Hôm nay,  

Song ngữ: Tư Tưởng Thiền Học Trong Kinh Kim Cang / Zen Thoughts In The Diamond Sutra

22/07/202320:27:00(Xem: 14198)

blank
Song ngữ: Tư Tưởng Thiền Học Trong Kinh Kim Cang / Zen Thoughts In The Diamond Sutra

   

Thích Nữ Khánh Năng

 

Có nhiều cách thức để chúng ta tiếp cận với kinh điển. Chúng ta đọc kinh như một tác phẩm văn học để tìm ra những biểu hiện thẩm mỹ của nội dung tư tưởng, hay đọc kinh để hiểu những phạm trù triết học, những tư tưởng ẩn áo mà kinh hàm chứa, v.v…

 

Cách thức nào không quan trọng. Song, một điều mà người học Phật cần phải lưu ý là cái chân lý thường nghiệm thì phi ngôn thuyết; nó có được do sự kinh nghiệm của mỗi người, như uống nước nóng lạnh tự biết; tự mình phải thâm chứng lấy những gì hàm dưỡng trong giáo lý, không phải chỉ để hiểu mà còn hành nữa. Nên con đường giải thoát của Phật giáo cốt ở ba kỷ luật: Giới, Định, Tuệ. Giới nhằm điều chế phong thái bên ngoài, Định nhằm điều chế tâm tư, còn Tuệ nhằm hiểu biết chân xác. Sự hệ trọng của thiền định trong Phật giáo là vậy.

 

Chúng ta biết rằng, lý do tồn tại của Thiền cốt ở tâm chứng, không phải ở triết luận có hệ thống. Thiền chỉ có một khi mọi suy luận được nghiền nát thành sự kiện sống hàng ngày và trực tiếp thể hiện sinh hoạt tâm linh của con người. Kinh Kim cang là một thể hiện sinh động.

 

Thành tựu Bát-nhã Ba-la-mật, đời sống của một bậc Thế Tôn giống y như mọi người không có gì cách ngăn, lập dị; nó vượt ngoài tập quán lễ nghi có tính cách hình thức rườm rà. Cho nên đức Phật đã nói thời pháp Kim cang Bát-nhã trong một bối cảnh thời gian không gian thật là giản dị: “Bấy giờ, gần đến giờ ăn, Thế Tôn đắp y, mang bát, vào đại thành Xá Vệ khất thực. Trong thành, theo thứ lớp từng nhà xin xong, Thế Tôn trở về Tinh xá dùng cơm rồi, cất y bát, rửa chân xong, trải tòa mà ngồi.”[1]

 

Trong kinh Kim cang, chúng ta sẽ thấy không giống như kinh điển Đại thừa khác, mà lại gần với Nguyên thủy ở chỗ Phật ôm bình bát khất thực xong rồi trở về Tinh xá. Sau bữa ăn, các vị Tỳ-kheo thường tập hợp tại giảng đường để thảo luận giáo lý. Bấy giờ, trong đại chúng có sự hiện diện của Tu-bồ-đề; và ngài bắt đầu thưa hỏi. Ở đây, không mở đầu bằng sự phóng quang, hay những thần thông biến hóa; những vấn đề được nêu trong kinh Kim cang là những sự việc trong đời sống, là những cái ăn, cái uống, nghỉ ngơi… Phải chăng đó là bài pháp sống động nhất về tinh thần Phật giáo, hoàn toàn phù hợp với tông chỉ “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” của Thiền tông?

 

Liên hệ Thiền sử

 

Chúng ta ngược dòng Thiền tông để tìm khởi nguồn của nó.

 

Tại hội Linh Sơn, khi đức Phật cầm hoa sen khai thị trước đại chúng, lúc bấy giờ tất cả đại chúng đều im lặng, chỉ riêng có ngài Ca-diếp trực ngộ được tâm ý của Phật, mỉm cười. Phật liền bảo: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, pháp môn vi diệu, thật tướng, vô tướng, nay đem phó chúc cho Ma-ha Ca-diếp.” Chính lời phó chúc ấy là khởi điểm truyền thống Thiền tông: Thiền là pháp môn “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền.” Thiền chủ trương ly ngôn, vì Thiền là đạo sống. Dòng Thiền ấy được khơi nguồn và lặng lờ trôi chảy giữa bình nguyên nhân loại, mãi cho đến thời Lục Tổ thì phát triển rực rỡ; như một gốc cổ thụ lâu năm được hấp thu biết bao tinh hoa và dưỡng khí của đất trời để kết tinh nên một đóa hoa Thiền ngạt ngào hương sắc.

 

Nhiều người cho rằng Ngũ Tổ là vị Thiền sư đầu tiên có ý định giải thông điệp Thiền theo giáo lý Kim cang. Nhưng chúng tôi không đồng ý hẳn với quan điểm ấy. Bởi theo lời tựa của tổ Huệ Năng viết cho bộ kinh Kim cang, “Đạt-ma từ lúc qua Tàu luôn luôn phát tâm xiển dương yếu chỉ Kim cương để người học có thể đạt lý và ngộ tánh”[2] Do vậy, ta có thể coi Ngũ Tổ như khởi đầu của một khúc quanh quyết định trong Thiền sử để cho vị tổ thứ sáu - Huệ Năng - mở thông hết Thiền môn. “Huệ Năng, một dân quê không hề biết đọc, biết viết, cho nên sự tỏ ngộ từ kinh Kim cang là sự xác lập Thiền tông trên cơ sở Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền.”[3]

 

Thử đặt vấn đề: Vì nhu cầu nào mà tổ Huệ Năng được trình bày như một anh nhà quê thất học? Phải chăng là để nhấn mạnh sự chỏi ngược giữa hai đệ tử ưu tú nhất của Ngũ Tổ (Huệ Năng và Thần Tú), tức đồng thời nhấn mạnh đến thực chất của Thiền, độc lập ngoài học hỏi và kiến thức?

 

Sự thật như thế nào không quan trọng. Điểm lưu ý ở đây: Lục Tổ khi còn là cư sĩ, gánh củi vào nhà người mua, nghe nhà bên cạnh tụng kinh Kim cang, Ngài liền tỏ ngộ. Sau đó Ngài đi xuất gia tìm đến Ngũ Tổ. Khi được Ngũ Tổ cho vào thất, cũng đem kinh Kim cang giảng cho Ngài nghe. Nghe đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Ngài liền đại ngộ, được Ngũ Tổ truyền y bát và tiễn đi trong đêm ấy. Điều này hẳn là Thiền mà Lục Tổ kế thừa được lập cước trên kinh Kim cang.

 

Tư tưởng Thiền học trong kinh Kim cang

 

Chúng ta có thể nói rằng, ngày xưa ngài Huệ Năng âm thầm lên núi Hoàng Mai cầu pháp là tâm trạng của người hoang mang giữa mê và ngộ - cách nhau giữa kẽ tóc đường tơ – đi cầu Thầy để thử thách, để trắc nghiệm sự tâm chứng của mình; gần như để được ấn chứng, chứ không hẳn để học đạo.

 

Huệ Năng không phải là người học sâu hiểu rộng[4], bù lại có một trực quan kỳ tuyệt. Tất cả sự tu chứng của Huệ Năng, khi chưa đến chùa, chỉ quy vào âm hưởng của bộ kinh Kim cang khi Ngài nghe người ta tụng; khi ngài đến chùa và lo việc bửa củi, giã gạo, âm hưởng ấy tiếp tục đuổi theo, đánh phá và chấn động vào tinh thần trinh nguyên ấy; thêm vào đó là bầu không khí Thiền nung nấu hàng ngày bằng những thời nói kinh Kim cang của tổ Hoằng Nhẫn; đặc biệt, bài kệ của ngài Thần Tú như “một đòn tâm lí trí mạng quật chết chú tiểu Huệ Năng để sống lại thành Thiền tổ Huệ Năng.”[5]

 

Thật vậy, không có Thần Tú ắt khó có Huệ Năng; không có bài kệ “Thân thị bồ-đề thọ”[6] của Thần Tú ắt khó có bài kệ “Bồ-đề bổn vô thọ”[7] để Huệ Năng được chính thức kế thừa tâm ấn của Thiền Đông Độ; mà tâm ấn ấy chính là sự đốn ngộ, thức tỉnh hẳn cái thực tánh vô tánh trong Huệ Năng, chỉ là tám chữ “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong kinh Kim cang.

 

Do chỗ ngộ được lý không trong kinh Kim cang nên bài kệ của ngài Huệ Năng biểu hiện rõ tinh thần vô ngã; không chấp tướng (Bồ- đề chẳng phải cây, chơn tâm không phải đài), không chấp mình tu (Xưa nay không một vật), không chấp mình chứng quả (Chỗ nào dính bụi trần); không còn các tướng: ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.

 

Quay trở lại kinh Kim cang, chúng ta thấy rằng, chủ đích của kinh Kim cang chỉ nằm trong hai câu hỏi của Tôn giả Tu-bồ-đề: “Những Thiện nam, Tín nữ phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác rồi nên trụ cái tâm ấy thế nào? Và hàng phục cái tâm của họ thế nào?”[8]

 

Đức Phật trả lời hàng phục tâm tóm lược bằng cách độ tất cả chúng sanh (vọng tưởng) vào Vô dư Niết-bàn, mà không thấy có chúng sanh (vọng tưởng) được diệt độ, vì không còn thấy có bốn tướng.[9] Nói một cách dễ hiểu hơn, đưa tất cả vọng tưởng vào chỗ vô sanh, vì mọi chấp ngã đều sạch: “Các Bồ-tát lớn nên hàng phục cái tâm như vầy: Hết thảy những loại chúng sanh, hoặc trứng sanh, hoặc thai sanh, hoặc ướt sanh, hoặc hóa sanh, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng, ta đều làm cho vào Vô dư Niết-bàn mà được diệt độ. Diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh như thế, mà thật không có chúng sanh nào được diệt độ. Bởi vì sao? – Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát có tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, thời chẳng phải Bồ-tát.”[10] Vì sao? Vì bốn tướng ngã trong kinh Kim Cang đều do tâm trụ hư dối mà sinh ra. Vì vậy, hàng phục tâm là tri nhận tánh không của đối tượng mà không trụ vào đối tượng đó nữa, nghĩa là tri nhận thực tại giả lập mà có, nó do duyên sanh. Phật dạy chúng ta nên khởi quán tất cả pháp hữu vi như giấc mộng huyễn hóa, hòn bọt, cái bóng, sương mù, điện chớp:

 

 

 

“Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng huyễn bào ảnh

Như lộ diệc như điện

Ưng tác như thị quán.”[11]

 

(Tất cả pháp hữu vi

Như mộng, huyễn, bọt, bóng

Như sương và như chớp

Nên khởi quán như thế.)

 

Pháp hữu vi là những cái có hình tướng, có động tác, tóm lại là sáu trần bên ngoài, sáu căn nơi thân và sáu thức bên trong. Nếu chúng ta thấy căn, trần, thức đều là mộng huyễn thì phá được cái chấp ngã nơi thân, chấp ngã trong tâm và chấp pháp bên ngoài.

 

Còn đối với vấn đề an trụ tâm, đức Phật dạy:

 

“Đối với pháp, Bồ-tát nên không trụ vào pháp mà bố thí: nghĩa là bố thí mà không trụ vào các pháp sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Tu-bồ-đề! Bồ-tát nên bố thí không trụ vào pháp tướng như thế. Bởi vì sao? Nếu Bồ-tát bố thí mà không trụ tướng, thời phước đức không thể nghĩ lường.”[12] “Các Bồ-tát lớn nên sanh tâm thanh tịnh như vầy: Không nên trụ sắc mà sanh tâm, không nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm, phải nên không trụ nơi nào hết mà sanh tâm.”[13] Nói một cách dễ hiểu, Bồ-tát nên buông xả, không dính mắc, buông xả sáu trần không dính mắc tướng. Trạng thái bố thí của Bồ-tát là thí tất cả mà chẳng thấy có thí gì. Cho nên, gọi là làm việc bố thí, nhưng Bồ-tát không trụ tướng, không chấp đó là công đức, đó là hành động bố thí do mình làm. Bởi vì sự tu hành đó chỉ là sống cho phù hợp với pháp tánh vốn vậy của chính mình. Sống đúng pháp tánh, tùy thuận pháp tánh là có phước đức, mà không còn trụ chấp để mong chờ, để đòi hỏi phước đức ở nơi ai khác ưu ái ban cho. “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, là Bồ-tát đối với hạnh bố thí phải nên vô sở trụ. Bố thí như thế, phước đức vô lượng vô biên, nhiều như hư không trong mười phương.

 

Yếu chỉ của kinh Kim cang chỉ nằm trong ba chữ vô sở trụ này mà thôi. Tâm không trụ pháp (vô trụ). Pháp không là chỗ sở trụ của tâm (vô sở trụ). Đó là cách trụ tâm duy nhất.

 

Không trụ tâm tức là cách nói khác của vô tâm. Tất nhiên, vô tâm không thể được giải thích là trạng thái tuyệt diệt không tri giác, không diệu giác, vì nếu quả thật vậy thì chẳng khác gì gỗ đá vô tri. Vô tâm ở đây là tâm ở trạng thái rỗng suốt không bị trói buộc bởi bất cứ pháp nào; là tâm không quái ngại vì không chấp trước, không thủ trước bất cứ vật gì; là tâm thênh thang không dừng trụ ở bất cứ thời và không gian nào, ngay ở đây chính là đời sống thiền mà Trần Nhân Tông, vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Việt Nam đã thể hiện:

 

“Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

Đối cảnh vô tâm, chớ hỏi thiền.”

 

Thật ra, buộc trói hay mở ra, thủ trước hay buông xả… tất cả đều thuộc về thế giới của vọng tâm, của tâm chúng sanh, không phải vô tâm. Tâm rũ sạch mọi trần cấu, mọi triền phược thì tâm ấy không còn là tâm chúng sanh nữa mà là Chơn tâm.

 

Như thế, sự hiện hữu sinh diệt của vọng tâm, vọng tướng chẳng khác gì hoa đốm giữa hư không, là mộng, là huyễn. Nó vốn là không, chỉ vì tâm mê mới vọng chấp là thật có. Dùng Trí tuệ Bát-nhã hằng soi sáng như vậy tức là đã vào cửa Thiền tông. Cho nên, đức Phật dạy: “Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc.”[14] Tâm quá khứ đã diệt nên không thật có, tâm hiện tại không dừng trụ nên không thật hữu, tâm vị lai chưa đến nên cũng không hiện thực. Vậy, còn tâm nào để hàng phục, còn tâm nào để an trụ, còn tâm nào để chứng đắc? Tâm mà rỗng không tịch lặng như nhiên thì ngôn ngữ nương vào đâu để hiện khởi, để biểu đạt? Thế thì, chủ đích kinh Kim cang với chủ đích Thiền tông nào có khác. Đó chính là lý do Thiền Đông Độ sau thời Ngũ Tổ, Lục Tổ xem kinh Kim cang như là bộ kinh tông chỉ của Thiền.

 

Để tóm tắt lại những gì nói về Kim cang

 

Chúng ta thấy rõ trong cả hai phương thức để hàng phục vọng tâm và an trụ chơn tâm, hành giả đều phải buông xả tất cả vọng chấp về ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả và các pháp như là những thực thể hiện hữu. Khi nào còn một mảy may ý niệm cố chấp về sự thực hữu của ngã và pháp thì vọng tâm điên đảo vẫn còn khởi động, do đó, không thể ngộ chứng và an trú được Chơn tâm. Muốn buông xả cái vọng chấp ngã và pháp thì hành giả nhất định phải vận dụng đến trí Tuệ Bát-nhã để quán nghiệm.

 

Khi thực hiện quán nghiệm và liễu ngộ được rằng vạn hữu là giả lập, là không, thì hành giả có thể buông xả tất cả mọi chấp trước đối với vạn pháp. Đó là bước chân cuối cùng buông bỏ mặt đất vô minh triền phược để lao mình vào khoảng hư không vô tận và thênh thang cùng pháp giới bao la. Đây chính là con đường trung đạo thể nhập đệ nhất nghĩa tuyệt đối. Cho nên, Trí tuệ Bát-nhã không thể dừng lại ở chỗ quán nghiệm thực tướng của pháp để chỉ thấy rằng các pháp là giả, là không. Trí tuệ Bát-nhã là diệu lực đẩy hành giả vào tận cùng tuyệt lộ của vọng thức để đi thẳng vào linh địa của Chơn tâm. Ở đây, Kim cang hết sức thiện xảo trong vai trò mở đường. Bằng tinh thần vô sở trụ; chỉ với tinh thần này, Kim cang mới đóng nổi vai trò dẫn đường cho hành giả tu Thiền, hoàn toàn phù hợp với tông chỉ “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền.”

 

Cuối cùng, chúng ta cần phải ghi nhớ, vai trò của kinh cũng chỉ hạn cuộc trong cái gọi là “ngón tay chỉ mặt trăng” mà thôi. Thiền tông không chủ trương lý giải bất cứ một học thuyết nào. Thiền tông phủ định bất cứ thứ gì có thể đem trí óc mà hiểu như là một đối tượng của tư tưởng. Thiền là pháp môn hướng dẫn hành giả bằng trực chỉ để đi đến trực ngộ. Đó là thấy tánh. Đã thấy tánh rồi thì làm gì vẫn không lìa tự tánh, hành động nào cũng tùy nghi mà hợp đạo, hợp thiền; gặp cảnh sống nào cũng giữ được tâm thái an nhiên, tự tại. Đây cũng chính là lý do đức Phật đã nói thời pháp Kim cang Bát-nhã trong một bối cảnh thời gian không gian thật là giản dị.

 

THƯ MỤC THAM KHẢO

 

1. Thích Huệ Hưng dịch, Kinh Kim Cang Giảng Lục, Chùa Tuyền Lâm tái bản, 1970

2. Hám Sơn Đại Sư, Kim Cang Quyết Nghi & Tâm Kinh Trực Thuyết, Nxb Tôn Giáo, 2006

3. Thích Viên Giác dịch giải, Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận, Trung Tâm Phật Giáo Hayward, 1996

4. Thích Từ Thông, Bát Nhã Ba La Mật Kinh Trực Chỉ Đề Cương, Huỳnh Mai Tịnh Thất, 1988

5. Tịnh Huệ, Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Luận Giải, 1991

6. Suzuki, Thiền Luận I, II, III, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 1993

7. Trúc Thiên, Huyền Giác-Chứng Đạo Ca, Lá Bối, 1962

8. Tuệ Sỹ, ‘Tính Khế lý và Khế cơ trong kinh Kim cang’, Tập San Pháp Luân số 56, (2008)

9. Tuệ Sỹ, Thiền và Bát Nhã, Ban Tu Thư Phật Học, 2004

 

[1]. Thích Huệ Hưng dịch, Kinh Kim Cang Giảng Lục, Chùa Tuyền Lâm tái bản, 1970, tr. 15

[2]. Trích lại theo Suzuki, Thiền Luận I, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 1993, tr. 294

[3]. Tuệ Sỹ, ‘Tính Khế lý và Khế cơ trong kinh Kim cang’, Tập san Pháp Luân, số 56 (2008), tr. 33-34

[4]. Pháp Bảo Đàn Kinh: “Ta chẳng hiểu pháp Phật”

[5]. Trúc Thiên, Huyền Giác- Chứng Đạo Ca, Lá Bối, 1962, tr. 18

[6]. Bài kệ:

Thân thị bồ-đề thọ

Tâm như minh cảh đài

Thời thời thường phất thức

Vật sử nhạ trần ai.

 

(Thân là cây bồ-đề

Tâm như đài gương sáng

Luôn luôn phải lau chùi

Chớ đề dính bụi trần)

[7]. Bài kệ:

Bồ-đề bổn vô thọ

Tâm phi minh cảnh đài

Bổn lai vô nhất vật

Hà xứ nhạ trần ai.

(Bồ-đề không phải cây

Chơn tâm không phải đài

Xưa nay không một vật

Chỗ nào dính bụi trần)

[8]. Thích Huệ Hưng, Sđd, tr. 20

[9]. Bốn tướng: Tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.

[10]. Thích Huệ Hưng, Sđd, tr. 22-24

[11]. Thích Huệ Hưng, Sđd, tr. 99

[12]. Thích Huệ Hưng, Sđd, tr. 26

[13]. Thích Huệ Hưng, Sđd, tr. 44-45

[14]. Kinh Kim cang

 

Nguồn:

https://thuvienhoasen.org/a15529/tu-tuong-thien-hoc-trong-kinh-kim-cang

 

(Tất cả ghi chú được gỡ bỏ trong bản tiếng Anh để đơn giản hóa.)

 

... o ....

  

Zen Thoughts In The Diamond Sutra

 

Author: Thích Nữ Khánh Năng

Translated by Nguyên Giác

  

There are many ways for us to approach the Scriptures. We can read the Scriptures as a literary work to find out the aesthetic expressions of the ideological content, or we can read the Scriptures to understand the philosophical categories or the hidden thoughts that the sutras contain, etc.

  

It doesn't matter how you read the Scriptures. But one thing that Buddhist learners need to keep in mind is that the empirical truth cannot be expressed in words; that truth is obtained by the experience of each person, such as your feeling that can not be expressed while drinking hot and cold water. You have to see for yourself what is contained in the teachings, not only to understand but also to practice. Therefore, the Buddhist path to liberation consists of three areas: Virtue, Concentration, and Wisdom. Virtue is the set of precepts that are intended to regulate external behavior; Concentration is the practice of harmonizing thoughts in the mind; and Wisdom is the insightful understanding of the truth. Such is the importance of meditation in Buddhism.

  

We know that the reason for the existence of Zen consists in the witness of the mind, not in systematic philosophy. Zen is only possible when all inferences are crushed into daily living facts and directly express human spiritual activities. The Diamond Sutra is such a vivid manifestation.

  

After completing the cultivation of Prajna Paramita, the life of a World-Honored One is like everyone else; there is nothing of segregation or eccentricity; it goes beyond cumbersome formal rituals. The Buddha talked during a Dharma session of the Diamond Sutra in a very simple time and space setting: "Then, near mealtime, the Blessed One put on his robes, took his bowl, and entered the great city of Sāvatthi for alms. In the city, after collecting alms from house to house, the Blessed One returned to the monastery to have meals, put away his robes, washed his feet, spread the seating platform, and sat down."

 

In the Diamond Sutra, we will see that it is not like other Mahayana sutras but closer to the Early Buddhist sutras in that the Buddha took his alms bowl after finishing his alms round and then returned to the monastery. After having meals, the bhikkhus usually gathered in the auditorium to discuss the teachings. At that time, in the assembly, Subhuti was present, and he began to ask questions. Here, there was no opening with luminosity or supernatural powers; the problems mentioned in the Diamond Sutra are things in life, food, drink, rest... Is that the most vivid teaching on the Buddhist spirit, completely consistent with Zen's motto "Zen is not established in words and has transmission outside the Scriptures”?

  

Relating to the history of Zen

 

Here, we trace the history of Zen Buddhism back to its beginnings.

 

At the Linh Sơn Dharma Gathering, when the Buddha held a lotus bloom in front of the assembly, where all the monastics were silent, only Bhikkhu Kassapa smiled, for he was the only one who directly understood the Buddha's thinking. The Buddha said: "I possess the true Dharma eye, the marvelous mind of Nirvana, the excellent Dharma gate, the true form of the formless. This I entrust to Mahākāśyapa." That entrusting statement is the starting point of the tradition of Zen Buddhism: Zen is the Dharma gate, which is not established in words and has transmission outside the Scriptures. Zen advocates abstaining from words because Zen is a way of life. That Zen line originated and quietly flowed in the human realm until the time of the Sixth Patriarch when it flourished like a perennial old tree that absorbed a lot of the essence and oxygen of heaven and earth to crystallize into a fragrant Zen flower.

  

Many people believe that the Fifth Patriarch was the first Zen master who intended to interpret the Zen message according to the Diamond Sutra's teachings. But we do not agree with that view. Because, according to the foreword of the patriarch, Huệ Năng wrote for the Diamond Sutra: "Bodhidharma since coming to China has always promoted the Diamond Sutra's essential teachings so that learners can understand the principal reason and realize the mind-nature." Therefore, we can consider the Fifth Patriarch as the beginning of a decisive turning point in the history of Zen, allowing the Sixth Patriarch, Huệ Năng, to open all the gates of Zen. Huệ Năng was a peasant who could not read or write, but he used the realization from the Diamond Sutra to establish Zen Buddhism on the basis of "not established via words and imparting the transmission of the mind seal outside the sutras."

  

Try to ask: Why was Huệ Năng described as an illiterate countryman? Is it to emphasize the confrontation between the two most outstanding disciples—Huệ Năng and Thần Tú—of the Fifth Patriarch and at the same time point at the essence of Zen, which is independent of study and knowledge?

  

It doesn't really matter what the truth is. Note here: When the Sixth Patriarch was still a layman, he carried firewood to the buyer's house, heard the house next door chant the Diamond Sutra, and immediately became enlightened. Then he wanted to go forth, so he looked for the Fifth Patriarch. The Fifth Patriarch invited him into the chamber one night and explained the Diamond Sutra to this lay learner. When Huệ Năng heard the phrase "Dwell on nowhere; your liberated mind will manifest," he was immediately enlightened. Then Huệ Năng received robes and bowls from the Fifth Patriarch, who then sent him off that night. This must be the Zen that the Sixth Patriarch inherited from the Diamond Sutra.

  

Zen Thoughts in the Diamond Sutra

 

We can say that when Huệ Năng went to Mount Hoàng Mai to ask to learn the Dharma, he was in the mood of a person confused between delusion and enlightenment, the distance between a strand of hair and a thread of silk, to find a master who would challenge Huệ Năng and have it checked for approval, not really to learn the way.

  

Huệ Năng was not a man of great learning but had extraordinary intuition. When he had not yet been to the temple, all of Huệ Năng's understanding and practice were only due to listening to others chant the Diamond Sutra. After Huệ Năng entered the temple and took on the job of chopping firewood and pounding rice, the chanting sounds of the Diamond Sutra continued to follow and affected Huệ Năng's pure spirit. Meanwhile, the Zen atmosphere in the temple affected Huệ Năng during the Hoằng Nhẫn Patriarch's daily talks on the Diamond Sutra. Particularly, Thần Tú's verse was like "a psychological blow that killed the young novice Huệ Năng and revived him to become the Zen patriarch Huệ Năng."

  

In fact, without a Thần Tú, it would be difficult for a Huệ Năng to perform exceptionally. Without Thần Tú's verse "The body is like a Bodhi tree," it would be difficult to have the poem "Bodhi has no trees at all" for Huệ Năng to officially inherit the mind seal of Zen. And the mind seal that was the unexpected awakening of enlightenment, the revealing of the true nature that had no nature in Huệ Năng's mind, was simply the words "Dwell on nowhere; your liberated mind will manifest" from the Diamond Sutra.

  

Huệ Năng's verse clearly shows the spirit of no-self because he realized the truth of emptiness in the Diamond Sutra. The author of the verse does not cling to signs (Bodhi is not a tree, the true mind is not a platform), does not accept that he has to cultivate anything (in the past and in the present, there has not been a thing), does not accept that he has achieved any holy position (dust clings to nowhere), and no longer sees the signs of self, personality, living beings, or life span.

  

In the case of the Diamond Sutra, we see that the purpose of the Diamond Sutra lies only in two questions of the Venerable Subhuti: "How should good men and faithful women develop the mind of unsurpassed enlightenment and then maintain that mind? And how to tame their minds?”

  

The Buddha replied that the method of subjugating the mind, briefly, is by saving all sentient beings (delusional thoughts) into Nirvana without residue, without seeing that there are no sentient beings (delusional thoughts) to enter Nirvana because there are no longer the four signs to be seen.

  

To put it more understandably, when you put all delusional thoughts into the unborn realm, all self-grasping ceases: "Great bodhisattvas should subdue the mind thus: All kinds of living beings, either egg-born, pregnant, wet-born, or metamorphic birth, or with form or without form, or with perception or without perception, or with neither perception nor non-perception, should be put into Nirvana without residue. You see the cessation of countless sentient beings like that, but there is actually no cessation of a sentient being. Why? Subhuti! If a bodhisattva sees any sign of a self, a person, a living being, or a life span, then he is not a bodhisattva."

  

Why? Because the four appearances of self in the Diamond Sutra are born from a delusional mind. Therefore, subduing the mind is to perceive the emptiness of an object without dwelling on that object, that is, to perceive the illusionary established reality that has dependently arisen. The Buddha taught us to contemplate all conditioned dharmas as illusory dreams, bubbles, images, fog, and lightning.

  

You should observe that all

conditioned dharmas are

like dreams, illusions, bubbles,

images, dew, and lightning.

 

The conditioned dharmas are that which have form and action—in short, the six external objects, the six senses in the body, and the six inner consciousnesses. If we see that the senses, the objects, and the consciousnesses are all illusory, then we can break the self-grasping in the body, the self-grasping in the mind, and the attachment to the outer dharmas.

  

As for the matter of how to calm the mind, the Buddha taught: "Regarding the dharma, a bodhisattva should not abide in the dharma to give: that is, giving without clinging to the dharmas of form, sound, smell, taste, touch, and mental object. Subhuti! A bodhisattva should give without dwelling on any dharma sign. Why? If a bodhisattva gives without dwelling on anything, the merit and virtue will be immeasurable."

  

"A great bodhisattva should give birth to a pure mind like this: One should not have a mind that dwells on form, sound, smell, taste, touch, and mental object; one should have a mind that dwells on nothing."

   

In other words, the Bodhisattva should let go of the six sense objects without clinging to any sign. The bodhisattva's state of giving is to give everything without seeing anything that is given.  Thus, the bodhisattva gives but does not adhere to any sign, does not consider it meritorious, and does not see himself giving. Because cultivation like that is just living in accordance with one's own inherent nature. One who lives in accordance with the dharma-nature and depends on the dharma-nature is truly blessed and virtuous, clinging no longer to any expectation and asking no blessing from anybody. The saying "Dwell on nowhere; your liberated mind will manifest" is the bodhisattva's maxim, that when giving, his mind does not cling to anything. With such giving, the merits and virtues are immeasurable, as boundless as space in the ten directions.

  

The essence of the Diamond Sutra lies only in these words: "Nothing to be dwelled on." That is, the mind does not dwell on any dharma, and there is no dharma on which the mind dwells. That is the only way to let the mind dwell.

  

No-dwelling mind is another way of saying "an emptiness-mind." Of course, an emptiness-mind cannot be explained as a state of extinction that has no perception and no marvelous enlightenment, because if it were, it would be no different from inanimate wood and stone. An emptiness mind here is the mind that is in a waking state of being completely empty, not bound by any dharma, not attached to anything, not holding on to anything. It is the spacious mind that does not dwell on any time or space. That emptiness of mind is the Zen life that Trần Nhân Tông, the patriarch of the Trúc Lâm Yên Tử Zen sect of Vietnam, explained as follows.

  

Living amid the dust and enjoying the way,

you should let all things take their course.

When hungry, just eat; when tired, just sleep.

The treasure is in your house; don’t search anymore.

Face the scenes, and have no thoughts;

then you don’t need to ask for Zen.

  

Actually, all actions like tying or untying, holding on, or letting go... all belong to the realm of deluded minds, not emptiness-mind. When the mind is cleansed of all pollutants and impediments, it is no longer the mind of sentient beings, but the True Mind.

 

Thus, the phenomena of the arising and passing away of the delusive mind and of the delusive perception are like dreams and illusions and not different from flowers spotted in the middle of the sky. It is inherently the emptiness; however, a delusive mind is confused and wrongly accepts that it is real. One who uses the wisdom of Prajna to constantly realize emptiness like that has entered the gate of Zen Buddhism. Thus the Buddha said: "The mind of the past cannot be obtained. The mind of the present cannot be obtained.  The mind of the future cannot be obtained." The mind of the past has ceased, so it is not real; the mind of the present does not stay, so it is not real; and the mind of the future has not come yet, so it is not real. So, what mind is left for the practitioner to tame, what mind is left for the practitioner to dwell on, and what mind is left for the practitioner to realize noble attainments? When the meditator's mind is empty and calm naturally, how can words arise and express [the state of no thought]? Thus, there is no difference between the goal of the Diamond Sutra and the goal of Zen Buddhism. That was the reason why Zen practitioners after the period of the Fifth Patriarch and the Sixth Patriarch considered the Diamond Sutra as the guiding Zen sutra.

  

To summarize what we just said about Diamond Sutra

 

In both cases, the practitioner must let go of all delusions about self, personality, living beings, life span, and all things as existent entities in order to subjugate the delusive mind and expose the True Mind. As long as there is still the slightest bit of stubbornness about the existence of self and dharmas, the deluded mind is still active, and at that time, the meditator cannot realize and manifest the True Mind. To let go of the wrong views on the self and dharmas, the practitioner must definitely apply the wisdom of Prajna to observe and realize.

  

When contemplating and realizing that all things are artificially established, not real, and have inherent emptiness, the practitioner can let go of all attachments to them. It is the last step to let go of the ground of ignorance and to plunge into the endless and vast space of the boundless Dharma Realm. This is the middle way of entering the absolute first meaning. Therefore, the wisdom of Prajna should not stop at contemplating the true nature of dharmas to see only that dharmas are false and void. The wisdom of Prajna is the magic force that pushes the practitioner into the ultimate path of hopelessness to go straight to the spiritual ground of the true mind. Here, the Diamond Sutra is very skilled at paving the way. With the spirit of a no-dwelling mind, and with that spirit only, the Diamond Sutra is able to play the role of a guide for Zen practitioners, completely in line with the motto "Zen is not established in words and has transmission outside the Scriptures."

 

Finally, we need to keep in mind that the role of the sutra is limited to the so-called "finger-pointing to the moon." Zen Buddhism does not advocate explaining any doctrine. Zen Buddhism denies anything that can be understood by the mind as an object of thought. Zen is a practice that guides practitioners by pointing directly to the mind of emptiness to lead them to direct enlightenment. That is to see the mind's nature. Those who have seen the nature of the mind do everything in accordance with the self-nature, all they do is in accordance with the path, and they maintain a calm mind in all life scenarios. This is also why Buddha gave the Dharma talk for the Diamond Sutra in a very simple context of time and space.

  

(All notes were removed in the English version for simplicity.)



- Hoa Kỳ – Iran: Đàm phán qua Pakistan, tín hiệu vẫn trái chiều. - Iran đe dọa đáp trả phong tỏa của Mỹ. - Công ty xây phòng đại yến của Trump được cấp hợp đồng không đấu thầu cho dự án gần đó. - Tòa phúc thẩm chặn sắc lệnh hạn chế tị nạn của Trump.. - Phát hiện loài mực khổng lồ thời khủng long, từng thống trị đại dương cổ đại - Na Uy đề xuất cấm mạng xã hội với người dưới 16 tuổi. - Dân Palestine đi bầu cử địa phương tại Bờ Tây và Gaza sau nhiều năm gián đoạn. - Vụ mất tích hai nghiên cứu sinh USF: phát hiện thi thể một người, tiếp tục tìm kiếm người còn lại.
nhậu say, 2 lần bị vào hồ sơ cảnh sát, 1 lần vì chưa đủ tuổi, 1 lần vì đứng tè nơi công cộng. Patel chỉ thị FBI quay video cảnh Patel đóng vai công tác mật để đánh bóng Patel nhằm vuốt ve Trump
Một vấn đề hệ trọng mà những người ủng hộ sắc lệnh cấm quyền công dân theo nơi sinh bỏ qua: nguy cơ gây ra những tổn thất kinh tế to lớn, gây bất ổn xã hội. Số lượng cư dân được xem là bất hợp pháp sẽ gia tăng; đồng thời làm giảm sức hấp dẫn, ngăn cản nhân tài toàn cầu đến định cư tại Hoa Kỳ.
• Giáo Hoàng Kêu Gọi Mỹ-Iran Trở Lại Đàm Phán, Lên Án Án Tử Hình • ACLU Kiện Sở Công Viên Quốc Gia Vì Đòi Gỡ Bảng Chống Trump • Ngũ Giác Đài tính trừng phạt đồng minh NATO, nêu khả năng đình chỉ Tây Ban Nha • Giám Sát Bộ Tư Pháp Xét Lại Việc Công Bố Hồ Sơ Epstein • Mỹ Bị Cảnh Báo Du Hành Trước Mùa World Cup Vì Lo Ngại Nhân Quyền • Hàng Triệu Người Mỹ Có Thể Được Canada Nhìn Nhận Là Công Dân • Trump Kéo Dài Thêm 3 Tuần Ngưng Bắn Giữa Israel Và Lebanon • Binh Sĩ Mỹ Bị Truy Tố Vì Dùng Tin Mật Để Thắng 400,000 Mỹ Kim Cá Cược • Bốn Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Bác Đường Đưa Dự Luật SAVE America Vào Gói Ngân Sách • FDA Chuẩn Y Liệu Pháp Gien Đầu Tiên Trị Điếc Di Truyền Ở Trẻ Em • Bộ Tư Pháp Mỹ Nhắm Tước Quốc Tịch Gần 400 Công Dân • Ấn Độ Phẫn Nộ Vì Trump Đăng Lại Lời Gọi Nước Này Là "Xứ Khốn Nạn" • RFK Jr. làm toán sai để “cứu bồ” Trump về giá thuốc
Gần đây, các nhân viên của Cơ quan thực thi di trú (ICE) đã được điều đến các phi trường lớn của Hoa Kỳ. Chính phủ nói rằng họ có mặt ở đó để hỗ trợ an ninh phi trường vì một số nhân viên an ninh TSA ở đó đã vắng mặt. Nhưng lời giải thích này làm dấy lên những lo ngại nghiêm trọng. ICE không phải là một cơ quan an ninh phi trường. Nhiệm vụ chính của cơ quan này là thực thi luật di trú. Nếu các nhân viên ICE vẫn ở lại phi trường ngay cả sau khi các nhân viên TSA quay trở lại, điều đó có nghĩa là vai trò thực sự của họ có thể không phải là về an ninh.
Trong lúc Amazon và các chuỗi bán lẻ lớn tiếp tục mở rộng, các hiệu sách độc lập tại Hoa Kỳ lại đang trở lại một cách lặng lẽ nhưng rõ rệt. Hiệp Hội Các Nhà Sách Hoa Kỳ cho biết trong năm 2025 có khoảng 422 hiệu sách độc lập mới mở cửa, tăng 31% so với năm 2024. Sự trở lại này cho thấy một điều khá rõ: thị trường không phải chỉ có chỗ cho những người khổng lồ. Bên cạnh các tập đoàn lớn, nhiều cơ sở nhỏ như tiệm sách, quán cà phê, nhà hàng, rạp chiếu bóng hay tiệm quần áo vẫn sống được, và có nơi còn làm ăn khá. Lý do không khó hiểu. Nước Mỹ quá rộng, dân quá đông, thị hiếu lại quá khác nhau. Không một mô hình bán lẻ lớn nào có thể đáp ứng hết mọi nhu cầu của từng khu phố, từng cộng đồng, từng nhóm khách hàng.
Chính phủ Thụy Điển đang hãm lại nhịp số hóa trong trường học sau hơn một thập niên đẩy mạnh việc học qua màn hình, chuyển trọng tâm trở lại với sách in, tập vở và bút viết. Mục tiêu chính thức là chặn đà sa sút của khả năng đọc và viết, điều đã bộc lộ khá rõ trong kết quả PISA năm 2022, khi điểm đọc hiểu và toán đều thấp hơn trước. Với bước chuyển này, Thụy Điển tạm rời hình ảnh một nước đi đầu trong giáo dục điện toán để thử một hướng khác: đặt lại trọng tâm vào những kỹ năng căn bản và giảm bớt những gì bị xem là nguồn xao lãng trong lớp học.
Khách mua hàng tại chuỗi siêu thị Trader Joe’s có thể sắp được nhận một khoản tiền bồi hoàn sau khi công ty đồng ý dàn xếp một vụ kiện tập thể trị giá 7.4 triệu Mỹ kim. Theo nội dung dàn xếp, những người đã dùng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ để mua hàng tại Trader Joe’s từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2019 có thể đủ điều kiện nộp đơn nhận tiền. Vụ kiện cho rằng một số biên nhận in trong năm đó đã hiển thị 10 số của thẻ — gồm sáu số đầu và bốn số cuối — nhiều hơn mức luật liên bang cho phép.
Tổng kết nhiều cuộc thăm dò: 63%-68% dân Mỹ nói không có lý do để Mỹ chiến tranh chống Iran - Trump: tôi sẽ không dùng vũ khí nguyên tử tấn công Iran, vì đủ đánh tan tác Iran rồi. - Iran: Chúng tôi không tìm cách chế tạo bom nguyên tử, nhưng bây giờ đừng hòng đưa uranium của Iran ra ngoài nước. - Trump: Không vội vàng, tôi muốn một thỏa thuận tuyệt vời với Iran - Trump: Mỹ tăng cường gỡ thủy lôi, và sẽ bắn chìm các tàu nào tới gài thủy lôi - Trump: 78% mục tiêu tại Iran đã bị tấn công, nếu không thỏa thuận sẽ bị tấn công cho trọn 100% - Trump: Các lãnh đạo Iran đang "đấu đá như chó với mèo" - Báo Axios: Iran có thể đã rải thêm thủy lôi tại Hormuz. - Gần 2 tháng cuộc chiến Iran: 3.400 người ở Iran chết, 2.200 người chết tại Lebanon, 32 người tại các nước vùng Vịnh chết, và 23 người chết tại Israel. Có 13 lính Mỹ hy sinh trong chiến đấu, và 2 lính khác chết vì lý do ngoài chiến đấu; Hơn 400 lính Mỹ bị thương. - Ngoại trưởng Iran: Người dân Iran đoàn kết hơn bao giờ hết - Iran k
• Thượng Viện Thông Qua Kế Hoạch Ngân Sách Cộng Hòa Mở Đường Cấp $70 Tỷ Cho ICE Và Tuần Tra Biên Giới • Hung Cao Giữ Quyền Bộ Trưởng Hải Quân Sau Khi John Phelan Rời Chức • Chính Quyền Trump Hạ Mức Xếp Loại Cần Sa Dùng Cho Y Khoa • Eo Biển Hormuz Căng Thẳng, Trump Dọa Đánh Chìm Tàu Iran • Virginia Sẽ Kháng Cáo Lệnh Chặn Kết Quả Trưng Cầu Về Bản Đồ Quốc Hội • Hai Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Tách Hàng Ngũ, Nhưng Tu Chính Về Chi Phí Y Tế Vẫn Bị Bác • Tòa Bác Luật California Buộc Nhân Viên ICE Phải Đeo Thẻ Nhận Dạng • Nhân Viên Di Trú Bị Truy Tố Sau Cuộc Biểu Tình Trước Cơ Sở ICE Ở Colorado • Texas: Tòa Liên Bang Bác Đơn Kiện Phỉ Báng Của Giám Đốc FBI Kash Patel • Justin Sun Kiện World Liberty Của Gia Đình Trump, Tố Chặn Bán Token Và Ép Rót Thêm Tiền • Chính Quyền Trump Cân Nhắc Cứu Trợ Spirit • Hungary Bỏ Phủ Quyết, EU Mở Đường Cho Ukraine Vay 106 Tỉ Mỹ Kim • Thủ Tướng Lebanon Tố Israel Phạm Tội Ác Chiến Tranh Sau Cuộc Không Kích Làm Thiệt Mạng Một Nữ Ký
Chiều thứ Bảy vừa qua, trong không khí tháng Tư tưởng niệm, khoảng 70 khán giả gồm giới truyền thông, giới học thuật, giới lãnh đạo cộng đồng, những người quan tâm đến thời cuộc Việt Nam cùng hội tụ tại hội trường đài truyền hình SBTN xem cuốn phim tài liệu ‘The General: Vietnam in the Age of To Lam’. Sau buổi chiếu phim là phần hỏi đáp; người trả lời qua điện thoại là Luna, nữ phụ tá của nữ đạo diễn Laura Brickman trong tiến trình thực hiện phim. Phần đặt câu hỏi cho thấy khán giả cảm nhận phim từ nhiều góc cạnh khác nhau. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì dù chỉ dài khoảng 60 phút, nhưng phim truyền tải một lượng thông tin khổng lồ về cơ cấu quyền lực nhất của chính quyền CSVN: Chế độ độc tài công an trị dưới thời ông đại tướng bộ trưởng công an Tô Lâm.
- Trump: 1.100 người Afghanistan (cựu lính Afghan từng chiến đấu bên lính Mỹ) và vợ con hoặc phải về Afghanistan hoặc phải đi định cư ở Congo (thuyền nhân Việt may mắn vì không gặp Trump). - Trump chửi mắng các Thẩm phán Cộng Hòa ở Tòa Tối Cao không chịu đoàn kết, vì đã tát vào mặt nước Mỹ khi đòi Trump bồi hoàn thuế quan.
• Iran Nổ Súng Vào 3 Tàu Tại Hormuz Sau Khi Trump ‘TACO’ • Trung Quốc Cảnh Báo Chiến Sự Ở Iran • CEO của Truth Social Từ Chức • Bộ Trưởng Y Tế RFK Jr. Không Cam Kết Ủng Hộ Hướng Dẫn Vaccine Của Tân Giám Đốc CDC • Trump Tấn Công Cá Nhân Thẩm Phán Ketanji Brown Jackson, Gọi Bà Là Người Có ‘IQ Thấp’ • ‘Giáo Viên Của Năm Cấp Quốc Gia’ Là Một Giáo Viên Dạy Sử Ở Pennsylvania • Texas: Phiên Dịch Viên Của Tòa Bị ICE Tạm Giữ, Làm Nhục Và Đối Xử Như Tội Phạm • Thăm Dò: Chính Sách Trục Xuất Của Trump Có Thể Khiến Cộng Hòa Trả Giá Vào Tháng 11 • Chiếc Mũ Vàng 2,500 Năm Tuổi Vô Giá Được Trả Về Nhà Chủ • Los Angeles Siết Giờ Màn Hình Trong Trường Học
Bản tin Reuters hôm 21/42026 ghi rằng một tòa kháng án liên bang Hoa Kỳ, với các thẩm phán có ý kiến ​​chia rẽ, đã phán quyết vào thứ Ba rằng tiểu bang Texas có quyền yêu cầu các trường công lập phải trưng bày bản Mười Điều Răn trong Kinh Thánh tại mọi lớp học. Phán quyết này đảo ngược quyết định của một thẩm phán cấp dưới
Cử tri Virginia ngày 21 tháng 4 năm 2026 đã chấp thuận cuộc trưng cầu dân ý cho phép tiểu bang vẽ lại các địa hạt Hạ viện liên bang trước kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ năm nay. Kết quả này có thể giúp Đảng Dân Chủ giành thêm tới bốn ghế tại Hạ viện, trong lúc cuộc chiến phân chia địa hạt giữa hai đảng đang lan rộng trên toàn quốc. Theo AP và Reuters, Virginia hiện có phái đoàn Hạ viện liên bang nghiêng 6-5 về phía Dân Chủ; với bản đồ mới, tương quan đó có thể đổi mạnh theo hướng 10-1.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.