Hôm nay,  

Đọc Thơ Nguyễn Bá Chung: Một cõi thơ thiền tịch mặc

27/12/202207:52:00(Xem: 15977)
blank 

Đọc Thơ Nguyễn Bá Chung:

Một cõi thơ thiền tịch mặc

 

Phan Tấn Hải

 

Bất ngờ, tôi mới nhận ra rằng GS Nguyễn Bá Chung cũng là một nhà thơ. Bởi vì một thành kiến tôi có từ lâu, một học giả thường không làm thơ. Trước giờ tôi vẫn nghĩ rằng GS Nguyễn Bá Chung là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu, và là người dịch sang tiếng Anh nhiều bài thơ thời Lý, Trần và thời Lê, Nguyễn --- và đó là những gì tôi từng chú ý nhất, khi đọc hai bản Anh dịch của họ Nguyễn: tập “Ly Tran Zen Poems” (nxb Văn Hóa Sài Gòn, 2005, tái bản 6/2007) và “Le Nguyen Zen Poems” (nxb Hội Nhà Văn 6/2019). Lúc đó, tôi không chú tâm về những sách khác do GS Nguyễn Bá Chung (NBC) dịch, như tiểu thuyết, truyện, thơ… Và rồi một bất ngờ, khi tôi khám phá ra Nguyễn Bá Chung cũng là một nhà thơ rất mực lãng đãng Thiền học, thơ mộng tột vời.
 

Tập thơ mới của NBC nhan đề “Thơ Nguyễn Bá Chung tuyển tập” vừa do nxb Hội Nhà Văn ấn hành vào tháng 10/2022 cho độc giả thấy một cuộc đời khác, một hình ảnh khác về NBC. Hầu hết các bài thơ trong tuyển tập không ghi ngày tháng, nhưng hai bài ‘Lễ hội Côn Sơn I, II” ghi nơi sáng tác là “Chùa Hun, Tháp Huyền Quang, Đền Nguyễn Trãi – Côn Sơn 96” và bài “Qua tháp Trần Nhân Tông” ghi là “Núi Yên Tử 1996” --- nghĩa là, có những bài thơ từ rất nhiều thập niên xa xưa.
 

Tập thơ dày 320 trang, mở đầu tập là lời giới thiệu của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (NQT) nhan đề “Nguyễn Bá Chung và một con đường.” Trong đó, theo Nguyễn Quang Thiều, NBC là một tổng hợp tuyệt vời của tinh thần Phật giáo và văn hóa Việt. Và rồi NQT trích dẫn 4 câu thơ của NBC:

 

Thành quách xa xưa hồn ngỡ lạc

Tiếng chuông chùa cổ bóng nào lay

Người về hỏi chuyện vườn quê vắng

Cỏ đã xanh màu, đất đã thay…

 

Tuyển tập thơ của NBC gồm 206 bài thơ, chia làm 5 phần: Phần I Mưa Ngàn, Phần II Ngõ Hạnh, Phần III Tuổi Ngàn Năm, Phần IV Nguồn, Phần V 20 bài thơ rời.
 

Hầu hết thơ của NBC là về những cảm xúc rất Việt Nam. Trừ vài bài thơ về xứ người, như về New England, chúng ta không gặp các bài thơ có chủ đề ngoài Việt Nam -- hình như tuyển tập NBC chỉ có hai bài thơ có không gian ở quê người. Có thể gợi nhớ để so sánh rằng vào giữa thế kỷ 20, nhiều thi sĩ Việt Nam ưa làm thơ về “mùa thu Paris” hay “người em tóc vàng sợi nhỏ” hay những chủ đề tương tự nơi xứ người. Nhưng lạ rằng Nguyễn Bá Chung, với cơ duyên nửa thế kỷ định cư ở Hoa Kỳ vẫn làm thơ phần đông là chủ đề quê nhà và những ngôi chùa Việt Nam trong trí nhớ.
 
blank 

Như chúng ta thấy trong bài thơ nhan đề “Người đến bạc đầu” có ghi chú nơi sáng tác là  “Thiền viện Goenka, Shelburne, Massachusetts.” Bài thơ lục bát dài 8 dòng nói về cảm thọ vô thường (bạc đầu, lá thổi, cỏ vàng tuổi thơ, theo bờ gió bay, bão rừng thổi ngược, sóng mộng…) trong khi chỉ ra Khổ đế trong dòng chuyển biến thời gian đó (thổi ngược, ray rứt, ôm lấy khổ đau, bạc đầu nhớ nhung…). Chúng ta cũng nhớ rằng phương pháp Thiền của ngài Goenka là ban đầu niệm hơi thở rồi tới niệm cảm thọ. Bài thơ này của Nguyễn Bá Chung như sau:

 

Bao mùa lá thổi về đây

Sông sâu con chữ, thuyền đầy nắng mưa

Cỏ vàng thung lũng tuổi thơ

Ngàn hơi thở đã theo bờ gió bay

Bão rừng thổi ngược ngàn cây

Nhặt khoan sóng mộng chiều ray rứt chiều

Nắng về ôm lấy khổ đau

Xin ngồi cho đến bạc đầu nhớ nhung.

 

Có thể thắc mắc về câu cuối: có vẻ rằng trong khi nhà thơ Nguyễn Bá Chung muốn ngồi cho đến bạc đầu, nhưng trường Thiền Goenka theo truyền thống chỉ cho ngồi 10 ngày một khóa là đóng cửa. Thì làm sao mà ngồi cho tới bạc đầu. Thêm nữa, đã ngồi thiền mà lại nhớ nhung thì hằn là lãng mạn không nên. Thế là nhà thơ lại lên đường tiếp. Do vậy, mới phải nói “nắng về ôm lấy khổ đau” – một hình tượng rất Thiền, vì nắng là ánh sáng trí tuệ, ôm lấy khổ đau để nhận ra Khổ đế…
 

Khi đọc Mục Lục, chúng ta sẽ thấy khung trời thơ mộng của NBC cũng hiện ra trên nhan đề các bài thơ: Nguyễn Du, Bùi Giáng, Như Cánh Vạc Bay, La hán Chùa Tây, Đi Chùa Hương, Núi Thị Vải, Tự Ngã I & II, Lễ hội Côn Sơn I & II, Qua tháp Trần Nhân Tông, Gặp một sư trên chùa Trúc Lâm, Viên Chiếu thiền viện, Đêm ngồi đọc kinh, Ải Chi Lăng, Cử Không, Nguyễn Bính, Động Huyền Không, Đến Thiên Trù nhớ sư Viên Giác, Cuộc tái ngộ của hai Thiền sư, Đọc thơ Lý Trần, Trúc Lâm Yên Tử, Công án, Đêm nằm mơ Bùi Giáng, Thiền hành trên quê hương…
 

Tất cả các nhan đề thơ đó cho chúng ta hình dung tác giả hẳn phải là một nhà sư. Vậy mà không phải. Đó là thơ của học giả Nguyễn Bá Chung. Trong thể loại, cũng là ảnh hưởng từ nền văn học hậu bán thế kỷ 20 tại Việt Nam, đa số là thơ lục bát, thơ tám chữ, thơ bảy chữ, thơ năm chữ… Nghĩa là, chúng ta sẽ thấy trên da thịt máu xương nhà thơ Nguyễn Bá Chung là tiếng chuông chùa Lý Trần vang vọng trên các dòng lục bát, nơi đó đã từng nuôi lớn những Nguyễn Du, Bùi Giáng…
 

Trong văn học Việt Nam, có một số nhà thơ nổi tiếng với các bài tự trào, như Nguyễn Khuyến, Phạm Thái, Tú Xương… Mỗi nhà thơ tự trào vẫn có một kiểu cách riêng, đóng khung trong môi trường lịch sử riêng. Trong khi Nguyễn Khuyến tự trào trong cương vị một quan lớn bị giáng chức, rồi từ quan về quê ở ẩn trong thời Pháp lấn quyền vua, với “Mở miệng nói ra gàn bát sách, Mềm môi chén mãi tít cung thang.” Tú Xương lại tự trào khi lang thang nơi chốn bụi đời thành thị giữa lúc giao thời với “Lọng cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê phết đất mụ đầm ra.” Hay nơi thế kỷ 18, nhà thơ Phạm Thái, một thời ẩn vào chùa Tiêu Sơn với đạo hiệu Phổ Chiếu Thiền sư, tự trào sau khi cả gia tộc phù Lê thất bại và bị Tây Sơn đánh cho tan tác với “Năm bảy bài thơ ngâm lếu láo, Một vài câu kệ tụng a ê.”. Nhưng Nguyễn Bá Chung khác hẳn, từ nơi rất xa quê nhà, anh tự trào vì tự tin đã hiểu hết giáo lý nhà Phật nhưng vẫn chưa sống cho trọn.
 

Bài thơ Tự Trào I của Nguyễn Bá Chung với thể thơ thất ngôn, gồm 12 câu trong ba đoạn, nơi trang 33, đã hiển lộ tấm lòng này.

 

Tự trào I

Sống chết chi mà chạy ngược xuôi

Sách vài trăm quyển chữ như rươi

Chân không diệu pháp đây rành hết

Chỉ cái phiền là nhấp nhổm thôi

 

Mới hay nói dễ làm không dễ

Đầu vượn chân dài vạn nỗi tai

Mỏi mòn đôi gót bờ hư thực

Nửa cuộc đời sai vẫn cứ sai

 

Lên xuống thấp cao ngàn ngõ cụt

Ra vào khấp khểnh một đường ngay

Nẻo về không lối hoa dâng bụt

Bát ngát hương rừng một nhánh mai.

 

 Tuy nhiên, tới bài Tự Trào II, cùng thể thơ và độ dài, là một bầu không khí khác hẳn, như dường Nguyễn Bá Chung ra sức ngồi kiết già hoài mà vẫn bất như ý, tới khi tự xem như bại trận, chẳng chờ chẳng đợi gì nữa, thì hốt nhiên “không mong mà lại đươc,” và khi “một cơn gió thổi bay ngàn lá” thì hiển lộ ra màu trăng (trí tuệ) sáng rực giữa sân. Bài thơ này nơi trang 34 như sau.

 

Tự trào II

Dẫu học bao lâu đầu vẫn đặc

Tâm như quạt gió bụi tung trời

Ngồi bệt kiết già dăm bảy chốc

Một đàn kiến lửa kéo ra chơi

 

Thôi ừ bại trận, thôi không ước

Nhấp nhổm chi cho khổ kiếp người

Thôi cứ cho như là chẳng biết

Chẳng chờ chẳng đợi chẳng lôi thôi

 

Có phải không mong mà lại được

Cho nên chờ đợi hóa ra lầm

Một cơng ió thổi bay ngàn lá

Vàng cả màu trăng sáng giữa sân.

 

Tất cả các bài thơ Nguyễn Bá Chung làm có liên hệ tới Bùi Giáng đều hay dị thường, rất hiếm gặp. Đó là bài “Bùi Giáng” nơi trang 46-48, bài    “Nhớ Bùi Giáng” trang 215-217, bài “Trung niên thi sỹ” trang 268, bài “Đêm nằm mơ Bùi Giáng” trang 314.
 

Như trong bài thơ “Bùi Giáng” trang 46-48, làm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, dài 36 câu. Nơi đây, chúng ta trích 8 dòng giữa bài, có nhắc tới hình ảnh “Vạn Hạnh” chỉ cho Đại Học Vạn Hạnh, nơi từng là chỗ nhà thơ Bùi Giáng cư ngụ và lui tới thường xuyên, và “Kim Cương” chỉ tới nữ nghệ sĩ Kim Cương, một bạn thân của nhà thơ họ Bùi. Cũng nhắc tới “Trang Phương” gợi nhớ tới bài thơ tình của Bùi Giáng nhan đề “Xuân thu trang phương” trong tập Mưa Nguồn – trong đó, trang phương là chỉ cho sự hiện diện của người nữ, với chữ trang là làm đẹp dung nhan, và chữ phương là hương thơm đức hạnh. Chữ “Thanh hiên” là hiệu của nhà thơ Nguyễn Du. Trích như sau.

 

Kinh Vạn Hạnh pha bao màu nắng

Gió Kim Cương trải mấy lần vân

Giờ mê hoặc người ngồi dịch sách

Bàng hoàng nghe gió lộng đầy sân?

 

Câu thơ cũ người đề tặng cỏ

Tháng ngày xanh người mải chăn dê

Trời Trang Phương đến giờ mở ngõ

Cõi thanh hiên người có đi về?

 

Để hiểu tất cả các điển tích trong thơ Nguyễn Bá Chung hiển nhiên là cần phải có kiến thức về một thời văn học miền Nam. Tuy nhiên, nếu tách ra khỏi các chữ đầy điển tích đó, hẳn là không có được một bầu không khí gợi nhớ tới Bùi Giáng, Nguyễn Du, Vạn Hạnh, Kim Cương…
 

Cũng hay dị thường là bài thơ “Nhớ Bùi Giáng” với bảy đoạn thơ tám chữ. Bầu không khí trong thơ bảy chữ trong bài vừa dẫn mấy đoạn trên cũng chuyển thành một phương trời rất lạ trong thể thơ tám chữ cùng chủ đề Bùi Giáng. Nếu Nguyễn Bá Chung không hít thở tắm gội trong thơ Bùi Giáng, hẳn là không viết nổi những dòng thơ chở được những thơ mộng thần sầu quỷ khốc như thế. Trong bài “Nhớ Bùi Giáng” ở trang 215-217, có nhắc chuyện Bùi Giáng một thời chăn dê với “con dê choai hoa cà tía con hươu” và thơ họ Bùi đôi khi tặng “con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại” – nơi đây, chúng ta trích ba đoạn giữa như sau (trong thơ, Nguyễn Bá Chung gọi Bùi Giáng là “người”).

 

Thơ người đó – một khoảng trời chợt hẫng

Rơi về đâu – phố thị sa mù xa

Đường lục tỉnh ai có buồn cố quận

Mơ mòng chi – dê trắng, kiến không nhà

 

Người yêu cả cuộc đời – buồn vui lẫn

Yêu say cuồng, yêu dại dột u mê

Người bỏ hết để một lần được đứng

Nhìn dáng em trong cổ mộng đi về

 

Người có khóc trước cuộc đời u uẩn

Thương thời gian tàn lụn giữa thanh hiên

Dù có gọi nhưng lời không đủ gọi

Nên đã đành… tan tác gió qua miền

 

Có một điểm hết sức kinh ngạc: Nguyễn Bá Chung không phải là người ngồi trong cánh cổng nhà chùa, cũng không trực tiếp là học trò của các Thiền sư nổi tiếng được nhắc tới trong thi tập, nhưng tấm lòng thiết tha với Thiền học Việt Nam hiển lộ rất minh bạch trong thơ anh. Bài thơ “Thiền hành trên quê hương” nơi trang 315-317, sáng tác vào tháng 5/2005, gồm chín đoạn thất ngôn tứ tuyệt, ghi lại niềm vui sướng vô bờ khi nhìn thấy Thiền sư Thích Nhất Hạnh về thiền hành trên nhiều nẻo đường quê hương để “thắp niềm tin trên ngàn gẫy đổ” và để “đơm cội nguồn đất mẹ phù sa.” Nơi đây, chúng ta trích ba đoạn thơ Nguyễn Bá Chung ở trang 315-316.

 

Bà cụ già rưng rưng mắt lệ

Bao năm rồi sống lại phút giây

Chú thiền sinh bàng hoàng tỉnh thức

Pháp thoại nào xanh gió xanh cây

 

Cũng pháp ấy – lời tân niên kỷ

Cũng thiền ngồi – hùng tráng uy nghi

Cũng thiền lạy – một thời vô úy

Cũng thiền hành – trời đất cùng đi

 

Giữa quê hương người về chia sẻ

Bao tháng năm gieo pháp xứ người

Nối lại truyền thông từng thế hệ

Ươm tình thâm – hoa trái cuộc đời…

 

Tấm lòng thiết tha của Nguyễn Bá Chung với Thiền học quê nhà hiển lộ rõ trong bài thơ “Cuộc tái ngộ của hai Thiền sư” nơi trang 197-199, gồm sáu đoạn thơ thất ngôn tứ tuyệt, nói về Thiền sư Thích Nhất Hạnh sau nhiều thập niên xa quê nhà đã tới Đà Lạt thăm Thiền sư Thích Thanh Từ. Hai nhà sư, hai khuynh hướng Thiền. Trong khi Thầy Nhất Hạnh lập ra Thiền phái Làng Mai, với cách đơn giản hóa pháp Chánh niệm cho dễ truyền pháp sang phương Tây, Thầy Thanh Từ nơi quê nhà ra sức hồi phục dòng Thiền Trúc Lâm. Trong bài thơ này, Nguyễn Bá Chung dùng chữ Phương Bối để chỉ Thầy Nhất Hạnh, vì Thầy đã thiết lập thiền thất Phương Bối Am ở Bảo Lộc khoảng thập niên 1960s để tìm con đường hoằng pháp qua Thiền. Và thi sĩ dùng chữ Yên Tử để chỉ Thầy Thanh Từ vì công trình hồi phục dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử của các vua nhà Trần. Bài thơ “Cuộc tái ngộ của hai Thiền sư” do Nguyễn Bá Chung sáng tác ngày 16 tháng 6/2008 ghi rõ niềm tin của thi sĩ rằng Thiền tập sẽ “cứu muôn dân” tại quê nhà. Bốn đoạn đầu trong bài thơ này trích như sau.

 

Từ bốn phương trời người trở lại

Đường xa bụi bám cỏ giăng đầy

Giấc mộng chuyển trời Phương Bối nguyện

Yên Tử quê nhà mây trắng bay

 

Thế giới loạn cuồng bom đạn đổ

Thân người cháy rụi lửa hờn cao

Chén trà đạo vị - bao năm – nhắp

Giọt nước cành dương sóng sánh trào…

 

Tay lại nắm tay hồn đất nước

Mái chùa lưu lạc đã bao phương

Tìm về đất mẹ dâng hương tổ

Phổ độ quần sinh đoạn đoạn trường

 

Đại Lào ngõ tịnh bao ngày tháng

Khói đỏ thôn nghèo đất nước phân

Phương Bối ai ngồi trong tịch mặc

Đâu con đường thoát cứu muôn dân…

 

Mỗi bài thơ của Nguyễn Bá Chung luôn luôn như dường là một đoạn trong hành trình trở lại quê nhà, nơi nhà thơ nhìn thấy Phật giáo như những hình tượng hộ trì cho dân tộc Việt. Những xúc động của nhà thơ họ Nguyễn hiện rõ trên từng trang thơ, rất mực trân trọng khi nhìn lại vết tích cổ sử. Như bài thơ “La Hán chùa Tây” nơi trang 81-83 với bảy đoạn thơ thất ngôn tứ tuyệt, ghi hình ảnh tượng đứng mãi trên dòng lịch sử trôi chảy vô thường của dân tộc. Trích ba đoạn cuối bài như sau.

 

Tượng nhìn tượng đứng yên như tạc

Ba trăm năm loạn chẳng hề chi

Đầu vẫn rạng quanh quầng trăng sáng

Gió bụi đồi tây có quản gì

 

Văn hóa bao đời dồn kết lại

Tinh anh phát tiết tự vô hình

Người của muôn năm thần đứng trụ

Như hét, như quần cõi tử sinh

 

Pháp còn bỏ huống chi tà pháp

Tượng còn đây, người tượng chốn nao?

La Hán đứng mắt trừng không hỏi

Dáng đứng vô ngôn lộng gió chiều.

 

Tuyển tập thơ Nguyễn Bá Chung còn rất nhiều điều cần nói tới. Bên cạnh những dòng thơ Thiền tràn ngập và xuất sắc, vẫn còn những bài thơ tình lãng mạn, thơ mộng và nuối tiếc. Như bài thơ “Tiếng xưa” trang 97, chỉ có hai đoạn thơ ngũ ngôn tứ tuyệt nhưng chở cả một khung trời kỷ niệm.

 

Nhớ lời ai năm trước

Nhớ hình ai trong sương

Ra đi mờ lửa loạn

Từ cỏ dại lên đường.

 

Hôm nay nhìn mây trắng

Ôi nhớ tiếng ai cười

Giật mình bên ngõ quạnh

Một chiếc lá đang rơi.

 

Đọc kỹ, sẽ thấy tập thơ có lỗi kỹ thuật: in trùng bài thơ “New England mùa thu” ở trang 244 và rồi in lại ở trang 279. Tương tự, bài thơ “Chùa quê” in ở trang 72 và 73 rồi in lại ở trang 128 và 129. Chúng ta dễ hiểu tại sao xảy ra chuyện in trùng, chỉ vì tác giả cư trú ở Hoa Kỳ trong khi biên tập và nhà in ở Việt Nam. Thi tập “Thơ Nguyễn Bá Chung tuyển tập” do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành.
 

Tác giả Nguyễn Bá Chung sinh năm 1949 tại Hải Dương, học trung học tại Sài Gòn. Năm 1971 được học bổng du học hậu đại học và định cư tại Hoa Kỳ từ đó đến nay. Ông là chuyên gia giáo dục của viện William Joiner thuộc đại học Masachusetts, Boston; từng là giám đốc chương trình nghiên cứu Rockefelle; giảng viên đại học Masachusetts; điều phối viên chương trình Học hè tại Huế và chương trình trao đổi văn học Mỹ - Việt Nam.
 

Nguyễn Bá Chung là nhà thơ, dịch giả, nhà bình luận văn chương. Ông là đồng dịch giả tiểu thuyết Thời xa vắng của nhà văn Lê Lựu  và cũng là đồng chủ biên 12 tuyển tập song ngữ của Văn học Việt Nam – Moutain River. Nhà thơ Nguyễn Bá Chung có nhiều bài viết trên các chương trình TV và các tạp chí: TV Vietnam Forum, New Asia Review, Boston Review, Compost, Nation, Manoa, Vietnam Reflection (PBS TV History), Cyphers, First Pages…
 

Ông là tác giả của 4 tập thơ: Mưa ngàn (1996), Ngõ hạnh (1997), Tuổi ngàn năm đến từ buổi sơ sinh (1999), Nguồn (2009) và Thơ Nguyễn Bá Chung tuyển tập vừa ra đời tháng 10.2022. 

Các công trình nổi bật về Phật giáo của Nguyễn Bá Chung là: Ly Tran Zen Poems (nxb Văn Hóa Sài Gòn, 2005, tái bản 6/2007); Le Nguyen Zen Poems (nxb Hội Nhà Văn 6/2019).

 

Trước đây, những người Việt Nam nhập cư đến Hoa kỳ trước ngày 12 tháng 7 năm 1995 phần lớn được bảo vệ khỏi việc bị trục xuất theo các thỏa thuận giữa Hoa kỳ và Việt Nam. Năm 2008, Hoa kỳ và Việt Nam đã ký một thỏa thuận về việc trục xuất người về Việt Nam, nhưng thỏa thuận này loại trừ những người nhập cư đến Hoa kỳ trước ngày 12 tháng 7 năm 1995 – ngày Hà Nội và Washington bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
“Cứu tôi! Cứu tôi! Tay tôi gãy rồi! Đau quá!” Tiếng kêu thất thanh của một người đàn ông nằm úp mặt dưới rãnh nước bên đường, trong lúc các nhân viên di trú liên bang đè giữ và còng tay ông, đã gây phẫn nộ tại Long Beach sau khi đoạn video ghi lại cảnh tượng này được phổ biến trên mạng xã hội. Người đàn ông là Ricardo Gonzalez, một cựu nhân viên lâu năm của thành phố Long Beach, người nói rằng mình là công dân Hoa Kỳ. Ông bị thương nặng trong cuộc bố ráp của Cơ Quan Thi Hành Luật Di Trú và Quan Thuế Hoa Kỳ (Immigration and Customs Enforcement, ICE) hôm thứ Bảy, 17 Tháng Mười, tại khu dân cư phía Bắc Long Beach.
Hoa Kỳ đang đối diện nguy cơ mất dần những tài năng khoa học hàng đầu khi ngày càng nhiều nhà nghiên cứu quyết định ra nước ngoài làm việc, vì chính quyền Tổng thống Donald Trump cắt giảm ngân sách và gia tăng sự kiểm soát chính trị đối với các công trình nghiên cứu. Theo hãng thông tấn AP ngày 19 tháng Mười, 2026, các đại học tại Canada, Pháp, Bỉ, Phần Lan, Anh và Úc đang tích cực tuyển mộ khoa học gia từ Hoa Kỳ, hứa hẹn ngân khoản ổn định và quyền tự do nghiên cứu, những điều mà giới khoa học Mỹ ngày càng cảm thấy bất an ngay trên đất nước mình.
Hàng trăm ngàn người xuống đường trên khắp nước Pháp hôm thứ Bảy, 17 tháng Mười, phản đối giá sinh hoạt tăng cao và tình trạng thiếu ngân sách dành cho giáo dục cùng các dịch vụ công cộng. Những cuộc biểu tình ban đầu ôn hòa đã biến thành bạo loạn tại nhiều thành phố, với các vụ đốt phá, cướp bóc và đụng độ dữ dội giữa người biểu tình với cảnh sát.
Nữ Dân biểu Cộng Hòa María Elvira Salazar, đại diện địa hạt 27 của Florida, đã công khai cảnh cáo Tổng thống Donald Trump rằng chính sách trục xuất di dân quá mạnh tay của ông đang khiến nhiều cử tri gốc Mỹ La Tinh quay lưng với đảng Cộng Hòa, chỉ vài tuần trước cuộc bầu cử Quốc Hội giữa nhiệm kỳ. Theo NPR ngày 18 tháng Mười, bà Salazar, một người Mỹ gốc Cuba đã phục vụ ba nhiệm kỳ tại Quốc Hội, thực hiện một quảng cáo truyền hình hồi tháng Chín, đứng trước Bạch Ốc và nói thẳng với Trump: “Ông đã đi quá xa.”
Khẩu hiệu “No Kings” (Không có vua) xuất hiện trong các cuộc tuần hành tại Hoa Kỳ không chỉ thể hiện khát vọng bảo vệ dân chủ mà còn gợi mở những suy ngẫm về giới hạn của quyền lực, trách nhiệm cộng đồng và tinh thần hòa bình dưới góc nhìn Phật giáo. // The slogan “No Kings,” seen at demonstrations across the United States, expresses not only the aspiration to safeguard democracy but also invites deeper reflection on the limits of power, communal responsibility, and the spirit of peace from a Buddhist perspective.
Nếu bạn chưa bầu phiếu, hãy khẩn cấp điền các lá phiếu, và đừng tin vào Bưu điện, hãy tìm các thùng phiếu của quận để bỏ phiếu vào thùng. Vì rất nhiều lá phiếu đã bị 5 tiểu bang (trong đó có California) quăng bỏ vì trễ hay vì Bưu điện đóng dấu trễ.
Garden Grove: ông Tuan Nguyen bị truy tố vì cậu con trai 13 tuổi lái xe máy điện tốc độ cao, vượt đèn đỏ, bị truy đuổi rồi tông vào xe cảnh sát - Santa Ana: Truy tố ba và mẹ của cậu Benson Nguyen vì cậu lái xe e-moto bị tử nạn
Do vậy, quý vị có thời gian rảnh, muốn luyện tập cơ thể để tăng thêm sức khỏe xin hãy ghé đến thăm nơi đây là: Chùa Bảo Quang 713 N. Newhope St. Santa Ana – CA 92703. -- Chiều Thứ Bảy và Chiều Chủ Nhật, lúc 6 giờ đến 8 giờ tối. Quý vị có thể xem các anh – chị - em trong Tiên Long Võ Đạo tập luyện tại sân chùa…dưới sự hướng dẫn của các anh - chị võ đạo. Riêng thầy Song Yến Phi - Sư trưởng, tính tình rất hòa ái luôn luôn vui vẻ - tận tình hướng dẫn cặn kẽ cho từng võ sinh, gồm nhiều lứa tuổi đang tập luyện, nam - nữ tham gia đều được….
1. Macron Chỉ Trích Trump Lợi Dụng Bạo Loạn Tại Pháp Để Vận Động Tranh Cử, Loan Truyền Tin Sai Sự Thật 2. Em Trai Cựu Tổng Thống George W. Bush Bỏ Phiếu Cho Đảng Dân Chủ: “Tư Cách Quan Trọng Hơn Đảng Phái” 3. Đức Giáo Hoàng Leo XIV Không Cần Điều Trị Thêm Sau Ca Giải Phẫu Ung Thư Phổi 4. Đảng Dân Chủ Kiện Chính Quyền Trump Đe Dọa Viên Chức Bầu Cử, Đòi Gạt Cử Tri Khỏi Danh Sách 5. Tối Cao Pháp Viện Bác Yêu Cầu Của Trump, Tiếp Tục Cho Phép Điều Trị Y Tế Đối Với Tù Nhân Chuyển Giới 6. Bạch Ốc Cấm Phóng Viên Theo Trump, Đe Dọa Politico Vì Những Bài Báo Bất Lợi 7. Meta Bị Phạt 25 Tỷ Mỹ Kim Vì Lừa Dối Người Dùng Facebook Về Quyền Riêng Tư 8. Dân Biểu Ilhan Omar Phải Dọn Nhà Vì Bị Đe Dọa Tính Mạng Sau Cuộc Khám Xét Của Liên Bang 9. Không Khí Ô Nhiễm Có Thể Làm Não Teo Nhỏ, Gia Tăng Nguy Cơ Mất Trí Nhớ
Thực tế: dân Canada chi trả cho y tế toàn dân. Luật Canada Health Act bảo đảm tất cả cư dân đều được chăm sóc y tế bất kể khả năng chi trả
- Nga đang chiếm 25% lãnh thổ Ukraine, và đóng băng để hòa đàm không có nghĩa là Ukraine công nhận chủ quyền pháp lý của Nga ở vùng chiếm đóng - Putin: đồng ý "về nguyên tắc" về nối lại đàm phán ba bên sau ngày 10 tháng 11 - Trump hy vọng sẽ ép Zelensky ký hòa ước nhượng đất cho Putin trước cuối năm.
Nobel Văn Chương thường là giải thưởng cao quý nhất trên thế giới cho cả sự nghiệp văn chương của cho toàn bộ tác phẩm (hoặc tác phẩm tiêu biểu) đóng góp văn chương của tác giả. Mỗi năm, Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển thông báo hàng ngàn đề nghị ứng cử viên được gửi đi trên thế giới. Các đề cử tác giả phải được gửi đến Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển trước ngày 1 tháng 2, sau đó một ủy ban sẽ xem xét các đề cử kỹ lưỡng. Từ tháng 4, giới hạn số ứng cử xuống còn khoảng 20, đến mùa hè thì chỉ còn khoảng 5 tác giả nằm trong danh sách đề cử. Các tháng tiếp theo, viện sĩ của Viện bắt đầu nghiên cứu kỹ tác phẩm của những ứng cử viên cuối cùng… Giải thưởng thường công bố vào tháng 10.
• ‘Trump bộc lộ khao khát mãnh liệt đối với một nam thượng nghị sĩ MAGA’ • Dùng quảng cáo ‘bẩn’ tấn công đối thủ, Ramaswamy nhận bão chỉ trích • Đặc vụ liên bang gõ cửa từng nhà, tìm người không phải công dân Mỹ ghi danh đi bầu • Danh sách ‘nhiều khả năng’ không phải công dân Mỹ ở California lại là những người sinh ra tại Hoa Kỳ • Đặc sứ Witkoff nói Putin “nhân đạo” sau khi Nga trả tự do cho một công dân Mỹ • CNN dọa kiện chính quyền Trump vì tiếp tục cấm phóng viên lên Air Force One • Các công ty thực phẩm kiện chính quyền Trump, đòi chặn thuế quan 50% đối với hàng Canada • Zelenskyy cho biết Mỹ đã nối lại việc chia sẻ tình báo về các cuộc tấn công của Nga
Trụ trì Thiền Viện Chân Nguyên, Edelanto, California, USA Do niên cao lạp trưởng, ngài đã thuận thế vô thường, thâu thần viên tịch vào lúc 07 giờ 32 phút tối ngày 02 tháng 10 năm 2026 (tức ngày 22 tháng 08 năm Bính Ngọ), tại California. • Trụ thế: 85 năm. Hạ lạp: 25 năm
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.