Hôm nay,  

Đức Phật Dạy Pháp Môn Bất Nhị

22/03/202305:24:00(Xem: 5619)

blank 

Đức Phật Dạy Pháp Môn Bất Nhị

 

Nguyên Giác

 

 

Cửa vào bất nhị, còn gọi là pháp môn bất nhị, từ xa xưa đã được truyền dạy từ thời Đức Phật, chứ không phải là hậu tác của chư tổ Bắc Tông, như một số vị thầy hiện nay đã ngộ nhận, khi nói rằng pháp môn này xuất phát từ Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết – một bản kinh tuyệt tác về pháp môn bất nhị -- chỉ xuất hiện vài thế kỷ sau khi Đức Phật nhập Niết bàn. Bài này sẽ giải thích rằng pháp môn bất nhị là những lời dạy cốt tủy của Đức Phật (và là của Thiền Tông Việt Nam) và ai cũng có thể nhận ra được, trải nghiệm được.

 

Trước tiên để nhắc lại trong Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, nơi Chương 9 kể rằng Duy Ma Cật nói với các Bồ tát hiện diện: “Thưa các nhân giả, thế nào là Bồ tát vào Pháp môn bất nhị?” Lúc đó, 32 vị Bồ tát trả lời, tất cả các câu trả lời đều tuyệt vời ý đạo. Nơi đây, theo bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ, xin trích ra vài câu trả lời từ vài vị Bồ tát để thấy khái quát tinh thần bất nhị trong thế giới nhị nguyên vây quanh chúng ta:

 

“6. Bồ tát Thiện Nhãn nói: «Nhất tướng với vô tướng là hai. Hiểu được nhất tướng rốt ráo là vô tướng, không chấp vào vô tướng để thành tựu bình đẳng, đó là vào Pháp môn bất nhị.»

7. Bồ tát Diệu Tý nói: «Tâm Bồ tát với tâm Thanh-văn là hai. Quán tướng của tâm vốn rỗng không, hư ảo, thì chẳng có tâm nào là tâm Bồ tát hay tâm Thanh-văn. Đó là vào Pháp môn bất nhị.»

8. Bồ tát Phất-sa nói: «Thiện và bất thiện là hai. Nếu không khởi thiện hay bất thiện là nhận chân thật tế của vô tướng. Thông suốt như vậy là vào Pháp môn bất nhị.»

...[…] 13. Bồ tát Thiện Ý nói: «Sinh tử và Niết bàn là hai. Nếu thấy được tánh của sinh tử thì chẳng còn sinh tử, không trói buộc, không cởi mở, không bùng cháy, không dập tắt. Hiểu được vậy là vào Pháp môn bất nhị.»

...[…] Chư Bồ tát đã lần lượt từng vị trình bày xong, liền hỏi Văn-thù-sư-lợi: «Thế nào là Bồ tát vào Pháp môn bất nhị?»

Văn-thù-sư-lợi nói: «Theo ý tôi, đối với hết thảy pháp không nói, không thuyết, không chỉ thị, không nhận thức; vượt ngoài vấn đáp. Đó là vào bất nhị pháp môn.»

Đoạn Văn-thù hỏi Duy-ma-cật: «Chúng tôi mỗi người đã nói rồi, xin nhân giả cho biết thế nào là Bồ tát vào Pháp môn bất nhị?»

Bấy giờ, Duy-ma-cật lặng im không nói. Văn-thù-sư-lợi tán thán: «Tuyệt, tuyệt thay; cho đến không còn văn tự và ngôn thuyết, ấy mới thật là vào Pháp môn bất nhị.» (1)

 

Lặng im không nói… Trong khi chỉ lối vào pháp môn bất nhị, nổi bật trong Thiền sử Việt Nam có ngài Vô Ngôn Thông (759 – 826), đã truyền dạy cách nhận ra bản tâm vốn xa lìa mọi lời nói, xa lìa mọi cái thấy có và không, xa lìa tất cả những gì của ngôn ngữ, dứt bặt tất cả những hình ảnh và ký hiệu trong tâm để hiển lộ Niết bàn tâm.

Ngài Vô Ngôn Thông không phải là vị thầy duy nhất như thế: Dò lại kinh điển, chúng ta sẽ thấy ngay trong thời Đức Phật, cũng đã có Trưởng lão Thera Revata truyền dạy bằng pháp vô ngôn. Trong Kinh Pháp Cú, khi Đức Phật tuyên thuyết các bài kệ 227-230 là từ một trường hợp đặc biệt, liên hệ tới cư sĩ Atula đi hỏi pháp. Và nơi đầu tiên mà ngài Atula và 500 cư sĩ tới hỏi pháp là một vị trưởng lão truyền dạy bằng vô ngôn tịch lặng. Đây là chỗ chúng ta cần suy nghĩ: Tại sao nơi đầu tiên tới hỏi pháp lại là vị Trưởng lão nổi tiếng về vô ngôn?

 

Trong khi cư trú tại tịnh xá Jetavana, Đức Phật đã đọc các bài kệ từ 227 đến 230 trong Kinh Pháp Cú. Lúc đó, cư sĩ Atula và 500 bạn đồng hành, muốn nghe những lời pháp, nên đi đến Trưởng lão Revata. Tuy nhiên, sách kể rằng, Trưởng lão Revata rất xa vời như một con sư tử: ngài không nói gì với họ. Than ôi, đâu phải ai cũng nhận ra cái tịch lặng tuyệt vời này. Ngay cả trong Thiền Tông đời sau cũng thế, không dễ mấy người vào.

Nhóm cư sĩ cảm thấy bất mãn và do vậy họ đi đến Trưởng lão Sariputta. Khi trưởng lão Sariputta biết được lý do tại sao họ đến đây, ngài giải thích cặn kẽ về Abhidhamma. Ngài cũng không được họ ưa thích, và họ than phiền rằng Trưởng lão Sàriputta dạy quá dài dòng và quá phức tạp. Thế rồi, Atula và nhóm 500 cư sĩ tìm gặp Trưởng lão Ananda. Ngài Ananda giải thích cho họ những điều cơ bản nhất của Giáo pháp. Lần này, họ nhận xét rằng Trưởng lão Ananda đã dạy quá ngắn và quá sơ sài.

 

Cuối cùng, họ đến gặp Đức Phật và trình với Ngài: “Bạch Thế Tôn, chúng con đến để nghe lời dạy của Ngài. Trước khi đến đây, chúng con đã từng gặp những vị thầy khác, nhưng chúng con không hài lòng với bất kỳ vị nào trong số họ. Trưởng lão Revata không bận tâm dạy pháp vì ngài Revata chỉ giữ im lặng. Trưởng lão Sariputta dạy quá phức tạp, quá khó hiểu đối với chúng con. Còn Trưởng lão Ananda, ngài quá ngắn gọn và quá sơ sài. Chúng con không thích bất kỳ bài giảng nào của họ.”

Đức Phật mới nói: “Các đệ tử của ta, đổ lỗi cho người khác không phải là điều gì mới. Trên đời này không có ai là không bao giờ bị than phiền, người ta sẽ đổ lỗi cho cả một vị vua, thậm chí cả một vị Phật. Bị chê hay được khen bởi một kẻ ngu không có gì để bận tâm, chỉ khi bị người trí chê trách mới thực sự đáng trách, và chỉ thực sự là được khen ngợi khi được người trí thức khen ngợi.”

 

Rồi Đức Phật nói các bài kệ cho sự tích này như sau, theo bản dịch của Thầy Minh Châu:

 

“Kệ 227: A-tu-la, nên biết. Xưa vậy, nay cũng vậy. Ngồi im, bị người chê. Nói nhiều bị người chê. Nói vừa phải, bị chê. Làm người không bị chê, Thật khó tìm ở đời.

Kệ 228: Xưa, vị lai, và nay. Đâu có sự kiện này. Người hoàn toàn bị chê. Người trọn vẹn được khen.

Kệ 229: Sáng sáng, thẩm xét kỹ. Bậc có trí tán thán. Bậc trí không tỳ vết. Đầy đủ giới định tuệ.

Kệ 230: Hạnh sáng như vàng ròng. Ai dám chê vị ấy? Chư thiên phải khen thưởng, Phạm Thiên cũng tán dương.” (2)

Vào cuối bài giảng, Atula và 500 bạn đồng hành cùng đạt được Quả Dự Lưu.

 

Tới đây, chúng ta sẽ thảo luận về một công án. Trong Bích Nham Lục, Tắc 84 là Duy Ma Pháp Môn Bất Nhị, bản dịch của Thầy Thanh Từ trích như sau:

 

“LỜI DẪN: Bảo phải phải không chỗ phải, nói quấy quấy không chỗ quấy, phải quấy được mất cả hai quên, sạch trơn trọi hiện bày thong dong. Hãy nói trước mặt sau lưng là cái gì? Có Thiền khách ra nói: Trước mặt là điện Phật, ba cửa, sau lưng là nhà nghỉ, phương trượng. Thử nói người này lại đủ mắt hay không? Nếu biện được người này, hứa ông thân thấy cổ nhân đến.

CÔNG ÁN: Duy-ma-cật hỏi Văn-thù-sư-lợi: Những gì là Bồ-tát vào pháp môn bất nhị? Văn-thù đáp: Như ý tôi, đối tất cả pháp không nói không lời, không chỉ không biết, lìa các vấn đáp, ấy là vào pháp môn bất nhị. Văn-thù-sư-lợi hỏi Duy-ma-cật: Chúng tôi mỗi người tự nói xong, nhân giả phải nói những gì là Bồ-tát vào pháp môn bất nhị? Tuyết Đậu nói: Duy-ma-cật nói gì? Lại bảo: Khám phá xong.” (3)

 

Trong khi sách Bích Nham Lục (Tên tiếng Anh: The Blue Cliff Record) chọn công án này làm công án thứ 84, thì Thung Dung Lục (Tên tiếng Anh: Book of Serenity) chọn làm công án thứ 48. Câu cuối Tắc 84 của hai sách khác nhau.

Trong khi Bích Nham Lục ghi: “Tuyết Đậu nói: Duy-ma-cật nói gì? Lại bảo: Khám phá xong.” Thì Thung Dung Lục ghi: “Duy Ma Cật vẫn im lặng.” Những dị biệt trong câu cuối của 2 sách Bích Nham Lục và Thung Dung Lục không quan trọng gì, bởi vì Lời Dẫn của ngài Viên Ngộ đã nói minh bạch, cho thấy không có gì là bí ẩn, đã làm lộ minh bạch ra ý của người xưa. Yếu chỉ đó nằm trong bài Bát Nhã Tâm Kinh được tụng hàng ngày trong các chùa của Phật giáo Bắc truyền, và Tâm Kinh đã hàng ngày chỉ rõ cửa vào pháp môn bất nhị. Và bởi vì Lời Dẫn cô đọng trong Tắc 84, khi  dựa theo các bản Anh dịch của Thomas Cleary & J. C. Cleary và bản của Meredith Hotetsu Garmon, chúng ta viết lại mấy dòng đầu Lời Dẫn cho đơn giản như sau:

 

“Không có gì đúng mà có thể thực sự gọi là đúng, không có gì sai mà có thể thực sự gọi là sai. Khi đúng và sai được buông bỏ, được và mất đều sẽ quên bặt, [tâm ngươi sẽ] hiện ra trần trụi phơi bày, rất mực thong dong… [phần tiếp theo, trích theo Thầy Thanh Từ] Hãy nói trước mặt sau lưng là cái gì? Có Thiền khách ra nói: Trước mặt là điện Phật, ba cửa, sau lưng là nhà nghỉ, phương trượng. Thử nói người này lại đủ mắt hay không? Nếu biện được người này, hứa ông thân thấy cổ nhân đến.”

 

Để nói bất nhị, chúng ta khảo sát về đúng/sai, được/mất, trước mặt/sau lưng (nơi đây xin ghi chú: trước mặt, khi hiểu là tương lai, sau lưng sẽ hiểu là quá khứ; khi trước mặt hiểu là cái được thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm thọ, tư lường… thì sau lưng là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý…)

 

Đọc kỹ Kinh Pháp Cú, chúng ta sẽ thấy Đức Phật nói pháp bất nhị như sau:

- nói trong bài Kệ 39 rằng người đã buông bỏ cả thiện và ác thì không sợ hãi gì;

- nói trong bài Kệ 126 rằng người không rơi vào thiện (lên trời) và ác (xuống địa ngục) thì thành tựu Niết Bàn;

- nói trong bài Kệ 267 rằng người đã ném bỏ hết mọi pháp thiện và ác thì được gọi là một vị sư;

- và nói trong bài Kệ 412 rằng người vượt qua sự trói buộc của mọi pháp thiện và ác thì được Phật gọi là một vị Bà La Môn.

 

Chỗ này, cần phải luôn luôn nhớ rằng sống với thực tướng là lìa cả thiện và ác, nhưng lối vào là phải “ly dục, ly bất thiện pháp” – vì nếu không ly dục và ly bất thiện pháp, sẽ không vào được sơ thiền, thậm chí cũng không tới được cận định. Vì dục là dòng sông, tạo ra bờ này (sinh tử) và bờ kia (giải thoát), và khi ly duc thì dòng sông sẽ cạn, sẽ thấy bờ này với bờ kia chỉ là giấc mộng đêm qua. Do vậy, phải thấy được thực tướng bất nhị, tức là thấy tánh, chính là con đường tắt, và là cốt tủy Thiền Tông. Đó là khi Có (hiện hữu) và Không (không hiện hữu) đều dứt bặt. Đó là khi Sanh Khởi và Không Sanh Khởi đều dứt bặt, là khi tâm xa lìa mọi ngôn thuyết, như trong Kinh Lăng Già gọi là ly tứ cú, tuyệt bách phi. Thấy được chỗ này, là tự nhiên tâm bình lặng, sẽ không còn lăng xăng ngờ vực, sẽ không còn thắc mắc là khi tập thiền cần phải tập ngồi hay tập đứng, tập sáng hay tập chiều…

 

Bất nhị, còn gọi là trung đạo. Đức Phật đã nhiều lần thuyết về trung đạo. Trong Kinh SN 12.15, giải thích về bất nhị bằng cách chỉ ra tâm giải thoát là xa lìa nhị nguyên: xa lìa cả Có với Không, xa lìa cả Hiện hữu và Không hiện hữu, xa lìa cả tập khởi và đoạn diệt. Trích bản dịch của Thầy Minh Châu như sau:

 

“—Này Hiền giả Channa, tôi tận mặt nghe Thế Tôn, tận mặt nhận lãnh từ Thế Tôn lời giáo giới này cho Kaccànaghotta: “Thế giới này dựa trên hai (quan điểm), này Kaccāna, hiện hữu và không hiện hữu. Ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự tập khởi của thế giới, thì không chấp nhận là thế giới không hiện hữu! Nhưng này Kaccāna, ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự đoạn diệt của thế giới, thì cũng không chấp nhận là thế giới có hiện hữu. Thế giới này phần lớn, này Kaccāna, là chấp thủ các phương tiện và bị trói buộc bởi thành kiến. Với ai không đi đến, không chấp thủ, không an trú vào chấp thủ các phương tiện, tâm không an trú vào thiên kiến tùy miên, vị ấy không nói: ‘Đây là tự ngã của tôi”. Với ai nghĩ rằng: ‘Cái gì khởi lên là đau khổ, cái gì diệt là đau khổ’, vị ấy không có phân vân, nghi hoặc. Trí ở đây không mượn nhờ người khác. Cho đến như vậy, này Kaccāna, là chánh trí”.

“‘Tất cả đều có’, này Kaccāna, là một cực đoan. ‘Tất cả đều không có' là một cực đoan. Không chấp nhận hai cực đoan ấy, này Kaccāna, Như Lai thuyết pháp một cách trung đạo. Do duyên vô minh, nên hành khởi...” (4)

  

Cái chỗ bất nhị bất khả ngôn thuyết đó, từng có một lần Đức Phật nói rằng có nói gì cũng không trúng. Đó là trong Kinh MN 72, khi Đức Phật trả lời một du sĩ ngoại đạo, trích:

 

“—Thưa Tôn giả Gotama, một Tỷ-kheo được tâm giải thoát như vậy sanh khởi chỗ nào?

—Sanh khởi, này Vaccha, không có áp dụng.

—Như vậy, Tôn giả Gotama, vị ấy không sanh khởi?

—Không sanh khởi, này Vaccha, không có áp dụng.

—Như vậy, Tôn giả Gotama, vị ấy sanh khởi và không sanh khởi?

—Sanh khởi và không sanh khởi, này Vaccha, không có áp dụng.

—Như vậy, Tôn giả Gotama, vị ấy không sanh khởi và không không sanh khởi?

—Không sanh khởi và không không sanh khởi, này Vaccha, không có áp dụng.”(5)

 

Tới đây, chúng ta có một cách thảo luận tiếp về Tắc 84 Bích Nham Lục, khi một Thiền khách nói: “Trước mặt là điện Phật, ba cửa; sau lưng là nhà nghỉ, phương trượng” ngài Viên Ngộ mới hỏi: “Thử nói người này lại đủ mắt hay không?” Nơi đây, chúng ta đọc lại Kinh Uragasutta trong Tiểu Bộ Kinh, còn gọi là Kinh Con Rắn, ký số là Kinh Snp 1.1. Kinh này có 17 đoạn, mỗi đoạn 4 câu, theo các bản Anh văn của Nyanaponika Thera, Thanissaro, Sujato, Khantipalo. Ngài Viên Ngộ muốn chỉ thẳng vào tâm giải thoát, qua câu hỏi đã ám chỉ rằng người có mắt không nên nói trước mặt là điện Phật và không nên nói sau lưng la nhà nghỉ. Nơi đây, chúng ta dịch các đoạn 9-13 của Kinh Snp 1.1, như sau.

  

Người không đi quá xa, cũng không tụt lại phía sau

và biết về thế giới: “Tất cả đều không thật,”

  — nhà sư như thế rời bỏ cả bờ này và bờ kia,

hệt như con rắn lột bỏ lớp da sần sùi của nó.

      

Người không đi quá xa, cũng không tụt lại phía sau,

xa lìa tham, vị nay biết: “Tất cả đều không thật,”

  — nhà sư như thế rời bỏ cả bờ này và bờ kia,

hệt như con rắn lột bỏ lớp da sần sùi của nó.

       

Người không đi quá xa, cũng không tụt lại phía sau,

xa lìa dục, vị này biết: “Tất cả đều không thật,”

  — nhà sư như thế rời bỏ cả bờ này và bờ kia,

hệt như con rắn lột bỏ lớp da sần sùi của nó.

          

Người không đi quá xa, cũng không tụt lại phía sau,

xa lìa sân, vị này biết: “Tất cả đều không thật,”

  — nhà sư như thế rời bỏ cả bờ này và bờ kia,

hệt như con rắn lột bỏ lớp da sần sùi của nó.

   

Người không đi quá xa cũng không tụt lại phía sau,

xa lìa si mê, vị này biết: “Tất cả đều không thật,”

  — nhà sư như thế rời bỏ cả bờ này và bờ kia,

hệt như con rắn lột bỏ lớp da sần sùi của nó. (6)

                  

Pháp bất nhị cũng được Đức Phật đưa vào Kinh Nhật Tụng Sơ Thời, trong nhóm kinh chư tăng ni phải tụng hàng ngày trong những năm đầu Đức Phật hoằng pháp. Nơi đây, chúng ta dẫn ra Kinh Snp 4.5 – tức là Paramaṭṭhaka Sutta, còn gọi là Kinh Về Tối Thượng. Nơi đây, Đức Phật dạy rằng tất cả những gì được thấy, được nghe, được tư lường… chớ có nắm giữ một kiến nào, tức là hãy vô sở kiến. Nơi đây y hệt văn phong của Lục Tổ Huệ Năng. Trích bản dịch Nguyên Giác như sau:

           

801

Người trí không nghiêng về bất kỳ phía nào

dù về hữu hay phi hữu (có/không), dù cõi này hay cõi sau

Không có gì để nắm giữ, bấu víu trong

tất cả các giáo thuyết người này đã học và suy tính

             

802

Trong những cái được thấy, nghe, nhận biết

chớ để một niệm vi tế nào khởi trong tâm

Với người không nắm giữ một kiến nào như thế

làm sao có ai trong thế giới này xếp loại được vị đó.

            

803

Vị đó không dựng lập, thiên về,

không nắm giữ giáo thuyết nào

không bị dẫn dắt bởi giới luật hay nghi lễ tôn giáo

Sống với Như Thị [is Thus] vị đó qua bờ, không lùi lại. (7)

  

Tới đây, chúng ta đi tới câu hỏi: có cách nào ngắn gọn để vào cửa bất nhị hay không? Có lẽ có nhiều. Đức Phật đã dạy rất nhiều, như dẫn trên. Nhưng có một kinh, kể rằng khi ngài Yamaka khởi tà kiến rằng giải thoát là đoạn tận lậu hoặc, khi tới thời thân hoại mạng chung, rồi sẽ không còn gì nữa sau khi chết. Nghĩ như thế là tà kiến, vì rơi vào chủ nghĩa hư vô, cho rằng vào Niết Bàn là xóa sổ hoàn toàn. Khi biết chuyện, ngài Xá Lợi Phất mới tới giải thích với ngài Yamaka, rằng không nên giữ tà kiến rằng giải thoát là hư vô, và chỉ ra một pháp đơn giản là quán vô thường ở sắc thọ tưởng hành thức, và khi quán vô thường như thế, khi thấy thường trực vô thường ở thân tâm là sẽ “không còn trở lui trạng thái này nữa” – tức là giải thoát, nhưng không thể nói là Có hay Không, vì đã lìa tất cả ngôn ngữ của cõi này.

 

Khi thấy vô thường chảy xiết qua thân tâm mình, sẽ thấy vô ngã, sẽ thấy không một cái gì gọi được là cái gì, sẽ thấy ly dục (vì trong vô thường, sẽ không có gì trụ ở thân tâm mình), sẽ thấy lìa cả thiện và bất thiện (vì không có bất kỳ một pháp nào hiển lộ trong tâm mình nơi dòng chảy vô thường), sẽ thấy trong tâm xa lìa cả bờ này và bờ kia (vì không bờ nào thành hình trong dòng chảy vô thường)… Kinh SN 22.85, bản dịch của Thầy Minh Châu, trích như sau.  

 

“Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Yamaka:

—Có thật chăng, Hiền giả Yamaka, Hiền giả có khởi lên ác tà kiến như sau: “Như ta đã hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp … không còn gì nữa sau khi chết”.

—Thưa Hiền giả, tôi hiểu như vậy lời Thế Tôn thuyết pháp: “Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết”.

—Hiền giả nghĩ thế nào, Hiền giả Yamaka, sắc là thường hay vô thường?

—Là vô thường, này Hiền giả.

—Thọ … tưởng … các hành … thức là thường hay vô thường?

—Là vô thường, này Hiền giả.

—Do vậy … thấy vậy … ” … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Vị ấy biết rõ như vậy.” (8)

 

Và do vậy, khi thường trực thấy vô thường chảy xiết qua thân tâm, sẽ thấy đó là bất nhị, cũng không thể gọi là một hay hai, là ba hay tư, là năm hay sáu, là ít hay nhiều, vì đã lìa tất cả ngôn thuyết, lìa tất cả đo đếm... Đó là hạnh phúc vô cùng tận.  

 

GHI CHÚ:

(1) Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết. Thầy Tuệ Sỹ dịch. https://thuvienhoasen.org/p16a1647/chuong-9-phap-mon-bat-nhi

(2) Kinh Pháp Cú. Thầy Minh Châu dịch. https://thuvienhoasen.org/p15a7962/pham-11-20

(3) Bích Nham Lục. Thầy Thanh Từ dịch: https://thuvienhoasen.org/p33a7589/tac-82-tac-85

(4) Kinh SN 12.15: https://suttacentral.net/sn12.15/vi/minh_chau

(5) Kinh MN 72. Thầy Minh Châu dịch. https://suttacentral.net/mn72/vi/minh_chau

(6) Kinh Snp 1.1, bản Nyanaponika: https://accesstoinsight.org/tipitaka/kn/snp/snp.1.01.nypo.html

Bản Thanissaro: https://accesstoinsight.org/tipitaka/kn/snp/snp.1.01.than.html

(7) Kinh Snp 4.5. Nguyên Giác dịch. https://thuvienhoasen.org/p15a30598/sn-4-5-parama-haka-sutta-kinh-ve-toi-thuong

(8) Kinh SN 22.85: https://suttacentral.net/sn22.85/vi/minh_chau

  

 

 




Sau những hành động thiếu văn hóa của nhóm du học sinh “con ông cháu cha” từ Việt Nam sang, cũng như hành động hạ cấp của tướng Tô Lâm “đớp” miếng thịt bò dát vàng, và bản tin trên Yahoo về 500 người Việt làm cu-li cho Tàu cộng đã đề cập đến hai chữ “nô lệ”, người Việt Nam nghĩ gì?
Hôm nay là ngày Thứ Bảy Vì Kinh Doanh Nhỏ (Small Business Saturday), 2 ngày sau Lễ Tạ Ơn và 1 ngày sau Thứ Sáu Đen, nhiều doanh nghiệp nhỏ tại Quận Cam (hầu hết kinh doanh của dân Việt là kinh doanh nhỏ, như tiệm ăn, tiệm tạp hóa...) hy vọng mùa mua sắm sau đại dịch sẽ giúp tăng thương vụ.
Hôm Thứ Sáu, 26 tháng 11 năm 2021, chứng khoán đã rớt mạnh với Dow Jones mất giá hơn 1,000 điểm, trong lúc biến thể mới của vi khuẩn corona lần đầu tiên được phát hiện tại Nam Phi có vẻ đang lây lan khắp thế giới, theo Hãng Tin Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Sáu. Các nhà đầu tư không chắc là biến thể có khả năng đảo ngược tiến trình nhiều tháng kiểm soát đại dịch Covid-19 hay không.
Tổng Thống Joe Biden hôm Thứ Sáu, 26 tháng 11 năm 2021, đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ hạn chế đi lại từ Nam Phi và 7 quốc gia khác bắt đầu vào Thứ Hai tới trong khi một biến thể vi khuẩn corona mới đã xuất hiện, theo CNN tường thuật hôm Thứ Sáu. Hành động theo lời khuyên từ chuyên gia hàng đầu về các bệnh truyền nhiễm quốc gia là Bác Sĩ Anthony Fauci, và Cơ Quan CDC, chính phủ Biden sẽ hạn chế đi lại từ Nam Phi, Botswana, Zimbabwe, Namibia, Lesotho, Eswatini, Mozambique và Malawi.
Chính quyền tỉnh Thanh Hóa tại Việt Nam đã đình chỉ việc chích thuốc ngừa Covid-19 của Trung Quốc qua lô thuốc Vero Cell có liên quan đến “sốc phản vệ” vì đã có 4 người thiệt mạng sau khi chích loại thuốc này và hàng chục người khác đang được theo dõi, theo bản tin của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) tường thuật hôm Thứ Sáu, 26 tháng 11 năm 2021.
Nhân mùa Lễ Tạ Ơn với món ăn truyền thống không thể thiếu là gà tây, Việt Báo xin dịch bài viết của Giáo Sư Jack Lynch dạy tại Đại Học Rutgers University – Newark, mà trong đó đề cập đến một thắc mắc của không ít người rằng là tại sao con gà này lại có tên là ‘Turkey’ tức Thổ Nhĩ Kỳ, và một số chuyện có liên qua đến cái tên gà tây này. Bài này được đăng trên trang mạng https://theconversation.com hôm 22 tháng 11 năm 2021.
Ni Trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938 – 2003) đã để lại nhiều tác phẩm lớn, vừa có giá trị Phật học, vừa có giá trị văn học. Một tác phẩm trong những tháng cuối của cuộc đời Ni Trưởng là tập thơ Ngọa Bệnh Ca, được sáng tác trong thời gian nằm bệnh vào đầu năm 2003. Rồi cuối năm 2003, Ni Trưởng tử nạn trong một tai nạn giao thông. Bài viết nảy sẽ ghi lại những suy nghĩ về bài thơ “Người Gỗ” trong thi tập Ngọa Bệnh Ca của Ni Trưởng.
Mùa lễ cuối năm đang tới nhưng đại dịch vẫn chưa hoàn toàn hết trên toàn cầu, dù vậy các chuyên gia sức khỏe tại Mỹ nói rằng nếu tất cả người thân trong gia đình đều đã chích ngừa Covid-19 đầy đủ thì khi tụ họp gia đình không cần đeo khẩu trang. Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu: Dịch Bệnh Gia Tăng. WHO Cảnh Báo: 53 Nước Tại Châu Âu và Trung Á Có Thể Đạt Tới Hơn 2.2 Triệu Người Chết Từ Covid-19 Vào Tháng 3 Sang Năm. Hoa Kỳ Cho Phép Tất Cả Người Mỹ Trên 18 Tuổi Nên Chích Liều Tăng Cường Thuốc Ngừa Covid-19
Kevin Strickland, 62 tuổi, đã được miễn tội vào sáng Thứ Ba, 23 tháng 11, sau khi thọ án nhiều thập niên tại Nhà Tù Western Missouri Correctional Center ở thành phố Cameron, tiểu bang Missouri. Strickland đã bị kết tội vào năm 1979 về một tội giết người và 2 tội giết người bậc hai trong một vụ 3 người bị giết chết. Ông đã nhận bản án 50 năm tù mà không có thể ân xá vì là một trọng tội mà, qua nhiều năm, ông đã khẳng định là ông không có dính vào. Chánh Án James Welsh đã xóa tất cả trọng tội chống lại Strickland. Việc thả ông đã trở thành việc giam cầm tù tội sai trái lâu nhất trong lịch sử của tiểu bang Missouri và là một trong những vụ bỏ tù sai lầm lâu nhất trong nước Mỹ, theo The National Registry of Exonerations.
Cơ quan kiểm soát bệnh tật quốc gia Đức nói rằng họ đã ghi nhận 351 tử vong liên quan với vi khuẩn corona trong vòng 24 giờ, nâng tổng số người chết từ Covid-19 lên tới 100,119 người. Tại Châu Âu, Đức là nước thứ năm vượt qua dấu mốc đó, đứng sau Nga, Anh Quốc, Ý và Pháp. “Đây là một ngày rất buồn mà chúng ta phải thương tiếc 100,000 nạn nhân của vi khuẩn corona,” theo Merkel phát biểu trong một cuộc họp báo tại Berlin. “Và không may, ở thời điểm này, hơn 300 tử vong đang được thêm vào tổng số đó mỗi ngày.” “Những cái chết có tương quan rất rõ với số người bị truyền nhiễm đang xảy ra,” theo bà nói. “Chúng ta biết trung bình có bao nhiêu người không sống sót dịch bệnh này.”
Tuy nhiên, một số thành viên RNC và những người tặng tiền đã cáo buộc đảng đã vi phạm các quy định trung dung của chính mình và đặt sai những ưu tiên của đảng. Một số trong cùng các viên chức này là những người nói với CNN cũng đã nêu thắc mắc tại sao đảng lại trả tiền cho các hóa đơn pháp lý cho một tỉ phú tự nhận là người lúc đó đang ngồi trên chiếc rương chiến tranh 102 triệu đô la cũng như gần đây trong tháng 7 và trước đó đã sử dụng các ủy ban chính trị khác nhau của ông để chi trả cho các chi phí pháp lý. Theo hồ sơ của FEC từ tháng 8, ủy ban Make America Great Again của Tổng Thống đã trả cho Jones Day hơn $37,000 kể từ đầu năm, trong khi siêu PAC Make America Great Again của ông đã trả tổng cộng 7.8 triệu đô la cho các luật sư giải quyết các vụ kiện của ông liên quan đến cuộc bầu cử 2020.
Thủ Tướng Anh Boris Johnson nói rằng ông đã “kinh hoàng” bởi những gì đã xảy ra, nói thêm rằng Anh Quốc sẽ lật từng hòn đá để chận đứng các băng đảng buôn người. 5 phụ nữ và một người con gái nằm trong số người chết, theo bộ trưởng nội vụ Pháp cho hay. Gerald Darmanin cũng nói rằng 2 người đã được cứu và một người đã mất tích. Báo cáo ban đầu nói 31 người đã chết, nhưng tổng số đã được rút lại qua đêm hôm Thứ Năm.
“Nó đã không làm gì ngoài việc chạy và ước mơ,” theo Marcus Arbery Sr. nói về người con trai của ông. Bên ngoài tòa án, hàng chục người Da Đen ủng hộ đã ôm nhau và khóc. Bồi thẩm đoàn đã cân nhắc trong khoảng 10 giờ trước khi kết tội Greg McMichael, người con Travis McMichael và người láng giềng William “Roddie” Bryan. Cha con McMichaels chụp lấy khẩu súng và nhảy lên xe tải để đuổi theo Arbery 25 tuổi sau khi thấy anh này chạy ra ngoài thành phố hải cảng Brunswick của Georgia. Bryan tham gia cuộc rượt đuổi với chiếc xe tải của ông và đã thu hình bằng chiếc điện thoại cầm tay về vụ Travis McMichael bắn chết Arbery.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.