thoảng nhẹ bay, Hoàng hậu đã hạ sanh Thái tử. Tin lành Thái tử chào đời nhanh chóng được loan truyền trong dân chúng.” (ngưng trích)
 

Tại sao quý ngài khi viết sách đã cắt bỏ các chi tiết truyện cổ tích ly kỳ hấp dẫn như thế? Kinh SN 12.20, bản dịch của Thầy Minh Châu ghi như lời Đức Phật giải thích, nhấn mạnh vào lý duyên khởi, nghĩa là phải thấy thực tướng vô ngã:

“Do vì, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử khéo thấy như chơn với chánh trí tuệ lý duyên khởi này và các pháp duyên sanh này, nên chắc chắn vị ấy không chạy theo quá khứ (với những câu hỏi): “Ta có mặt trong quá khứ? Ta không có mặt không quá khứ? Ta là gì trong quá khứ? Ta có mặt như thế nào trong quá khứ? Hay trước ta đã là gì, và nay trong quá khứ ta là gì?”…”(ngưng trích)
 

Đối với Thiền Tông, các hiện tượng siêu nhiên cũng được giản lược, có khi bỏ quên, để Đại Lễ Phật Đản trở thành một câu hỏi đơn giản: “Thế nào là mẹ của chư Phật?” Nghĩa là, pháp nào là mẹ của giác ngộ. Trong “Lâm Tế Ngữ Lục” của ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền (?-867), bản Việt dịch của Thầy Thích Duy Lực (1923-2000), trích:
 

“Chỉ có Đạo nhân vô y (tự tánh) đang nghe pháp, là mẹ của chư Phật, bởi vì chư Phật đều từ vô y sanh. Nếu ngộ được hai chữ vô y (không chỗ nương), Phật cũng vô đắc. Nếu thấy được như thế, tức là kiến giải chân chính… Các ngươi, nếu muốn đi ở tự do trong sanh tử, thì phải nhận thức người đang nghe pháp đây, vốn là vô hình, vô tướng, vô căn, vô bản, không trụ xứ, mà hoạt bát rõ ràng, ứng dụng muôn thứ, chỗ dùng chỉ là không chỗ (vô sở trụ)... Nếu niệm đã khởi chớ nên tiếp tục, nếu niệm chưa khởi đừng cho sanh khởi. Làm được như thế thì hơn đi hành cước mười năm. Đừng để bất cứ nội ngoại vật nào trói buộc…” (ngưng trích)
 

Đó cũng là ý chỉ của ngài Bồ Đề Đạt Ma trong Thiếu Thất Lục Môn: Bên ngoài dứt bặt muôn duyên, bên trong không còn tư lường tăm hơi manh mối gì, tâm y hệt như tường vách, mới có thể vào đạo (Ngoại tức chư duyên, Nội tâm vô đoan, Tâm như tường bích, Khả dĩ nhập đạo).
 

Như thế, khi đọc kỹ hai Kinh Vị Tằng Hữu, chúng ta thấy Đức Phật nhấn mạnh rằng chính liên tục nhìn thấy quán sát tâm (Kinh MN 123), liên tục quán sát thân và tâm (Kinh MA 23) mới thực sự là thông điệp đản sanh, là chiếu tia sáng mặt trời để thấy Tâm Giải Thoát hiển lộ. Và nơi Tâm Giải Thoát đó, theo Thiền Tông, chính là tâm không dựa vào đâu, tâm không trụ vào đâu, tâm lặng lẽ tỉnh thức lìa trói buộc, mới chính là khi Đức Phật ra đời. Đó mới thực sự là Hoa Đàm Ngát Hương.
 

THAM KHẢO:

Kinh MN 123: https://suttacentral.net/mn123/vi/minh_chau

Kinh MA 32: https://suttacentral.net/ma32/vi/tue_sy

Kinh SN 12:20: https://suttacentral.net/sn12.20/vi/minh_chau

.

.

 

Dự Luật Cơ Sở Hạ Tầng được Hạ Viện với tỉ lệ 228-206. Có 13 Dân Biểu Cộng Hòa đã bỏ phiếu ủng hộ cho dự luật. Dân Biểu Cộng Hòa Andrew Garbarino đã trả lời với báo chí rằng việc bỏ phiếu này là cho cầu đường, nước sạch, là cho người dân...
Người Việt nam thông thường gọi la-de, vin (rượu chát), các loại whisky, cognac, gin, rhum, wooka, đế,. .. chung một tiếng là «rượu». Đức Lưu Linh đã dạy như vậy. Tức thức uống có men, không quen uống vào bị say. Nhưng Tây, họ nói và hiểu khác hơn. La-de, vin, họ không cho là rượu. Cấm rượu thi hai thứ này không bị cấm. Cấm rượu là cấm whisky, cognac, rhum,...Những thứ từ 40° trở lên. Vì những thứ này mới đúng là rượu. Vin, la-de chỉ là thức uống bình thường hằng ngày có chút men. Nếu uống vài ly mà say là tại người chớ không phải tại mấy thứ này.
“Ngày 6 tháng 1 là một nỗ lực vi hiến được lãnh đạo bởi Tổng Thống Hoa Kỳ để đảo ngược cuộc bầu cử của Mỹ và tái đặt để chính ông vào quyền lực một cách bất hợp pháp. Đó là lãnh thổ quốc gia đã sụp đổ, đó là lãnh thổ quốc gia thế giới thứ ba. Gia đình tôi đã rời bỏ Cuba để tránh số phận đó. Tôi sẽ không để cho nó xảy ra ở đây,” theo Gonzalez phát biểu. “Tôi nghĩ tất cả sẽ đẩy tới một trong hai kết quả: Ông sẽ thắng cử một cách hợp pháp, mà ông ấy có thể, hay nếu ông ấy thua cuộc, thì ông sẽ cố đánh cắp nó,” theo ông nói thêm.
Kế hoạch của Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi thông qua gói kinh tế 1.9 ngàn tỉ đô la và dự luật hạ tầng cơ sở 1.2 gàn tỉ đô la, cả hai đều là những cột trụ của chương trình nghị sự của Tổng Thống Joe Biden, đang đối diện nguy cơ sụp đổ khi các nhà lãnh đạo khó khăn để thống nhất các khuynh hướng cấp tiến và trung dung của đảng (Dân Chủ), một động lực đã làm các nhà Dân Chủ mất nhiều tháng qua, theo CNN tường thuật hôm Thứ Sáu, 5 tháng 11 năm 2021.
Trong lúc người dân tại Việt Nam nghèo, đói, bệnh tật và chết vì đại dịch vẫn chưa hết mà còn có nguy cơ tái bùng phát, các quan lớn Hà Nội như Bộ Trưởng Công An Tô Lâm và Chánh Văn Phòng, Phát Ngôn Nhân Bộ Công An Tô Ân Xô, là những người mà chế độ gọi là “đày tớ của nhân dân” lại ăn uống hả hê với những món ăn đắt tiền tại một nhà hàng sang trọng của đầu bếp Salt Bae tại London khiến cho người dân phẫn nộ cái vô cảm và bất nhẫn của những người thường ngày rao giảng “đạo đức cách mạng,” theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) tường thuật hôm Thứ Sáu, 5 tháng 11 năm 2021.
Vào sáng sớm ngày 31/10/2021, xe chở Đoàn Nghĩa Sinh đã khởi hành và trực chỉ xã Đông Hải, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa để tới Mái ấm Khuyết tật Thiên Thần do các nữ tu Công giáo điều hành. Mái ấm Khuyết tật Thiên Thần là nơi đã và đang nuôi dưỡng hơn 50 trẻ em khuyết tật, bị bại não, thần kinh và tâm thần.
Trẻ em và thanh thiếu niên đang lây nhiễm và lan truyền COVID-19 với tốc độ ngày càng cao. Ngay cả khi con em của quý vị chưa bị nhiễm COVID-19, các em đều có nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt là với số lượng cư dân được chích ngừa còn thấp ở một số tiểu bang nhất định và thực tế là trẻ em chiếm một phần năm số ca nhiễm COVID-19 mới trên toàn quốc. Đặc biệt trong tình hình trẻ em và thanh thiếu niên sắp trở lại trường học, gặp gỡ bạn bè và thực hiện các hoạt động như chơi thể thao và học nhạc – điều này có nghĩa là các khả năng mà các em mang COVID-19 về nhà cho quý vị và những người lớn tuổi trong gia đình sẽ lớn hơn kể từ khi đại dịch này bắt đầu. Nếu quý vị muốn bớt lo lắng khi con em mình ôm hôn ông bà hoặc đến thăm cô dì, sau đây là một số cách mà quý vị có thể làm để bảo vệ con em và cả gia đình mình.
Giáo dục âm nhạc lần đầu tiên đưa vào trường công của Mỹ tại Boston vào thập niên 1830s. Nó bắt đầu với việc dạy hát, với âm nhạc dụng cụ kéo dài tới cuối thể kỷ. Ngày nay, các chương trình nghệ thuật tại các trường từ Mẫu Giáo tới lớp 12 gồm nghệ thuật tạo hình, âm nhạc, sân khấu, khiêu vũ và đa phương tiện và thiết kế. Nghiên cứu được ủy quyền bởi quốc hội từ năm 2011 cung cấp một cái nhìn tổng thể về những gì có sẵn cho các trẻ em. Từ đó về sau này, 94% trường tiểu học công lập báo cáo rằng họ đã cung cấp việc dạy âm nhạc, và 83% cung cấp nghệ thuật tạo hình. Sân khấu (4%) và khiêu vũ (3%) ít hơn bình thường nhiều.Tài liệu cũng cho thấy rằng, ít nhất ở cấp trung học, các trường lớn hơn và các trường công truyền thống cung cấp nhiều lớp nghệ thuật hơn những trường nhỏ và trường tư hay trường bán công. Nhưng ngày càng trông cục bộ, càng nhiều chênh lệch. Thí dụ, chỉ 22% trường trung học với số học sinh nghèo cao cung cấp 5 hay nhiều hơn các lớp nghệ thuật tạo hình
Ngày sẽ ngắn lại và đêm sẽ dài ra khi thời hạn đổi giờ vào Chủ Nhật đầu tháng 11 hàng năm chính thức bắt đầu vào lúc 2 giờ sáng Chủ Nhật, ngày 7 tháng 11 năm 2021.
Hỏi: Tôi đang ở Hoa Kỳ theo chiếu khán công việc/du lịch B1 / B2. Tôi có thể nộp đơn xin chiếu khán EB-3 như thế nào? Hỏi: Có ít phức tạp hơn không nếu tôi có được giấy phép làm việc OPT thông qua chiếu khán sinh viên F1 của mình không?
Đại dịch trên toàn cầu đã giảm xuống đáng kể do số người chích thuốc ngừa Covid-19 ngày càng nhiều, nhưng nhìn lại gần 2 năm bị đại dịch tấn công với số người chết trên toàn thế giới đã vượt qua 5 triệu người làm cho mọi người càng cảm nhận mức tàn phá của đại dịch là kinh khủng.
Châu Âu một lần nữa là “tâm điểm” của đại dịch Covid, theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã cảnh báo, khi các trường hợp lây nhiễm gia tăng khắp lục địa này, theo BBC Tiếng Anh tường thuật hôm Thứ Năm, 4 tháng 11 năm 2021. Tại cuộc họp báo lãnh đạo khu vực Châu Âu của WHO là Hans Kluge nói rằng lục địa này có thể chứng kiến một nửa triệu người nữa tử vong vào tháng 2 năm tới. Ông đổ lỗi cho việc chích thuốc ngừa không đủ đã làm gia tăng dịch bệnh.
Sự tiến triển này đến khi văn phòng biện lý hạt Manhattan đang cân nhắc có nên tìm kiếm thêm các cáo trạng trong vụ kiện mà đã đưa tới những cáo buộc gian lận thuế chống lại công ty của Trump, là Trump Organization, và Giám Đốc Tài Chánh lâu năm của công ty là Allen Weisselberg. Bản thân Trump vẫn còn nằm dưới sự điều tra sau khi Chánh Biện Lý Hạt Cyrus Vance Jr. lãnh đạo cuộc chiến nhiều năm để lấy các hồ sơ thuế của vị đảng viên Cộng Hòa này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.