Hôm nay,  

Đức Phật dạy lìa xan tham

16/10/202222:04:00(Xem: 19336)
blank

Đức Phật dạy lìa xan tham

 

Nguyên Giác

 

 

Bài này sẽ nói tới đoạn tận xan tham, và sẽ ghi lại những lời dạy của Đức Phật ít được chú ý tới. Xan tham là gốc từ “ái” nên sinh ra cái “khả ý” và “bất khả ý” tức là ưa/ghét. Đoạn tận xan tham cũng là lìa ba độc tham, sân, si. Tức là giải thoát.

 

Chữ “xan tham” là cách dịch của Thầy Minh Châu, với chữ xan là keo kiệt, và tham là tham muốn. Cả hai chữ xan và tham đều có nghĩa gần nhau, đều là chấp có cái gì là “ta” và “của ta” và “muốn gì cho ta.” Trong nhóm Kinh Tăng Chi Bộ AN 5.254, AN 5.255, AN.256, AN 5.257-263, AN 5.264, AN 5.265-271 đều cùng chủ đề về Xan tham. Hai bản dịch tiếng Anh của hai Thầy Sujato và Thanissaro dịch là “Stinginess” tức là “Keo kiệt.” Đức Phật dạy rằng hễ còn tâm xan tham thì không giải thoát nổi. Do vậy, cần phải bứng gốc rễ tâm keo kiệt, tâm xan tham.

 

Trong Kinh AN 5.254, Đức Phật dạy, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Này các Tỷ-kheo, có năm xan tham này. Thế nào là năm? Xan tham trú xứ, xan tham gia đình, xan tham lợi dưỡng, xan tham tán thán, xan tham pháp. Này các Tỷ-kheo, có năm xan tham này. Trong năm xan tham này, này các Tỷ-kheo, cái này là tối hạ liệt, tức là xan tham pháp.” (1)

 

Tối hạ liệt nghĩa là tệ vô cùng tận. Bởi vì xan tham trú xứ là còn ưa thích niềm vui chùa lớn, nhà cao cửa rộng. Xan tham gia đình là còn ưa thích niềm vui gia tộc, tông phái, bạn hữu. Xan tham lợi dưỡng là còn ưa thích niềm vui lợi nhuận, cung dưỡng. Xan tham tán thán là còn ưa thích niềm vui được khen ngợi, được phong chức, được trao quyền. Xan tham pháp là còn ưa thích niềm vui giữ riêng pháp này, biện biệt pháp kia.

 

Trong Kinh AN 5.525, Đức Phật dạy, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Do đoạn tận, cắt đứt năm xan tham, này các Tỷ-kheo, Phạm hạnh được thực hiện. Thế nào là năm? Do đoạn tận, cắt đứt xan tham trú xứ, Phạm hạnh được thực hiện. Do đoạn tận, cắt đứt xan tham gia đình…xan tham lợi dưỡng…xan tham tán thán…xan tham pháp, Phạm hạnh được thực hiện.” (2)

 

Trong Kinh AN 5.526, Đức Phật dạy, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Do không đoạn tận năm pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể chứng đạt và an trú sơ Thiền. Thế nào là năm? Xan tham trú xứ, xan tham gia đình, xan tham lợi dưỡng, xan tham tán thán, xan tham pháp. Do không đoạn tận năm pháp này, này các Tỷ-kheo, không có thể chứng đạt và an trú sơ Thiền. Do đoạn tận năm pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể chứng đạt và an trú sơ Thiền.” (3)

 

Cách đối trị tâm xan tham là hãy bố thí và chia sẻ. Trong Kinh Iti-26, Đức Phật dạy (nơi đây, dịch theo 2 bản Anh văn của Sujato và John D. Ireland): “Các tỳ kheo, nếu chúng sinh chỉ biết, như ta biết, về phước báo của bố thí và chia sẻ, họ sẽ không ăn mà không cho trước, và vết nhơ của keo kiệt sẽ không chiếm lấy tâm trí họ. Họ sẽ không ăn mà không chia sẻ dù chỉ một ngụm ăn cuối cùng, một miếng cuối cùng của họ, miễn là có người nhận. Chính vì chúng sinh không biết, như ta biết, về phước báo của bố thí và chia sẻ, nên họ ăn mà không bố thí trước, và vết nhơ keo kiệt chiếm lấy tâm trí họ.” (4)

 

Tuy nhiên, dù đã lìa tâm xan tham, nhưng chưa chắc đã có cơ duyên và phương tiện để tu pháp bố thí. Vẫn có những hoàn cảnh, tuy có khởi tâm bố thí nhưng vẫn không có điều kiện để bố thí. Kinh AN 5.31 kể về phước báo của bố thí, ghi lời Đức Phật trả lời một nữ cư sĩ, trích bản dịch của Thầy Minh Châu:

“…Sumanà, con gái vua bạch Thế Tôn: ‘Ở đây, bạch Thế Tôn, có hai đệ tử của Thế Tôn đồng đẳng về tín, đồng đẳng về giới, đồng đẳng về tuệ, một có bố thí, một không bố thí. Sau khi thân hoại mạng chung, cả hai được sanh lên cõi lành Thiên giới. Giữa hai vị thiên ấy, có sự đặc thù gì, có sự sai khác gì?’

Thế Tôn đáp: ‘Có sự sai biệt, này Sumanà. Người có bố thí, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không có bố thí trên năm phương diện. Về thiên thọ mạng, về thiên sắc, về thiên lạc, về thiên danh xưng, về thiên tăng thượng. Người có bố thí, này Sumanà, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không bố thí trên năm phương diện này.”

 

Tương tự, Đức Phật nói về 2 đệ tử Thế Tôn sinh lại làm người, cũng đồng đẳng về tín, đồng đẳng về giới, đồng đẳng về tuệ, một có bố thí, một không bố thí, thì “Người có bố thí, khi được làm người, vượt qua vị làm người không bố thí trên năm phương diện: Về nhân thọ mạng, về nhân sắc, về nhân lạc, về nhân danh xưng, về nhân tăng thượng. Người có bố thí, này Sumanà, khi được làm người, vượt qua vị làm người không bố thí trên năm phương diện này.”

 

Tương tự, chỉ khi giải thoát (tức lìa tham sân si) thì mới không sai khác, vì giải thoát chỉ có một vị. Kinh AN 5.31 ghi tiếp:

“-- Bạch Thế Tôn, nếu cả hai đều xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Giữa hai người xuất gia ấy, bạch Thế Tôn có thể có những đặc thù gì, những sai khác gì?

Thế Tôn đáp: -- Có sự sai biệt, này Sumanà. Người có bố thí, khi được xuất gia, vượt qua vị xuất gia không có bố thí trên năm phương diện: Thường hay được yêu cầu nhận y, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận đồ ăn khất thực, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận sàng tọa, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận dược phẩm trị bệnh, ít khi không được yêu cầu. Vị ấy sống với những vị đồng Phạm hạnh nào, các vị này đối với vị ấy, xử sự với nhiều thân nghiệp khả ái, với ít thân nghiệp không khả ái, với nhiều khẩu nghiệp khả ái, với ít khẩu nghiệp không khả ái, với nhiều ý nghiệp khả ái, với ít ý nghiệp không khả ái, giúp đỡ với nhiều giúp đỡ khả ái, với ít giúp đỡ không khả ái. Này Sumanà, người có bố thí khi được xuất gia, vượt qua người không có bố thí trên năm phương diện này.

-- Nhưng bạch Thế Tôn, nếu cả hai đều chứng quả A-la-hán. Với hai vị chứng đạt A-la-hán ấy, bạch Thế Tôn có sự đặc thù nào, có sự sai khác nào?

-- Ở đây, này Sumanà, Ta nói không có sự sai khác nào, tức là so sánh giải thoát với giải thoát.” (5)

 

Như vậy, có cách nào để xóa bỏ hoàn toàn khổ đau, xan tham, keo kiệt… hay không? Nơi đây, chúng ta sẽ dẫn ra Kinh Tiểu Bộ, trong phần Kinh Tập, Kinh Snp 4.11. Bản Việt dịch của Thầy Minh Châu là: (XI) Kinh Tranh luận (Sn 168).

Nhóm Kinh Tập này, Chương 4 còn gọi là Phẩm Tám, gồm 16 Kinh, là cuộc đối thoại giữa Đức Phật và 16 thanh niên, và các thanh niên này thay nhau hỏi Đức Phật, sau khi nghe trả lời, tất cả 16 thanh niên đều trở thành A La Hán.

Tương tự, cũng trong Kinh Tập này, Chương 5 còn gọi là Phẩm Qua Bờ Bên Kia, cũng gồm 16 Kinh, trong sự kiện khác, là cuộc đối thoại giữa Đức Phật và 16 thanh niên khác, và các thanh niên này cũng thay nhau hỏi Đức Phật, sau khi nghe trả lời, tất cả 16 thanh niên đều trở thành A La Hán.

Cả Chương 4 và 5 là Kinh Nhật Tụng của chư Tăng ni trong những năm đầu Đức Phật hoằng pháp, văn cô đọng, uyên áo.

 

Kinh Snp 4.11, Thầy Minh Châu dịch, câu hỏi là: “862. Từ đâu được khởi lên, / Các tranh luận, đấu tranh, / Than van và sầu muộn, / Cùng với tánh xan tham, / Mạn và tăng thượng mạn, / Kể cả với hai lưỡi,/ Từ đâu chúng sanh nhiều,/ Mong Ngài hãy nói lên.” (6)

 

Sau khi giải thích về ái, về ước muốn, về ưa (khả ý) và ghét (bất khả ý), về sắc pháp, về hữu và phi hữu, về tưởng và vô tưởng, tới chìa khóa giải pháp là đoạn tận sắc pháp (con gọi là đạt vô sinh, bất sinh, Niết bàn). Đoạn này, Đức Phật dạy, Thầy Minh Châu dịch:

 

“874. Không có tưởng các tưởng,

Không có tưởng vô tưởng,

Phi tưởng cũng không có,

Vô hữu tưởng cũng không.

Do sở hành như vậy,

Sắc pháp không hiện hữu,

Do nhân duyên các tưởng,

Hý luận được hình thành.” (6)

 

Nơi đây, chúng ta nói rõ thêm về tưởng, một chi trong ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Theo tự điển Wikipedia tiếng Anh, tưởng (perception) trong tiếng Pali là saññā, tiếng Hán là 想 (xiǎng), tiếng Việt là tưởng, và là một “tiến trình của căn và tâm, nơi tiến trình này ghi nhận, nhận biết và định danh (thí dụ, hình dáng của một cây, màu xanh lá cây, cảm xúc của sợ hãi).” [sensory and mental process that registers, recognizes and labels (for instance, the shape of a tree, color green, emotion of fear).]

 

Nơi đây, cũng nên ghi thêm rằng đối với người tu pháp tưởng [nhận biết] vô thường, hay tu pháp tưởng [nhận biết] vô ngã, sẽ thường trực thấy trước mắt, bên tai “không hề có gì gọi là cái gì” vì thực tướng các pháp chính là vô tướng. Đây là một cách để hiểu đoạn kinh dẫn trên.

 

Trong Kinh SN 22.79, Đức Phật giải thích về tưởng, theo bản dịch của Thầy Minh Châu: “Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng? Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng.” (7)

 

Như thế, lời dạy trong Kinh Tập về cách (sở hành) về 4 trường hợp tưởng sẽ dẫn tới sinh tử luân hồi rất phức tạp, nên xin đối chiếu các bản Anh dịch. Tất cả links sẽ ở ghi chú (6), nếu theo các links này sẽ thấy bình luận của A Tỳ Đàm về đoạn kinh này (nhưng, theo người viết, xin nói suy nghĩ thật rằng, bình luận của A Tỳ Đàm là sai, do người đời sau giảng không theo đúng ý Kinh Tập). Theo định nghĩa của Đức Phật, nơi đây chúng ta có vài chỗ thay chữ “tưởng” bằng “nhận biết” khi dịch đoạn Kinh Tập này cho dễ hiểu.

 

Bản dịch Anh văn của Thầy Sujato, trích: “Without normal perception or distorted perception; not lacking perception, nor perceiving what has disappeared. That’s how to proceed so that form disappears: for concepts of identity due to proliferation spring from perception.” (Dịch: “Không có nhận biết bình thường, cũng không có nhận biết bị sai lệch; không có thiếu nhận biết, [cũng] không nhận biết cái đã biến mất. Đó là cách để làm cho sắc pháp biến mất: vì khái niệm về có cái gì từ ‘tưởng’ sẽ dẫn tới hý luận.”)

 

Bản dịch của Ireland: “His perception is not the ordinary kind, nor is his perception abnormal; he is not without perception nor is his perception (of materiality) suspended. — to such an one immateriality ceases. Perception is indeed the source of the world of multiplicity.” (Dịch: “Nhận biết của người giải thoát không phải là nhận biết bình thường, cũng không phải khác thường; người này không phải không có nhận biết, cũng không phải nhận biết của người này (về sắc pháp) đã bị ngưng đọng --- với người như thế, sắc pháp đã tịch diệt. Nhận biết thực sự là cội nguồn của thế giới hý luận.”)

 

Bản dịch của Thanissaro: “One not percipient of perceptions, not percipient of aberrant perceptions, not unpercipient, nor percipient of what's disappeared: for one arriving at this, form disappears —for objectification-classifications have their cause in perception.” (Dịch: “Người này không biết về các tưởng, không biết về các tưởng sai lệch, không phải không biết, cũng không phải biết về cái đã biến mất: với người có tâm như thế, sắc pháp biến mất --- vì phân biệt đối tượng hóa sinh khởi từ tưởng.”)

 

Đoạn kinh vừa dẫn rất phức tạp. Trong ghi chú từ A Tỳ Đàm do 3 nhà dịch kinh (Sujato, Ireland, Thanissaro) trong link (6) ghi rằng đây là trạng thái định rất cao, có thể hàm ý là Tứ Thiền hoặc các tầng thiền vô sắc. Thực tế, xin mạn phép nói ý riêng, nếu Đức Phật muốn nói các tầng Thiền, thì đã nói thẳng là các tầng Thiền, như nhiều kinh khác. Xin nhớ rằng, Đề Bà Đạt Đa đã đạt tất cả các tầng thiền và đã có thần thông, nên sinh ra kiêu ngạo, xách động chia rẽ tăng đoàn. Thêm nữa, nhóm 16 thanh niên này là lần đầu gặp Đức Phật, ngay khi vừa nghe dạy xong là chứng quả A la hán, mà không cần trải qua thứ tự tu tập.

 

Xin phép trả lời đây là pháp ai cũng có thể tu tập được, có thể ngay tức khắc kinh nghiệm được, mà không cần ngồi thở, không cần quán tâm gì nữa hết. Trong cái thấy pháp ấn vô ngã, khi tắm được trong dòng chảy pháp ấn vô thường, sẽ thấy không có “tôi, hay của tôi”… sẽ thấy không có cái gì gọi là quá khứ, hiện tại, vị lai… Sẽ thấy không thể có cái gì gọi là cái gì… Bởi vì có nhận biết nhưng không có cái gì gọi là có ai nhận biết, và cũng không có cái gì gọi là cái được nhận biết… Hễ mở miệng ra là thành hý luận, vì sẽ nhầm có cái gì gọi là các pháp… Cái nhận biết pháp ấn như thế là ly nhất thiết tướng, không dính vào những cái được thấy nghe hay biết (Kinh Kim Cang: ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm); là chớ nghĩ thiện, chớ nghĩ ác… lìa tất cả nghĩ ngợi tư lường (Kinh Pháp Bảo Đàn: Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm gốc)… Đó là thấy biết nhưng không dựng lập thấy biết (Kinh Lăng Nghiêm: Thấy biết mà dựng lập thấy biết, chính là  cội gốc vô minh; Thấy biết, mà không dựng lập thấy biết, tức khắc là Niết Bàn.)…

 

Trong Tạng Pali, nơi Kinh AN 3.16, Đức Phật gọi đó là con đường không lầm lỗi: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng....” (Thí dụ: Tướng chung là tướng nam hay nữ, tướng già hay trẻ… Tướng riêng là cái gì làm chúng ta nhận ra cô A khác cô B, anh C khác anh D…)

Trong Kinh SN 47.9, ghi lời Đức Phật dạy: “Không tác ý tất cả tướng...”

Trong Kinh MN 43, ngài Xá Lợi Phất dạy: “Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo không tác ý với nhất thiết tướng, đạt và an trú vô tướng tâm định. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô tướng tâm giải thoát.”

Trong Kinh MN 143, ngài Xá Lợi Phất dạy ngài Cấp Cô Độc khi bệnh nặng: “Tôi sẽ không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ, được nhận thức, được hy cầu, được tư sát với ý, và tôi sẽ không có thức y cứ vào các pháp (nói trên)…”

Trong Kinh AN 11.9, Đức Phật dạy: “Vị ấy Thiền tư không y chỉ vào đất, Thiền tư không y chỉ vào nước, Thiền tư không y chỉ vào lửa, Thiền tư không y chỉ vào gió, Thiền tư không y chỉ vào Không vô biên xứ, Thiền tư không y chỉ vào Thức vô biên xứ, Thiền tư không y chỉ vào Vô sở hữu xứ, Thiền tư không y chỉ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Thiền tư không y chỉ vào thế giới này, Thiền tư không y chỉ vào thế giới sau, phàm điều gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu đến, được ý suy tư, Thiền tư không y chỉ vào cái ấy. Tuy vậy, vị ấy vẫn có Thiền tư. Lại nữa, này Sandha, với vị ấy Thiền tư như vậy, chư Thiên với Thiên chủ, các Phạm thiên với chúng Phạm thiên, dầu từ xa, đảnh lễ con người hiền thiện thuần thục…”

.

Trong Thiền Tông Việt Nam, có lời dạy của ngài Phước Hậu, như sau:

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư,

Học hành không thiếu cũng không dư,

Năm nay nghĩ lại chừng quên hết,

Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ.

Bởi vì với người sống trong pháp ấn, thì đi đứng nằm ngồi đều thấy rằng không hề có ai đi đứng nằm ngồi, chỉ thấy có cái nhận biết không tác ý, và đó là pháp NHƯ, khi tất cả hiển lộ trước mắt và bên tai đều là giải thoát.

 

Trong Kinh AN 4.24, Đức Phật giải thích, đúng là pháp vô niệm y hệt như Huệ Năng, đúng là pháp Như y hệt ngài Phước Hậu, qua bản dịch của Thầy Minh Châu như sau, trích:

“Như Lai là vị đã thấy những gì cần thấy, nhưng không có tưởng tượng điều đã được thấy, không có tưởng tượng những cái gì không được thấy, không có tưởng tượng những gì cần phải thấy, không có tưởng tượng đối với người thấy. Đã nghe những gì cần nghe, nhưng không có tưởng tượng điều đã được nghe, không có tưởng tượng những cái gì không được nghe, không có tưởng tượng những gì cần phải nghe, không có tưởng tượng đối với người nghe. Đã cảm giác những gì cần cảm giác, nhưng không có tưởng tượng điều đã được cảm giác, không có tưởng tượng những cái gì không được cảm giác, không có tưởng tượng những gì cần phải cảm giác, không có tưởng tượng đối với người cảm giác. Đã thức tri những gì cần thức tri, nhưng không có tưởng tượng điều đã được thức tri, không có tưởng tượng những cái gì không được thức tri, không có tưởng tượng những cái gì cần phải thức tri, không có tưởng tượng đối với người thức tri.” (8)

 

Có cách nào đơn giản để trải nghiệm ngay không? Bạn có thể thử thực tập ngay bây giờ: “Hãy tỉnh thức với tâm không biết.” Khi tỉnh thức với tâm không biết như thế, tức là có tưởng, có nhận biết, vẫn xem trận bóng đá trên TV, vẫn nghe ca hát trên TV, tất cả pháp vừa tới mắt và tai liền biến mất, nên không gọi là có tưởng bình thường, cũng không gọi là có tưởng sai lệch, cũng không có [tướng] gì để nắm giữ hay buông bỏ vì không có gì gọi được là cái gì, cũng không hề có thiếu nhận biết, cũng không hề có tưởng gì về những cái đã biến mất (quá khứ). Ngay khi bạn tỉnh thức với tâm không biết, bạn thấy tất cả tham sân si biến mất.

 

Như thế, tâm xan tham keo kiệt sẽ từ từ vắng bặt. Người này vẫn đi đứng nằm ngồi, vẫn biết có những cử động đang đi đứng nằm ngồi, vẫn thấy rõ không hề có ai đang đi đứng nằm ngồi, chỉ thấy và cảm nhận cái rỗng rang tịch lặng đang hiện ra tướng đi đứng nằm ngồi… Điều kỳ lạ, cả hai Chương 4 (Phẩm Tám) và Chương 5 (Phẩm Qua Bờ Bên Kia) trong Kinh Tập là Kinh Nhật Tụng của Tăng Đoàn trong những năm đầu Đức Phật hoằng pháp, lại là những lời dạy ít được chú ý nhất. Cũng chính là cốt tủy của Thiền Tông Việt Nam.

 

GHI CHÚ:

(1) Kinh AN 5.254: https://suttacentral.net/an5.254/vi/minh_chau

(2) Kinh AN 5.525: https://suttacentral.net/an5.255/vi/minh_chau

(3) Kinh AN 5.526: https://suttacentral.net/an5.256/vi/minh_chau

(4) Kinh Iti-26: https://suttacentral.net/iti26/en/sujato

(5) Kinh AN 5.31: https://suttacentral.net/an5.31/vi/minh_chau

(6) HT Minh Châu, Kinh Snp 4.11: https://thuvienhoasen.org/p15a1547/chuong-04-pham-tam

Bản Sujato: https://suttacentral.net/snp4.11/en/sujato

Bản Ireland: https://accesstoinsight.org/tipitaka/kn/snp/snp.4.11.irel.html

Bản Thanissaro: https://accesstoinsight.org/tipitaka/kn/snp/snp.4.11.than.html  

(7) Kinh SN 22.79: https://suttacentral.net/sn22.79/vi/minh_chau

(8) Kinh AN 4.24: https://suttacentral.net/an4.24/vi/minh_chau

 

 

 

• Trump Tự Xếp Mình Là Tổng Thống Vĩ Đại Nhất Nước Mỹ. Giới Sử Học Xếp Ông Hạng Chót. • Trump Nói Chiến Tranh Iran Chỉ Kéo Dài “4-5 Tuần.” Sáu Tháng Sau, Người Mỹ Trả Giá Từ Chợ Đến Cây Xăng. • 31% Cử Tri Gen Z Từng Bầu Trump Nay Hối Tiếc; 93% Giới Trẻ Dự Tính Đi Bầu Giữa Nhiệm Kỳ. • Đại Bồi Thẩm Đoàn: $10 Triệu Tiền Thuế Bị Chuyển Qua Quỹ Gắn Với Vợ DeSantis Để Làm Chính Trị. • FDA Chấp Thuận Thuốc Chủng Ngừa Covid Mới, Sắp Có Tại Các Nhà Thuốc. • Trump Ký Lệnh Đổi Hồ Ontario Thành “Hồ America.” Canada Không Cần Theo. • Tòa Phán Ngũ Giác Đài Trừng Phạt Anthropic Là “Bất Hợp Pháp, Vô Căn Cứ.” • Texas Tạm Ngưng Ghi Danh Hơn 1.2 Triệu Cử Tri Trước Ngày Bầu Cử. • Thẩm Phán Liên Bang Lại Chặn Bưu Điện Siết Phiếu Bầu Qua Thư. • Cựu Tư Lệnh Biên Phòng Của Trump Nói Chính Quyền Trump Muốn Ông Chết. Bạch Ốc Chối.
Chiến dịch ‘ABCs for School Zone Safety’ – Các quy tắc an toàn căn bản cho khu vực trường học – nhấn mạnh những quy tắc lái xe giúp bảo vệ trẻ em khi lái xe hàng ngày. Hãy nhớ luôn chú ý quan sát người đi xe đạp và trẻ em băng qua đường, luôn nhường đường cho các em băng qua đường. (ABC: Alert for Bicyclists and Children crossing)
Tối Thứ Bảy 22-8-2026 tại rạp hát Louis B. Mayer của Đại học Santa Clara University, kế cận thành phố San Jose California, 500 khán giả ngồi kín, yên lặng thưởng thức chương trình nhạc giao hưởng kỷ niệm 70 năm Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn và cũng kỷ niệm 30 Năm Dàn Nhạc Thính Phòng Sài Gòn ở Thung Lũng Hoa Vàng San Jose. Dàn nhạc giao hưởng thính phòng Sài Gòn gồm những cựu học viên môn vĩ cầm, dương cầm, Tây ban cầm, kèn, sáo... của trường nhạc Sài Gòn năm xưa lưu lạc tới tận Mỹ Quốc và một vài nhạc sĩ Hoa Kỳ.
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã chính thức áp dụng lâu dài chương trình ký quỹ chiếu khán (Visa Bond Program). Theo chương trình này, người xin chiếu khán B1 và B2 đến từ 50 quốc gia, chủ yếu là ở châu Phi, sẽ phải nộp khoản tiền ký quỹ lên đến 20,000 Mỹ kim.
Nợ công của Mỹ đã vượt mốc 40.000 tỷ USD lần đầu tiên trong tuần qua — cao hơn gấp đôi so với một thập kỷ trước. Cột mốc này đến chỉ vài tháng sau khi chính phủ công bố hồi tháng 3 rằng tổng nợ công đã chạm mốc 39.000 tỷ USD, nghĩa là con số này đã tăng thêm 1.000 tỷ USD trong chưa đầy nửa năm. Trước đó, vào tháng 10, nợ công ở mức 38.000 tỷ USD. Nước Mỹ cũng đạt mốc 40.000 tỷ USD sớm hơn dự báo: năm 2023, Văn phòng Ngân sách Quốc hội (CBO) từng dự đoán phải đến năm 2028 nợ công mới chạm mức này.
Một chuyên gia độc lập được chọn để phân xử tranh chấp lao động đã ra lệnh cho Washington Post nhận lại Karen Attiah, cây bút bình luận bị sa thải năm ngoái vì những lời bà viết trên mạng xã hội sau khi nhà hoạt động bảo thủ Charlie Kirk bị bắn chết. Tờ báo còn phải trả toàn bộ tiền lương và quyền lợi Attiah bị mất trong thời gian nghỉ việc. Trong phán quyết, nhà phân xử độc lập Sarah Miller Espinosa kết luận Washington Post không có lý do chính đáng và đầy đủ để sa thải Attiah, đồng thời bác lập luận của tờ báo rằng những bài viết của bà cấu thành “hành vi sai trái nghiêm trọng.” Theo Espinosa, hình phạt sa thải là hoàn toàn quá đáng; tòa soạn lẽ ra có thể điều tra, hỏi Attiah về ý nghĩa những lời bà viết hoặc yêu cầu bà gỡ chúng xuống trước khi đi tới biện pháp nặng nhất.
Phần lớn các cuộc thảo luận về vấn đề người nhập cư thường tập trung vào khu vực biên giới Mỹ-Mexico và các vấn đề chính trị cấp liên bang. Tuy nhiên, một số hậu quả quan trọng nhất của chính sách nhập cư lại đang diễn ra ở những nơi cách xa biên giới: tại các thị trấn nhỏ và cộng đồng nông thôn của nước Mỹ. Trong hai thập niên qua, nhiều cộng đồng này đã dựa vào người nhập cư để giải quyết tình trạng giảm dân số, bù đắp sự thiếu hụt lao động, duy trì trường học, củng cố nền kinh tế địa phương... Khi các chính sách nhập cư của liên bang ngày càng trở nên khắt khe hơn, nhiều địa phương đang phải đối mặt với những thách thức mới ảnh hưởng đến giới chủ doanh nghiệp, trường học, các cộng đồng tôn giáo, gia đình… Trong một cuộc họp báo trên mạng do American Community tổ chức và trung tuần tháng 8, các chuyên gia đã phân tích sâu sắc về vấn đề này.
• Cộng Hòa Chia Rẽ Về Gói Kích Thích Kinh Tế Trước Ngày Bầu Cử • Nga Dọa Đánh Mục Tiêu Quân Sự Anh Vì London Giúp Ukraine Chế Tạo Hỏa Tiễn Storm Shadow • Hoa Kỳ Chỉ Trích Trung Quốc Xây Căn Cứ Quân Sự Mới Tại Hoàng Sa • Việt Nam Vượt Trung Quốc, Mexico: Thặng Dư Mậu Dịch Lớn Nhất Với Hoa Kỳ • Nhân Viên ICE Bị Truy Tố Bắn Người Rồi Khai Gian Ở Minneapolis Được Texas Thả Sau 90 Ngày Không Dẫn Độ • New York Cấm Cảnh Sát Địa Phương Hợp Tác Với ICE Trong Các Vụ Di Trú Dân Sự • Hy Mã Lạp Sơn: Vừa Gấp Rút Tìm Người Sống Sót, Vừa Lo Lũ Mới Ập Tới • Hơn 600 Tổ Chức Liên Kết Chống Trump Nới Lỏng Luật Bảo Vệ Di Tích Lịch Sử • Ba Viên Chức Mật Vụ Bị Cho Nghỉ Giữa Cuộc Điều Tra Lộ Tin Trump “Chui” Xe Đồ Ăn Đổi Máy Bay • Cộng Hòa Cắt Hàng Triệu Mỹ Kim Khỏi Chương Trình Tặng Sách Cho Trẻ Em Của Dolly Parton • Phong Trào Hạn Chế Trẻ Em Dùng Mạng Xã Hội Lan Rộng Khắp Thế Giới • FDA Chấp Thuận Thuốc Mới Trị Ung Thư Tuyến Tụy • California Cấm Hôn Nhân Trẻ Em, Dự Luật Chờ Newsom Ký • Nguyệt T
Bà Thomas cam kết: trong 100 ngày đầu tiên sau khi thăng cử, tôi sẽ tiến hành luận tội, bãi nhiệm và kết tội Trump - Bà Thomas nêu rõ lập trường dân chủ xã hội: duy trì chủ nghịa tư bản, sở hữu tư nhân, nhưng cần có y tế toàn dân, chăm sóc tất cả trẻ em, nghỉ thai sản với tất cả phụ nữ - Bầu chung kết tháng 11/2026: DB Cộng Hòa Hern (do Trump ủng hộ) đã gây quỹ 10 triệu USD, bà Thomas (Dân Chủ) chỉ mới 60.000 USD. - Oklahoma là nơi Trump thắng bà Harris cách biệt 38,8% vào năm 2024
• Chính Quyền Trump Tạm Dừng Tất Cả Hồ Sơ Xin Thị Thực Định Cư • Darline Graham Thắng Bầu Cử Sơ Bộ Cộng Hòa, Bước Vào Cuộc Đấu Tháng 11 • Meta Chi $16.7 Tỷ Dàn Xếp Vụ Kiện Về Chứng Nghiện Mạng Xã Với California Và Các Tiểu Bang Khác • Luật Sư Của Trump Cảnh Báo Kennedy Center Có Thể Bị Phá Bỏ Nếu Không Tu Sửa • Lũ Quét Ở Nepal, Ít Nhất 31 Người Chết, 384 Người Mất Tích, Có 3 Du Khách Mỹ • Trump Nói Không Tin Giáo Chủ Iran Mojtaba Khamenei Đã Chết • Sinh Viên 22 Tuổi Bị Cảnh Sát Pennsylvania Bắn Chết Vì ‘Đến Nhầm Nhà’ • Ứng Viên Được Trump Ủng Hộ Thắng Sơ Bộ Cộng Hòa Tranh Ghế Thống Đốc Oklahoma
Tôi đến thăm Ái Nhĩ Lan quê hương huyền thoại. Một đảo quốc bên cạnh nước Anh, đế quốc thuộc địa hàng đầu thế giới, «mặt trời không lặn trên cờ nước Anh». Anh quốc đã cắm ngọn cờ từ Phi Châu: Ai Cập, Nam Phi, Nigéra. Kenya.. Á Châu: Ấn Độ, Singapour, Hongkong Úc Châu, Tân Tây Lan, đến Mỹ Châu Canada, Argentine.. nhưng lại thất bại trước một dân tộc nằm bên cạnh mình. Giữa Anh Quốc và Ái Nhỉ Lan là một trang sử đẩm máu đau thương, tám trăm năm, đô hộ, kháng cự và dai dẳng cho đến ngày nay đang đi vào tiến trình thống nhất nam bắc Ái Nhỉ Lan
Khi nhiệt độ tăng cao có thể gây nguy hiểm đối với người cao niên và trẻ em, đặc biệt là nếu nhà không có máy điều hòa không khí (máy lạnh.) Trung tâm ‘Garden Grove Sports and Recreation Center’, tại địa chỉ 13641 Deodara Drive sẽ mở máy lạnh để cộng đồng trú nắng trong tuần này, từ Thứ Hai, 24 Tháng Tám đến Thứ Sáu, 28 Tháng Tám, từ 11:00 giờ trưa đến 5:00 giờ chiều.
Đọc kỹ Kinh Phật, chúng ta sẽ thấy những gì chúng ta đọc bây giờ được thuyết trong nhiều văn phong khác nhau. Hoàn toàn không phải vì Đức Phật muốn sáng tác văn chương hay thử nghiệm văn học; nhưng chỉ là trả lời tùy theo cơ duyên và trình độ của người hỏi, hay của đại chúng thính pháp lúc đó. Đối với người nông dân, Đức Phật nói chuyện bằng văn phong đời thường, dẫn ra chuyện cày ruộng hay nuôi bò; nghe như dường là dễ hiểu. Khi được các trí thức Bà La Môn nêu câu hỏi triết lý bằng thơ, Đức Phật trả lời bằng các bài thơ; nghe như dường khó hiểu hơn. Thêm nữa, văn phong Kinh còn là do cách người nghe kể lại lời Kinh cho người khác nghe lại.
Theo báo California Post hôm Thứ Ba 25/8/2026, một người đàn ông đến từ California đã bị bắt giữ vào hôm thứ Ba sau khi cảnh sát phát hiện một chiếc máy chém ở thùng xe bán tải của ông ta, gần khu vực Điện Capitol và Tòa án Tối cao Hoa Kỳ.
Một cụ ông 89 tuổi ở California tưởng rằng người bạn trẻ mới quen đang giúp mình sử dụng điện thoại và các thiết bị công nghệ khác. Tuy nhiên, theo các công tố viên, mối quan hệ này lại tạo điều kiện cho người đàn ông trẻ tuổi kia tiếp cận các tài khoản tài chính của nạn nhân, và cuối cùng số tiền gần 100.000 USD trong đó đã bị rút sạch.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.