Hôm nay,  

Song ngữ: The method of guarding the senses / Phương pháp phòng hộ các căn

25/07/202318:06:00(Xem: 12380)
blank

Song ngữ: The method of guarding the senses / Phương pháp phòng hộ các căn 

 

Thích Trung Định

 

Trong rất nhiều phương pháp tu tập thì phòng hộ các căn (bảo vệ các giác quan) được Đức Phật giảng dạy rất chi tiết.

 

Có sáu giác quan là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, tiếp xúc với sáu đối tượng trần cảnh là: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Theo quan điểm của Phật giáo, sự tiếp xúc giữa các giác quan và các đối tượng trần cảnh là một cơ hội để tham muốn, chán nản, bất thiện tràn vào tâm thức. Định lý duyên khởi chỉ ra rằng, sự tiếp xúc sinh các cảm thọ, từ cảm thọ sinh ra ái dục, từ ái dục sinh ra chấp thủ, từ chấp thủ sinh ra hiện hữu, từ hữu có sinh, già, bệnh, chết, sầu bi khổ ưu não. Khi cắt đứt một mắt xích nào trong chuỗi duyên khởi này thì khổ đau chấm dứt. Đó là ý nghĩa của phương pháp phòng hộ các căn.

 

Khi căn tiếp xúc với trần, con người có thói quen tồn tại hai khuynh hướng phản ứng tâm lý, một là yêu thích, dễ chịu; hai là ghét bỏ, khó chịu. Theo Phật giáo, cả hai khuynh hướng trên đều do vô minh chi phối và là nguyên nhân sâu xa gây đau khổ. Chính vì thiếu hiểu biết về bản chất phụ thuộc và luôn thay đổi của các giác quan cùng các đối tượng của chúng mà con người yêu những gì hợp ý hoặc trở nên giận ghét với những gì không phù hợp và điều này làm cho chúng ta đau khổ. Có thể nói rằng đau khổ phát sinh chủ yếu là do tham, sân, si. Do vậy, phòng hộ các căn là ngăn chặn tâm tham, sân, si phát sinh do sự tiếp xúc.

 

Trong bài giảng đầu tiên, Bài giảng về lửa, Đức Phật tuyên bố rằng: “Tất cả đều đang cháy”. Tất cả chỉ là sáu căn, sáu trần và sáu thức. Con mắt đang cháy với sắc trần, lỗ tai đang cháy với thanh trần… tương tự như vậy với các căn và trần còn lại. Chúng đang cháy với những đám cháy của phiền não và đau khổ.

 

Tương ưng về xứ tuyên bố rằng, để đoạn tận vô minh và tạo ra sự hiểu biết chân thật, chúng ta phải quán chiếu tất cả sáu nội ngoại xứ (thập nhị xứ) là vô thường, khổ đau và vô ngã. Sáu căn đang cháy với sáu trần sinh ra tham đắm, chấp thủ, thì cũng từ nơi sáu xứ này để dập tắt, đoạn trừ chúng. Đây là con đường thực tập để đạt được Niết-bàn (S.35:147). Một con đường khác, được đề cập trong kinh Sự trống rỗng của thế giới (S.35:85), là phải thấy rằng sáu giác quan trống rỗng - trống rỗng về một cái tôi hay cái gì thuộc về tự ngã của tôi. Vì tất cả chỉ là sự phát sinh từ sáu căn, sáu trần và sáu thức, nên nó cũng là vô ngã1.

 

Phòng hộ các căn không có nghĩa là đóng bít các giác quan không cho tiếp xúc với các trần cảnh. Điều này là không thể. Chỉ chánh niệm tỉnh giác, phòng hộ các căn không để cho tâm rong ruổi tìm cầu rồi dẫn đến khổ đau. Trong kinh Tương ưng bộ, Đức Phật trình bày về phòng hộ các căn như sau:“Và làm thế nào, này các Tỷ-kheo, một người luôn phòng hộ các căn môn?

 

Ở đây, vị Thánh đệ tử, khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ưu, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ưu, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Như vậy là vị Thánh đệ tử hộ trì các căn”2.

 

Kinh Trường bộ (kinh Sa-môn quả), Đức Phật dạy: “Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ nội tâm, không vẩn đục”3. Hộ trì các căn bằng cách thực tập chánh niệm tỉnh giác, tâm không còn tham luyến với các trần cảnh, tâm an định và bắt đầu phát sinh niềm hỷ lạc. Đây chính là kết quả lợi lạc của pháp môn phòng hộ các căn, tức thực nghiệm một nếp sống sáng suốt, thanh thản, an lạc với cái tâm không còn bị chi phối bởi ngoại cảnh, không còn phản ứng dao động bởi mọi thứ thuận duyên hay nghịch ý. Được như vậy, hành giả không còn bị ngoại cảnh chi phối, làm chủ được tâm và bắt đầu đi vào chánh đạo.

 

Trong kinh Trung bộ (kinh Căn tu tập), Đức Phật dạy về phương pháp chế ngự các căn như sau: “Này Ananda, thế nào là vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh? Ở đây, này Ananda, vị Tỷ-kheo, mắt thấy sắc, khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên nơi ta, khả ý và bất khả ý này khởi lên nơi ta. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả’.

 

Cho nên, dẫu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Này Ananda, như một người có mắt, sau khi mở mắt, lại nhắm mắt lại, hay sau khi nhắm mắt, lại mở mắt ra; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại. Trong giới luật bậc Thánh, này Ananda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các sắc do mắt nhận thức…”4.Vị ấy cũng thực hành như vậy với các căn còn lại.

 

Như vậy, để phòng hộ các giác quan có hai nhiệm vụ chính cần phải làm. Một là, vị ấy phải học cách kiểm soát ham muốn của mình khi căn tiếp xúc với trần. Hai là, vị ấy học cách nhìn rõ bản chất của tất cả những cảm giác là không thật, vô thường, biến đổi.

 

Tuy nhiên, sự thực tập này đi ngược lại thói quen của xã hội văn minh vốn đề cao chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy cảm. Do đó, phần lớn con người vẫn thường sống trong sự chi phối bởi cảm xúc giác quan. Ngành quảng cáo, du lịch, ẩm thực, âm nhạc tập trung đánh vào, nhằm thỏa mãn thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác của khách hàng để thu về lợi nhuận. Như chúng ta đã biết, ham muốn của con người để thỏa mãn về thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và các đối tượng tinh thần đã sinh ra cái gọi là nền văn minh của nhân loại.

 

Nhưng chính những ham muốn này đã trở thành một sự thật nghiệt ngã tạo nên mối đe dọa lớn đối với sự tồn vong của chúng ta. Mâu thuẫn của nền văn minh hiện đại nằm ở ngay chính nó: trong tâm ích kỷ cố hữu của con người đã vẽ ra một viễn cảnh để con người đạt được mục đích phục vụ sự thỏa mãn cảm giác. Bất chấp những thành tựu vượt trội của nó, thật khó để giả định rằng một nền văn minh đề cao tính tự trọng và hoạt động theo cách kích thích sự gia tăng ham muốn nhục dục ở con người như hiện nay có thể đảm bảo sự phát triển liên tục và lâu dài mà không mang lại sự rắc rối.

 

Kết quả của xu hướng này là từ những suy nghĩ tham lam và hiếu chiến xuất phát từ tính tự cho mình là trung tâm đã mở đường cho mọi tệ nạn trong xã hội. Càng nhiều người tìm kiếm sự thỏa mãn trong các thú vui nhục dục thì thế giới càng rơi vào khủng hoảng. Ngày nay, người đã hiểu được rằng lòng tham hay dục vọng là đầu mối của chiến tranh và khủng hoảng toàn cầu như: ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, v.v… Do đó, cách duy nhất để thoát khỏi tình trạng này là thực tập kiềm chế lòng tham dục.

 

Bằng kinh nghiệm cá nhân, Đức Phật đã chỉ ra cho mọi người thấy rằng, một người không thể chinh phục được ham muốn của mình đối với các thú vui giác quan trừ khi bản thân vị ấy trải nghiệm được hỷ lạc phát sinh từ kết quả của sự thực tập thiền định. Điều này cho thấy thiền định của Phật giáo có khả năng điều phục những ham muốn nhục dục và con người có thể tìm kiếm những thú vui khác vượt lên những thú vui giác quan.

 

Đức Phật gọi những trải nghiệm hạnh phúc sinh ra từ thiền định ‘là hạnh phúc của sự từ bỏ, hạnh phúc của sự xả ly, hạnh phúc của sự an bình và hạnh phúc của sự tỉnh giác’. Điều này giải thích trong thực tế rằng, những niềm vui sinh ra từ việc phòng hộ các căn có bản chất ôn hòa và vị tha, trong khi những niềm vui của giác quan có bản chất hung hăng và ích kỷ.

 

Do đặc tính của chúng, niềm vui sinh ra từ thiền định trong Phật giáo được gọi là ‘những thứ tuyệt vời, thánh thiện và không sợ hãi’, trong khi những ham muốn giác quan được xem là ‘thấp hèn, xấu xa và đáng sợ’. Từ quan điểm này, chúng ta có thể nói rằng thế giới sẽ thoát khỏi thảm họa do con người tạo ra và phẩm giá con người sẽ tăng trưởng một khi việc chế ngự các căn của Phật giáo trở thành một trong những mục tiêu phấn đấu của toàn thể nhân loại.

 

___________________

 

1 Bhikkhu Bodhi, In the Buddha’ Word, An Anthology of Discourses from the Pāli Canon, Wisdom Publications, Boston, 2005, p. 311.

2 F. L. Woodward, The Book of the Kindred Sayings, Vol.IV, pp.110-11.

3 HT.Thích Minh Châu, dịch, Trường bộ kinh, Kinh Sa-môn quả, (Sàmannaphala sutta).

4 HT.Thích Minh Châu, dịch, Trung bộ kinh, Kinh Căn tu tập, https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung152.htm

 

Nguồn:

https://thuvienhoasen.org/a39179/phuong-phap-phong-ho-cac-can

 

.... o ....

 

The method of guarding the senses / Phương pháp phòng hộ các căn

 

 

Author: Thích Trung Định

Translated by Nguyên Giác

 

 

The Buddha taught in great depth about protection of the senses (guarding the senses against defilements), among many Buddhist practices.

  

There are six senses, namely eyes, ears, nose, tongue, body and mind, which will come into contact with the six sense objects of sight, sound, smell, taste, touch, and dharmas. From the Buddhist point of view, the contact between the senses and worldly objects is an opportunity for lustful, unwholesome, and unwholesome thoughts to flood the mind. The law of dependent origination states that contact gives rise to feelings, then from feeling arises craving, then from craving arises grasping, then from grasping arises being, which leads to birth, old age, illness, death, grief, and suffering. When a link in this chain of dependent origination is severed, suffering ceases. That is the meaning of the method of protecting the senses.

  

When the senses come into contact with objects, there are usually two directions of psychological reaction: liking when the feeling is pleasant and aversion when the feeling is unpleasant. According to Buddhism, both of these tendencies are driven by ignorance and are the root cause of suffering. It is out of ignorance of the nature of those reactions and because of the constant flux of the senses and their objects that we either love what is pleasant or hate what is unpleasant, which, as a result, makes us miserable. Therefore, it can be said that suffering arises mainly due to greed, hatred, and delusion. And so, guarding the senses has the purpose of preventing thoughts of greed, hatred, and delusion from arising from that contact.

  

In the first group of suttas, the Fire Sermon Discourse (i.e., SN 35.28), the Buddha declared: "All is on fire." All means six senses, six objects, and six consciousnesses. The eye is burning with what is seen, the ear is burning with what is heard, and so on with the remaining senses and sense objects. They are burning with fires of affliction and suffering.

  

The Linked Discourses on the Six Sense Fields state that, in order to end ignorance and create true understanding, we must contemplate all six internal and six external sense bases (i.e., the twelve fields) as impermanent, unsatisfactory, and not-self. The six senses that are burning with the six sense objects give rise to greed and grasping, and from these six fields, the burning fire can be extinguished and annihilated. This path of practice can lead us to attain Nirvana (SN 35.147 Sutta: Aniccanibbānasappāyasutta). Another path, mentioned in the Sutta The Emptiness of the World (SN 35.85 Sutta: Suññatalokasutta), is to see that the six senses are empty of self and of what belongs to self. Since everything arises from the six senses, the six sense objects, and the six consciousnesses, everything is empty of self.

 

Protecting the senses does not mean blocking the senses from contact with objects. Such a thing is not possible. Just keep your mind in mindfulness and clear comprehension, guarding the senses, and not letting the mind wander and search (a mind that wanders and searches will lead to suffering). In the Saṃyutta Nikāya, the Buddha presented the protection of the senses as follows:

 

“And how does a mendicant guard the sense doors? When a mendicant sees a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know a thought with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. That’s how a mendicant guards the sense doors.” (AN 3.16 Sutta, translated by Bhikkhu Sujato)

 

In the discourses of Dīgha Nikāya (DN 2 Sutta: The Fruits of the Ascetic Life), the Buddha taught: "Endowed with this noble restraint of the sense faculties, he experiences within himself an unblemished happiness." (Trans. by Bhikkhu Bodhi) By guarding the senses with mindfulness and clear comprehension, the mind will be unattached to objects, settle down, and begin to generate joy and happiness. This is the beneficial result of the method of protecting the senses, that is, experiencing a clear, relaxing, peaceful life with a mind that is unaffected by external circumstances and no longer reacts to the fluctuations of everything favorable or unfavorable. Having done so, the practitioner is unaffected by any external circumstance, masters his mind, and begins to enter the right path.

  

In the discourses of Majjhima Nikāya (MN 152 Sutta: The Development of the Faculties), the Buddha taught the method of guarding the senses as follows:

 

“And how, Ānanda, is there the supreme development of the faculties in the training of the Noble One? When a mendicant sees a sight with their eyes, liking, disliking, and both liking and disliking come up in them. They understand: ‘Liking, disliking, and both liking and disliking have come up in me. That’s conditioned, coarse, and dependently originated. But this is peaceful and sublime, namely equanimity.’ Then the liking, disliking, and both liking and disliking that came up in them cease, and equanimity becomes stabilized. It’s like how a person with clear eyes might open their eyes then shut them; or might shut their eyes then open them. Such is the speed, the swiftness, the ease with which any liking, disliking, and both liking and disliking at all that came up in them cease, and equanimity becomes stabilized. In the training of the Noble One this is called the supreme development of the faculties regarding sights known by the eye." (Trans. by Bhikkhu Sujato) The mendicant also practices the same with the remaining senses.

 

Thus, in order to guard the senses, there are two main tasks that need to be done. First, the practitioner has to learn to control his desires when his sense organs are in contact with the objects. Second, he learns to see clearly the nature of all sensations as unreal, impermanent, and ever-changing.

  

However, these practices go against the habits of a civilized society that promote materialism and emotionalism. Therefore, most people still live under the influence of the emotions of the senses. Businesses in advertising, tourism, food, and music focus on satisfying customers' vision, hearing, smell, taste, and touch to earn profits. And as we all know, humanity's desire for the satisfaction of sight, hearing, smell, taste, touch, and mental objects gave birth to the so-called civilization of mankind.

  

It is those desires that have become a harsh truth and pose a great threat to the very existence of humanity. The contradiction of modern civilization lies in itself: man's inherent selfish desire has drawn a vision for man to achieve his goal, to serve sensory gratification. Despite the remarkable achievements of civilized society, it is difficult to assume that a civilization that promotes self-interest and operates in such a way as to stimulate an increase in lustful desire in humans can ensure continuous and long-term development without bringing trouble.

  

The result of this tendency is the greedy and belligerent thoughts that come from the self-centeredness that has paved the way for all evils in society. The more people seek satisfaction in sensual pleasures, the more the world is in crisis. Nowadays, it is understood that greed and lust are the sources of war and of global crises such as environmental pollution, resource depletion, etc. Therefore, the only way out of this disaster is to practice mindfulness to prevent greed and craving.

  

By personal experience, the Buddha pointed out to everyone that a person cannot conquer his desire for sensory pleasures unless he himself experiences the joy and happiness that arise as a result of meditation practice. This shows that Buddhist meditation has the ability to subdue sensual desires and that the practitioner can seek other pleasures beyond sensory pleasures.

  

The Buddha called the happy experiences born of meditation "the happiness of renunciation, the happiness of equanimity, the happiness of peace, and the happiness of awareness." This explains the fact that the pleasures born from guarding the senses are of a peaceful and altruistic nature, while the pleasures of the senses are of an aggressive and selfish nature.

  

Because of their properties, the joys born of meditation in Buddhism are called "wonderful, holy, and fearless things," while sensory desires are seen as "lowly, evil, and terrifying." From this point of view, we can say that the world will be free from man-made catastrophes and that human dignity will increase once the Buddhist method of guarding the senses becomes one of the striving goals of all mankind.

 

(All notes were removed in the English version.)

 

.... o ....

Trước đây, những người Việt Nam nhập cư đến Hoa kỳ trước ngày 12 tháng 7 năm 1995 phần lớn được bảo vệ khỏi việc bị trục xuất theo các thỏa thuận giữa Hoa kỳ và Việt Nam. Năm 2008, Hoa kỳ và Việt Nam đã ký một thỏa thuận về việc trục xuất người về Việt Nam, nhưng thỏa thuận này loại trừ những người nhập cư đến Hoa kỳ trước ngày 12 tháng 7 năm 1995 – ngày Hà Nội và Washington bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
“Cứu tôi! Cứu tôi! Tay tôi gãy rồi! Đau quá!” Tiếng kêu thất thanh của một người đàn ông nằm úp mặt dưới rãnh nước bên đường, trong lúc các nhân viên di trú liên bang đè giữ và còng tay ông, đã gây phẫn nộ tại Long Beach sau khi đoạn video ghi lại cảnh tượng này được phổ biến trên mạng xã hội. Người đàn ông là Ricardo Gonzalez, một cựu nhân viên lâu năm của thành phố Long Beach, người nói rằng mình là công dân Hoa Kỳ. Ông bị thương nặng trong cuộc bố ráp của Cơ Quan Thi Hành Luật Di Trú và Quan Thuế Hoa Kỳ (Immigration and Customs Enforcement, ICE) hôm thứ Bảy, 17 Tháng Mười, tại khu dân cư phía Bắc Long Beach.
Hoa Kỳ đang đối diện nguy cơ mất dần những tài năng khoa học hàng đầu khi ngày càng nhiều nhà nghiên cứu quyết định ra nước ngoài làm việc, vì chính quyền Tổng thống Donald Trump cắt giảm ngân sách và gia tăng sự kiểm soát chính trị đối với các công trình nghiên cứu. Theo hãng thông tấn AP ngày 19 tháng Mười, 2026, các đại học tại Canada, Pháp, Bỉ, Phần Lan, Anh và Úc đang tích cực tuyển mộ khoa học gia từ Hoa Kỳ, hứa hẹn ngân khoản ổn định và quyền tự do nghiên cứu, những điều mà giới khoa học Mỹ ngày càng cảm thấy bất an ngay trên đất nước mình.
Hàng trăm ngàn người xuống đường trên khắp nước Pháp hôm thứ Bảy, 17 tháng Mười, phản đối giá sinh hoạt tăng cao và tình trạng thiếu ngân sách dành cho giáo dục cùng các dịch vụ công cộng. Những cuộc biểu tình ban đầu ôn hòa đã biến thành bạo loạn tại nhiều thành phố, với các vụ đốt phá, cướp bóc và đụng độ dữ dội giữa người biểu tình với cảnh sát.
Nữ Dân biểu Cộng Hòa María Elvira Salazar, đại diện địa hạt 27 của Florida, đã công khai cảnh cáo Tổng thống Donald Trump rằng chính sách trục xuất di dân quá mạnh tay của ông đang khiến nhiều cử tri gốc Mỹ La Tinh quay lưng với đảng Cộng Hòa, chỉ vài tuần trước cuộc bầu cử Quốc Hội giữa nhiệm kỳ. Theo NPR ngày 18 tháng Mười, bà Salazar, một người Mỹ gốc Cuba đã phục vụ ba nhiệm kỳ tại Quốc Hội, thực hiện một quảng cáo truyền hình hồi tháng Chín, đứng trước Bạch Ốc và nói thẳng với Trump: “Ông đã đi quá xa.”
Khẩu hiệu “No Kings” (Không có vua) xuất hiện trong các cuộc tuần hành tại Hoa Kỳ không chỉ thể hiện khát vọng bảo vệ dân chủ mà còn gợi mở những suy ngẫm về giới hạn của quyền lực, trách nhiệm cộng đồng và tinh thần hòa bình dưới góc nhìn Phật giáo. // The slogan “No Kings,” seen at demonstrations across the United States, expresses not only the aspiration to safeguard democracy but also invites deeper reflection on the limits of power, communal responsibility, and the spirit of peace from a Buddhist perspective.
Nếu bạn chưa bầu phiếu, hãy khẩn cấp điền các lá phiếu, và đừng tin vào Bưu điện, hãy tìm các thùng phiếu của quận để bỏ phiếu vào thùng. Vì rất nhiều lá phiếu đã bị 5 tiểu bang (trong đó có California) quăng bỏ vì trễ hay vì Bưu điện đóng dấu trễ.
Garden Grove: ông Tuan Nguyen bị truy tố vì cậu con trai 13 tuổi lái xe máy điện tốc độ cao, vượt đèn đỏ, bị truy đuổi rồi tông vào xe cảnh sát - Santa Ana: Truy tố ba và mẹ của cậu Benson Nguyen vì cậu lái xe e-moto bị tử nạn
Do vậy, quý vị có thời gian rảnh, muốn luyện tập cơ thể để tăng thêm sức khỏe xin hãy ghé đến thăm nơi đây là: Chùa Bảo Quang 713 N. Newhope St. Santa Ana – CA 92703. -- Chiều Thứ Bảy và Chiều Chủ Nhật, lúc 6 giờ đến 8 giờ tối. Quý vị có thể xem các anh – chị - em trong Tiên Long Võ Đạo tập luyện tại sân chùa…dưới sự hướng dẫn của các anh - chị võ đạo. Riêng thầy Song Yến Phi - Sư trưởng, tính tình rất hòa ái luôn luôn vui vẻ - tận tình hướng dẫn cặn kẽ cho từng võ sinh, gồm nhiều lứa tuổi đang tập luyện, nam - nữ tham gia đều được….
1. Macron Chỉ Trích Trump Lợi Dụng Bạo Loạn Tại Pháp Để Vận Động Tranh Cử, Loan Truyền Tin Sai Sự Thật 2. Em Trai Cựu Tổng Thống George W. Bush Bỏ Phiếu Cho Đảng Dân Chủ: “Tư Cách Quan Trọng Hơn Đảng Phái” 3. Đức Giáo Hoàng Leo XIV Không Cần Điều Trị Thêm Sau Ca Giải Phẫu Ung Thư Phổi 4. Đảng Dân Chủ Kiện Chính Quyền Trump Đe Dọa Viên Chức Bầu Cử, Đòi Gạt Cử Tri Khỏi Danh Sách 5. Tối Cao Pháp Viện Bác Yêu Cầu Của Trump, Tiếp Tục Cho Phép Điều Trị Y Tế Đối Với Tù Nhân Chuyển Giới 6. Bạch Ốc Cấm Phóng Viên Theo Trump, Đe Dọa Politico Vì Những Bài Báo Bất Lợi 7. Meta Bị Phạt 25 Tỷ Mỹ Kim Vì Lừa Dối Người Dùng Facebook Về Quyền Riêng Tư 8. Dân Biểu Ilhan Omar Phải Dọn Nhà Vì Bị Đe Dọa Tính Mạng Sau Cuộc Khám Xét Của Liên Bang 9. Không Khí Ô Nhiễm Có Thể Làm Não Teo Nhỏ, Gia Tăng Nguy Cơ Mất Trí Nhớ
Thực tế: dân Canada chi trả cho y tế toàn dân. Luật Canada Health Act bảo đảm tất cả cư dân đều được chăm sóc y tế bất kể khả năng chi trả
- Nga đang chiếm 25% lãnh thổ Ukraine, và đóng băng để hòa đàm không có nghĩa là Ukraine công nhận chủ quyền pháp lý của Nga ở vùng chiếm đóng - Putin: đồng ý "về nguyên tắc" về nối lại đàm phán ba bên sau ngày 10 tháng 11 - Trump hy vọng sẽ ép Zelensky ký hòa ước nhượng đất cho Putin trước cuối năm.
Nobel Văn Chương thường là giải thưởng cao quý nhất trên thế giới cho cả sự nghiệp văn chương của cho toàn bộ tác phẩm (hoặc tác phẩm tiêu biểu) đóng góp văn chương của tác giả. Mỗi năm, Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển thông báo hàng ngàn đề nghị ứng cử viên được gửi đi trên thế giới. Các đề cử tác giả phải được gửi đến Hàn Lâm Viện Viện Thụy Điển trước ngày 1 tháng 2, sau đó một ủy ban sẽ xem xét các đề cử kỹ lưỡng. Từ tháng 4, giới hạn số ứng cử xuống còn khoảng 20, đến mùa hè thì chỉ còn khoảng 5 tác giả nằm trong danh sách đề cử. Các tháng tiếp theo, viện sĩ của Viện bắt đầu nghiên cứu kỹ tác phẩm của những ứng cử viên cuối cùng… Giải thưởng thường công bố vào tháng 10.
• ‘Trump bộc lộ khao khát mãnh liệt đối với một nam thượng nghị sĩ MAGA’ • Dùng quảng cáo ‘bẩn’ tấn công đối thủ, Ramaswamy nhận bão chỉ trích • Đặc vụ liên bang gõ cửa từng nhà, tìm người không phải công dân Mỹ ghi danh đi bầu • Danh sách ‘nhiều khả năng’ không phải công dân Mỹ ở California lại là những người sinh ra tại Hoa Kỳ • Đặc sứ Witkoff nói Putin “nhân đạo” sau khi Nga trả tự do cho một công dân Mỹ • CNN dọa kiện chính quyền Trump vì tiếp tục cấm phóng viên lên Air Force One • Các công ty thực phẩm kiện chính quyền Trump, đòi chặn thuế quan 50% đối với hàng Canada • Zelenskyy cho biết Mỹ đã nối lại việc chia sẻ tình báo về các cuộc tấn công của Nga
Trụ trì Thiền Viện Chân Nguyên, Edelanto, California, USA Do niên cao lạp trưởng, ngài đã thuận thế vô thường, thâu thần viên tịch vào lúc 07 giờ 32 phút tối ngày 02 tháng 10 năm 2026 (tức ngày 22 tháng 08 năm Bính Ngọ), tại California. • Trụ thế: 85 năm. Hạ lạp: 25 năm
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.