Hôm nay,  

Song ngữ: Praying and chanting sutras / Cầu nguyện và tụng kinh

07/12/202309:33:00(Xem: 18727)
blank 

Cầu nguyện và tụng kinh

 

Tâm Diệu

 

Đạo Phật trên ý nghĩa thiết yếu là “biện chứng giải thoát” hay là con đường giải thoát. Giải thoát khỏi khổ đau, sinh tử luân hồi. Tuy cùng đi trên một con đường, nhưng vì con người có nhiều tâm tính, trình độ, khả năng và căn cơ khác nhau, lại vì tùy hoàn cảnh, tùy phong tục, tập quán, luật lệ thay đổi theo từng địa phương và tùy thời điểm, cho nên Đức Phật đã đưa ra vô số phương tiện khác nhau, thường được tiêu biểu bằng con số 84 nghìn pháp môn, để hướng dẫn mọi người đạt đến cứu cánh giác ngộ, giải thoát. Cầu nguyện và tụng kinh, tuy không phải là cứu cánh, nhưng cũng là một trong 84 nghìn pháp môn.

 

CẦU NGUYỆN

 

Thời Đức Phật tại thế, có chàng trai trẻ đến xin Phật làm lễ cầu siêu cho người cha vừa quá vãng. Biết rằng chàng trai trẻ tràn ngập nỗi đau khổ chắc khó có thể hiểu được những lý lẽ trong lúc này, nên Đức Phật đã phải dùng phương tiện bằng hình ảnh cụ thể với những đặc tính đối lập, một hòn đá và một lon dầu, cả hai được ném xuống hồ, đá nặng chìm xuống và dầu nhẹ nổi lên.  Đức Phật trả lời, như một hòn đá nặng được thả chìm xuống đáy hồ, cho dù với sức cầu nguyện của số đông, hòn đá vẫn không thể nổi lên mặt nước. Qua đó, Đức Phật khẳng định nếu con người tạo nghiệp xấu thì chịu quả báo xấu và tạo nghiệp tốt thì được hưởng quả báo tốt, cầu nguyện không thể làm thay đổi được nghiệp lực, nhất là khi nghiệp đã chín muồi. Rõ ràng, cầu nguyện để mong giải tội, xóa sạch ác nghiệp đã tạo, phó thác hoàn toàn vào tha lực như các Bà la môn hằng tin tưởng là một việc làm vô ích. [01]

 

Tuy nhiên, trong một vài trường hợp khác, cũng trong kinh Pali, Đức Phật cho thấy sự cầu nguyện có ảnh hưởng đến người khác và môi trường sống chung quanh.  Điển hình là trường hợp Tỳ kheo Angulimāla (Vô Não), ông vốn là một tay cướp giết người nổi tiếng, nhưng Angulimāla được Phật hoá độ, trở thành Tỳ kheo. Một hôm, Angulimāla đi khất thực, gặp một người đàn bà sắp lâm bồn đang rên siết đau đớn bên đường. Không biết làm thế nào, Angulimāla trở về hỏi Đức Phật. Đức Phật khuyên Angulimāla đem lời sau đây nói với người đàn bà: “Này cô, từ ngày được sanh vào Thánh tộc (nghĩa là từ ngày tôi xuất gia), tôi chưa hề có ý tiêu diệt đời sống của một sinh vật nào. Do lời chân thật này, ước mong cô được vuông tròn và con của cô được bình an vô sự.”[02] Angulimāla học thuộc lòng bài kinh, rồi đi đến nơi, ngồi cách người phụ nữ một bức màn che, đọc lại với lòng chân thật. Người mẹ đau đớn liền sanh được dễ dàng.

 

Đến nay bài kinh Angulimāla Paritta [03] này vẫn còn được lưu hành ở một số quốc gia Phật giáo Nam Truyền. Điều này cho thấy năng lực nội tại (qua tâm từ và giữ giới) của hành giả có thể có tác dụng đến ngoại giới, đến môi trường chung quanh và ảnh hưởng ấy lại được chuyển tải bởi ngôn ngữ (lời kinh).  Sức mạnh của tâm từ và năng lực trì giới của Tôn gỉa Angulimāla đã chuyển hoá tai họa của sản phụ, khiến cho mẹ con được an lành.

 

Cũng vào thời Phật, có một số tỳ kheo sống trong rừng sâu bị rắn độc cắn bị thương nhiều có khi gây tổn hại đến sinh mệnh, nên Phật đã dạy các tỳ kheo ấy hãy rải tâm từ đến các loài rắn độc thì sẽ tránh khỏi. Phật dạy bài kệ. Nội dung bài kệ không phải là những câu thần chú bí hiểm, mà chỉ là những lời ước nguyện, mong cho tâm từ của hành giả lan toả đến chúa tể các loài rắn độc, các sinh vật không chân, hai chân và bốn chân; ước nguyện chúng sinh các loại đều được an lành, không làm hại đến tỳ kheo. Văn ước nguyện này được gọi là “hộ chú” (parittam). [04]

 

Trong thời cận đại, một vị  bác sĩ người Pháp qua Việt Nam làm các việc từ thiện ở những năm đầu thập niên thế kỷ 20 cũng xác nhận rằng nhờ “tâm từ” mà ông đã thoát được nạn rắn độc. Đó là trường hợp bác sĩ Yersin: “Năm 1894 bác sĩ Yersin đi từ cao nguyên Lang Bian đến Darlac rồi từ Darlac đến Attopeu, một bữa nọ bác sĩ đang đi trong rừng, mắt chăm chú nhìn lên các ngọn cây cao, thì bỗng nghe sau lưng có tiếng động. Quay lại thì ngó thấy một con rắn hổ mang to lớn đứng thẳng lên trên đuôi, phùng mang le nọc độc.  Bác sĩ Yersin đứng yên, thái độ hoàn toàn bình thản. Rắn lắc lư chiếc đầu dẹp muốn nhảy đến chụp, nhưng lại trù trừ. Hồi lâu hạ mình xuống vụt phóng vào bụi rậm rồi đi mất. Nghe được câu chuyện, có người đến hỏi bác sĩ có phải nhờ thuật thôi miên mà thoát nạn chăng? Bác sĩ cười đáp: “Rắn độc cũng như thú dữ, cắn người chỉ để tự vệ. Chúng đều có linh tính. Một khi nhận biết rằng mình không có ác tâm, ác ý đối với chúng thì không bao giờ chúng làm hại mình”[05] .

 

 

Trên đây là một số trường hợp cầu an cứu hộ có tính cách cá nhân cho mình hoặc cho người, nương nhờ vào năng lực từ tâm và trì giới.  Trong trường hợp số đông chúng sinh như các vùng bị thiên tai, bão lụt làm mất tích và chết nhiều người, dẫn đến các bệnh dịch tàn phá khác. Phật giáo, ngoài những nỗ lực cứu giúp bằng các phương tiện vật chất còn có biện pháp cứu hộ khác bằng năng lực cầu nguyện của số đông với tâm từ bi, với chánh tín và chánh kiến qua việc đọc tụng kinh Châu Báu [06] như tại các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Nam truyền thường áp dụng.

 

Như thế có thể nói rằng ngoài tự lực, trong Phật giáo còn có tha lực và cầu nguyện. Sự cầu nguyện có thể được giải thích như là một ý lực mạnh mẽ muốn chuyển hóa nghiệp lực đối với tự thân đồng thời hỗ trợ cho tha nhân chuyển hóa nghiệp lực của họ, mà chủ yếu là sức mạnh của tâm từ bi và giữ giới luật. Tuy nhiên, điều chánh yếu là việc cầu nguyện phải phù hợp với lý và pháp. Hòa thượng Tịnh Không, trong một bài giảng có nói rằng việc cầu nguyện sẽ được hiệu nghiệm nhưng phải là “Như lý như pháp mà cầu”. Như lý như pháp là phải vì mục đích hạnh phúc của số đông, của tất cả chúng sinh, không chỉ riêng cho mình.

 

TỤNG KINH

 

Tụng kinh là cách hành trì rất phổ biến của cả hai trường phái Phật giáo Nam Truyền và Bắc Truyền.

 

Kinh có nghĩa là những lời Phật dạy, bao gồm những bài thuyết pháp của Đức Phật từ buổi thuyết pháp đầu tiên tại Ba La Nại cho đến lúc Phật nhập Niết Bàn.

 

Tụng kinh là để ôn lại những lời Phật dạy và để tự nhắc nhở mình ứng dụng lời của Phật dạy vào cuộc sống hằng ngày là không làm các việc ác, làm các việc lành và tự thanh lọc tâm ý.  Khi tụng kinh, do chú tâm vào lời kinh nên cả ba nghiệp là thân, khẩu và ý không có cơ hội tạo tác.  Do đó xa lìa được các gốc rễ của khổ đau như tham lam, sân hận, si mê, đem lại lợi lạc cho mình và người.

 

Nhiều bài kinh quan trọng từ giáo lý căn bản của Đức Phật được chọn ra từ các bộ kinh. Tên những bộ kinh nguyên thủy bằng chữ Pali được chọn ra là: Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya), Trung Bộ Kinh (Majjiima Nikaya), Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikaya), Tăng Chi Bộ Kinh, (Anguttara Nikaya) và Tiểu Bộ Kinh (Khuđaka Nikaya).  Các Kinh nguyên thủy bằng chữ Sanskrit gồm có các bộ A Hàm (Agamas) như Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tăng Nhất A Hàm, và Tạp A Hàm (tương đương với các bộ Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh, và Tiểu Bộ Kinh thuộc văn hệ Pali). Ngoài ra còn có các kinh thuộc Phật giáo Bắc Truyền như: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Kim Cang, Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Đại Bảo Tích, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Viên Giác, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, Kinh Duy Ma Cật, Kinh A Di Đà, và còn rất nhiều nữa.

 

Những kinh mà người Phật tử tụng trong truyền thống Phật giáo Nam Truyền để cầu an là Kinh Châu Báu và Kinh Phật Lực. Cầu siêu là Kinh Vô Ngã Tướng và Kinh Hồi Hướng Vong Linh.  Đối với Phật giáo Bắc truyền kinh Cầu an là Kinh Phổ Môn, Knh Dược Sư và cầu siêu là Kinh A Di Đà và Kinh Địa Tạng.

 

 “Cầu An” có nghĩa là ước nguyện cho chính chúng ta hay cho người khác tránh khỏi các hình thái của ma quỷ, bất hạnh, đau ốm, và ảnh hưởng xấu của những sự thay đổi môi trường sống trong hệ thống hành tinh cũng như để đặt tin tưởng nơi tự tâm bằng chính tâm từ bi, chánh tín, chánh kiến và năng lực giữ giới hạnh của chúng ta. Còn “Cầu Siêu” là nguyện cầu cho những người thân quá cố hoặc bạn bè quen hay không quen của chúng ta, nhưng vì tâm từ, vì họ mà làm những việc từ thiện để hồi hướng cho họ được nương vào phước lành đó mà vượt thoát khỏi ba đường ác.

 

Việc tránh ác, làm thiện và giữ giới của mỗi cá nhân và của số đông, hợp với sức mạnh gia hộ của thanh tịnh đại hải chúng Bồ Tát, của chư Phật và các vị thiện thần có thể đem lại kết quả, đạt được mục đích cầu an như ý lực mong muốn. Sự gia hộ mà trong kinh sách thường nói đến như là một tha lực, là điều rất khó giải thích, chỉ có thể cảm nhận được bằng kinh nghiệm bản thân.

 

 

Chú Thích:

 

[01] HT. Thích Minh Châu, Kinh Tương Ưng Bộ Tập IV Thiên 6 xứ Ch.8 Đoạn 6:

 

[02] HT. Narada Maha Thera, Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1998, Đức Phật và Phật Pháp

 

[03] HT. Thích Minh Châu, Kinh Trung Bộ, Angulimala Sutta, kinh thứ 86.

 

[04] Suzuki - TT. Thích Tuệ Sỹ, Thiền và Bát Nhã,  Viện CĐPH Hải Đức, 2004.

 

[05] Quách Tấn, Xứ Trầm hương. Hội Văn học nghệ thuật Khánh Hòa tái bản 2003.

 

[06] HT. Thích Minh Châu, Kinh Tiểu Bộ Tập I Kinh Tập, (I) Kinh Châu Báu (Ratana Sutta) (Sn 39)

 

(Trích từ sách Phật Pháp Trong Đời Sống, Nhà xuất bản Hồng Đức 2014)

 

Nguồn:

https://thuvienhoasen.org/p22a21700/06-cau-nguyen-va-tung-kinh

 

.... o ....

 

Praying and chanting sutras

 

Author: Tâm Diệu

Translated by Nguyên Giác

 

At its core, Buddhism is a path to liberation. Buddhists who follow this path strive to distance themselves from suffering and break free from the cycle of birth and death. Although the path to liberation in Buddhism is universal, practitioners have diverse temperaments, abilities, and conditions. This is because the approach to enlightenment depends on various factors such as circumstances, customs, regional laws, and the era in which one lives. The Buddha, recognizing this diversity, offered numerous methods, symbolized by the number 84,000, to guide individuals towards the ultimate goal of enlightenment and liberation. Praying and chanting sutras, although not the ultimate method, is also one of the 84,000 methods.

 

PRAYING

 

During Buddha's time, a young man came to ask Buddha to perform a prayer ceremony for his father, who had just passed away. Knowing that the young man was filled with suffering and could hardly understand the arguments at this time, the Buddha had to use a concrete image with contrasting characteristics: a stone and a jar of oil. After both were thrown into the lake, the heavy rock sank while the light oil floated to the surface. Buddha replied that, just like a heavy stone dropped to the bottom of a lake, even with the prayers of many people, the stone could not float to the surface. The Buddha affirmed that if people engage in bad deeds, they will receive bad karma, while if they engage in good deeds, they will enjoy good karma. Prayers cannot change the karmic outcomes, especially when the karma has already matured. Obviously, praying to absolve sins and erase the negative karma you have accumulated, while completely entrusting yourself to the power of others, as the Brahmins always believe, is a futile endeavor.

 

However, in a few other cases, as mentioned in the Pali scriptures, the Buddha demonstrated that prayer can have an influence on both individuals and the surrounding environment. Like the case of Bhikkhu Angulimāla, in the past, he was a notorious murderer before being converted by the Buddha and becoming a monk. One day, Angulimāla went to beg for alms and encountered a pregnant woman in distress, moaning in pain on the side of the road. Not knowing what to do, Angulimāla returned to ask the Buddha. The Buddha advised Angulimāla to say the following to the woman: "Dear lady, since the day I was born into the Holy Clan (that is, since the day I became a monk), I have never had any intention to harm or take the life of any living being. May you find peace and may your newborn baby be safe and sound, as these words hold true." Angulimāla memorized the saying, then went to the place, sat a few feet away from the pregnant woman, and read it again with sincerity. The mother immediately felt less pain and gave birth easily.

 

The Angulimāla Paritta Sutta is still circulated in some Theravada Buddhist countries to this day. This demonstrates that the inner capacity of the practitioner (through compassion and adherence to precepts) can impact the external world and the surrounding environment. This influence is communicated through the language used in the sutta. The power of Venerable Angulimāla's compassion and his ability to uphold precepts transformed the misfortune of the pregnant woman, ensuring the safety of both her and her newborn baby.

 

Also, during the time of the Buddha, there were monks who lived in remote forests and were occasionally bitten by venomous snakes, resulting in injuries that posed a threat to their lives. Therefore, the Buddha taught the monks to cultivate compassion towards poisonous snakes, ensuring their safety. Buddha taught the monks a verse. The content of the verse is not a mysterious mantra, but rather a simple wish. It expresses the hope that the practitioner's compassion will extend to all beings, including poisonous snakes, creatures without legs, those with two legs, and those with four legs. The verse wishes for the safety and well-being of all living beings and for no harm to come to monks. This written wish is called a "protective mantra" (parittam).

  

In modern times, a French doctor who came to Vietnam to do charity work in the early 20th century also confirmed that he was able to escape from poisonous snakes thanks to his "compassion." That was the case with Dr. Yersin. In 1894, Dr. Yersin traveled from the Lang Bian plateau to Darlac, and then from Darlac to Attopeu. One day, the doctor was walking in the forest, gazing up at the towering trees, when he suddenly heard a noise behind him. Turning around, he saw a large cobra standing upright on its tail, releasing venom. Doctor Yersin stood still, maintaining a completely calm demeanor. The snake shook its flat head and attempted to lunge at the doctor, but hesitated. After a while, the snake lowered itself, jumped into the bushes, and disappeared. After hearing the story, someone approached the doctor to inquire whether he had used hypnosis to escape the danger. The doctor smiled and replied, "Poisonous snakes are similar to wild animals; they only bite people in self-defense. They all have premonitions. Once you realize that you harbor no malice or hostility towards them, they will never harm you."

 

Above are some personal instances of praying for safety for oneself or others, relying on the power of compassion, and adhering to precepts. In situations involving a significant number of living beings, such as areas impacted by natural disasters, storms, and floods, numerous individuals go missing and perish, resulting in additional catastrophic outbreaks. Buddhism, in addition to providing material assistance, also offers other forms of support through the collective power of prayer, rooted in compassion, right faith, and right view. One such practice is the recitation and chanting of the Ratana Sutta, which is commonly observed in Theravada Buddhist countries.

 

So, it can be said that in addition to relying on one's own strength, Buddhism also emphasizes reliance on the strength of others and the power of prayer. The practice of prayer can be understood as a sincere intention to change one's own karma while also assisting others in transforming their karma. It is primarily driven by compassion and the commitment to uphold moral principles. However, the main thing is that prayer must be in accordance with reason and dharma. In a sermon, Venerable Tinh Khong said that prayer can be effective, but it must be “practiced in accordance with reason and with the dharma.” Practice in accordance with reason and dharma must be for the sake of the happiness of the majority of all sentient beings, not just for oneself.

CHANTING SUTRAS

Chanting sutras is a widely practiced tradition in both Southern and Northern Buddhism.

 

Sutras are the teachings of the Buddha, encompassing his sermons from the first sermon at Ba La Nai until his entry into Nirvana.

  

Chanting sutras is a way to study the teachings of the Buddha and to remind the chanter to apply those teachings in their everyday life. This involves refraining from engaging in harmful actions, actively engaging in virtuous actions, and cultivating a pure mind. When chanting, due to focusing on the words of the sutra, there is no opportunity for the three karmic actions of body, speech, and mind to arise. Therefore, by avoiding the causes of suffering, such as greed, anger, and ignorance, you can bring benefits to both yourself and others.

 

Many important suttas from the Buddha's fundamental teachings were selected from the sutras. The selected names of the early Pali scriptures are: Digha Nikaya, Majjhima Nikaya, Samyutta Nikaya, Anguttara Nikaya, and Khuddaka Nikaya. Early Buddhist Sutras in Sanskrit include Agamas such as Dīrgha Āgama, Madhyama Āgama, Saṃyukta Āgama, and Ekottara Āgama (equivalent to Digha Nikaya, Majjhima Nikaya, Samyutta Nikaya, and Anguttara Nikaya in the Pali Canon).

 

There are also sutras in Northern Buddhism, such as the Lotus Sutra of Wonderful Dharma, the Avatamsaka Sutra, the Diamond Sutra, the Maha Prajnaparamita Sutra, the Mahaparinirvana Sutra, the Great Treasure Sutra, the Shurangama Sutra, the Perfect Enlightenment Sutra, the Heart Sutra, the Vimalakirti Sutra, the Amitabha Sutra, and many more.

 

The sutras recited by Buddhists in the Southern Buddhist tradition to pray for peace are the Ratana Sutta and the Buddhajayamaṅgalagāṭhā (the Power of Buddha Sutta). For praying for the deceased, they recite the Anattalakkhaṇa Sutta (the No-Self Sutta) and the Sutta Dedicated to the Dead. For Northern Buddhism, the sutras used to pray for peace include the Universal Gateway Sutra and the Medicine Buddha Sutra. On the other hand, the Amitabha Sutra and the Ksitigarbha Sutra are recited to pray for the deceased.

 

Praying for Peace means wishing for ourselves and others to be free from all forms of evil, misfortune, illness, and the negative effects of environmental changes in the planetary system. It also means having trust in our own minds, cultivating compassion, having right faith, right view, and the ability to maintain morality. The Requiem Prayer is a prayer offered for our deceased relatives, friends, or even unfamiliar individuals. It is an act of compassion where we perform charitable deeds on their behalf, dedicating the merits of these actions to help them escape the three evil paths and find blessings.

 

Avoiding evil, doing good, and adhering to the precepts, both individually and collectively, along with the benevolent influence of numerous Bodhisattvas, Buddhas, and divine beings, can yield fruitful outcomes, enabling the fulfillment of prayers in accordance with one's desires. The blessing, often referred to as a force of others in the scriptures, is very difficult to explain and can only be felt through personal experience.

 

(Excerpted from the book Live The Buddhist Teachings, Hồng Đức Publishing House, 2014)

 

.... o ....

Nếu bạn là cử tri Quận Boone, nơi phía Bắc tiểu bang Kentucky, hẳn là bạn biết nhiều hơn những người Việt nơi khác về ứng cử viên gốc Việt Lianna Nguyen (Đảng Dân Chủ) đang tranh một ghế cấp quận. Kentucky là một tiểu bang không có nhiều người Việt cư trú, do vậy cô Lianna Nguyen tập trung vào các vấn đề chung mà cử tri thường quan tâm. Thêm nữa, cô Lianna Nguyen là một điển hình của thế hệ thứ nhì của cộng đồng Việt tại Hoa Kỳ.
• Trump Lại Giở Chiêu Trò Mua Phiếu, Phát $90 Cho Người Hưởng Medicare Trước Bầu Cử, Hàng Chục Triệu Người Bị Loại • Dầu Vọt Lên 105 Mỹ Kim, Chứng Khoán Lao Dốc Vì Trump Cân Nhắc Tấn Công Iran Trở Lại • Nga Oanh Tạc Hai Xe Buýt Ở Ukraine, Ít Nhất 33 Người Thiệt Mạng • Trump Bị Người Biểu Tình Liên Tiếp Cắt Lời Trong Cuộc Vận Động Tranh Cử Tại Texas • Dân Chủ Hứa Khôi Phục Trợ Cấp Y Tế Nếu Giành Được Hạ Viện • Hai Vụ Kiện Nhắm Vào Quảng Cáo Dùng Tiền Thuế Của Trump • Hoa Kỳ Dự Tính Thu Lệ Phí 70.000 Mỹ Kim Đối Với Sinh Viên Ngoại Quốc Muốn Làm Việc • Bị Tiêm Thuốc Độc Hành Quyết, Sáu Ngày Sau Christa Pike Tỉnh Dậy, Phẫn Nộ Và Hoang Mang: “Tôi Đang Ở Đâu?” • Cảnh Sát Pháp Đàn Áp Biểu Tình Học Sinh: Một Em Vỡ Hàm, Một Em Mất Bàn Tay, Hơn 6,500 Người Bị Bắt • Nobel Văn Chương 2026 Vinh Danh Anne Carson, Nhà Thơ, Nhà Văn, Dịch Giả Canada
Nói về chữ "văn phong" hẳn là có những định nghĩa rất mực uyên bác trong sách vở. Một thời tôi đã từng học những thứ rất phức tạp trong các chứng chỉ Triết học, và bây giờ tôi đã quên sạch. Trong đầu tôi không còn chữ nào (không phải là vô niệm, như kiểu các Thiền sư nói; mà thực tế là vô tự, tức là không có chữ nào hiện lên trong tâm, và tôi không nhớ tôi đã tu tập kiểu nào mà lại ra như thế). Tôi cũng không phải chuyên gia về ngữ học. Nơi đây tôi chỉ muốn nói theo kiểu rất mực học trò thời mới lớn (may ra còn vài chữ), rằng văn phong là cái giọng mình nhận ra sau một cuộc nói chuyện với một ai đó. Thí dụ, bạn nhớ rằng hồi sáng, bạn nói chuyện gì đó với một thiếu nữ trên chuyến xe buýt, rồi bạn nhớ tới giọng Huế của cô này, tiếng cô cười dòn tan và dịu dàng khi từ biệt xuống trạm. Đọc một cuốn sách cũng thế, khi bạn gấp sách lại, bạn sẽ nhớ tới giọng riêng của từng tác giả và không khí truyện. Thí dụ, văn phong trong truyện Bố Già hiển nhiên là khác với trong Hoàng Tử Bé.
Đúng 1 giờ trưa thứ Năm, giờ Stockholm, Viện Hàn Lâm Thụy Điển công bố quyết định trao giải Nobel Văn Chương năm nay cho Anne Carson, người phụ nữ thứ 19 nhận được vinh dự này. Trong lời tuyên dương, Viện Hàn Lâm Thụy Điển vinh danh bà: “Vì sự nghiệp sáng tác táo bạo, độc đáo, qua cuộc đối thoại tài tình và dí dỏm với truyền thống văn chương cổ điển, đã khai mở những hình thức biểu đạt mới cho văn học đương đại.”
• Tượng Trump Khỏa Thân Trưng Bày Tại Nghị Viện Châu Âu Ở Strasbourg • Vụ án ‘Xưởng Trẻ Em’ kinh hoàng ở California • Chính quyền Trump không mời quan sát viên quốc tế theo dõi bầu cử giữa kỳ • Thâm hụt thương mại của Mỹ vượt mốc $100 tỷ, lần đầu tiên kể từ tháng 3/2025 • Nobel Hóa Học 2026 Thuộc Về 2 Nhà Khoa Học Pháp Và Nhật • ICE đã rà soát hàng chục triệu hồ sơ cử tri để tìm ai không phải là công dân • Nữ tử tù Christa Pike tỉnh lại, có thể nói chuyện sau vụ hành quyết bất thành • Florida ban bố tình trạng khẩn cấp tại 25 địa hạt đối với áp thấp nhiệt đới • Trump đối với giá năng lượng như thế nào?
Bản tin sau là của báo Tehran Rimes hôm 6/10/2026, do phóng viên Mahnaz Abdi tường thuật, tựa đề "Vietnamese trade delegation in Tehran; exclusive interview on expanding bilateral ties" (Phái đoàn thương mại Việt Nam tại Tehran: phỏng vấn độc quyền về việc mở rộng quan hệ song phương). Bản tin cho thấy Mỹ phong tỏa Iran chỉ là hành động đơn phương của Mỹ, nên không hẳn là kín bưng.
Nhà khoa học tiên phong nghiên cứu neutrino đoạt giải Nobel Vật lý: Francis Halzen được vinh danh nhờ công trình nghiên cứu về các hạt neutrino năng lượng cao có nguồn gốc thiên văn. Hôm thứ Ba 6/10/2026, GS Francis Halzen đã thắng giải Nobel Vật lý nhờ những đóng góp cho Đài quan sát Neutrino IceCube và việc phát hiện ra các hạt neutrino năng lượng cao có nguồn gốc thiên văn.
• Trump ‘mồi’ cho Iran kéo quân biến LA và San Diego thành bình địa • Sinh viên Cornell biểu tình phản đối trường giải quyết cáo buộc cưỡng hiếp tập thể • Trump đòi bắt các cơ quan truyền thông vì đưa tin về cuộc tranh cử • Quân đội Hoa Kỳ thi hành án xử bắn đầu tiên từ năm 1961 • Trump lại tuột điểm trong cuộc thăm dò mới • Roy Cooper dẫn đầu, super PAC của đảng Dân Chủ không cần quảng cáo ở North Carolina • Cựu thí sinh “American Idol” lãnh án chung thân không ân xá vì sát hại vợ • Tối Cao Pháp Viện mở niên khóa mới với vụ kiện khí hậu gây nhiều tranh luận • Biểu tình lan rộng khắp nước Pháp, từ các cuộc xuống đường của học sinh
Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.
Tôi không gọi là bệnh Tôi gọi là thời tiết cơn địa chấn từ ngực không bản tin nào dự báo Tôi hai mươi tuổi tin rằng mình đặc biệt cách một cơn mưa tin mình là nguyên nhân cơn lụt
- Giải Nobel Y học trao cho 3 Giáo sư đang dạy ở Mỹ, Đức, nghiên cứu về não bộ. - CBS: công an bắt 12 người đã trộm 2.700 con mèo bán cho các tiệm thịt mèo Sài Gòn. - Nam Hàn: 1 tàu cá với 11 thuyền viên lật chìm, chỉ vớt được 9 người, trong đó có 1 người Việt, mất tích 2 người. - Các học giả thế giới kinh hoàng: Trump tới Ohio, nói "Tôi hiểu biết nhiều hơn về mọi thứ so với bất kỳ ai trong căn phòng này. Bất kỳ ai ở bất cứ đâu trên thế giới." - Giá dầu diesel tăng cao: 82 công ty vận tải đường bộ đã chính thức nộp đơn khai phá sản từ đầu năm 2026 (nhưng theo thống kê của ngành, là 200 công ty phá sản).
Dịch theo bản tin AP, do phóng viên Gerald Imray viết từ Nam Phi: Một người nhập cư bị Mỹ trục xuất và giam giữ tại nhà tù ở châu Phi hơn một năm qua đã được trả tự do. Một công dân Lào bị Mỹ trục xuất sang Eswatini (quốc gia có tên cũ là Swaziland, trước khi đổi tên năm 2018) trong chiến dịch siết chặt kiểm soát nhập cư của chính quyền Trump đã được trả tự do khỏi nhà tù an ninh nghiêm ngặt tại quốc gia châu Phi này vào Chủ nhật, sau hơn một năm bị giam giữ; thông tin này do luật sư của ông cho biết.
- Cosco bị kiện vì mua hạt điều VN từ các trại lao động cưỡng bức và lao động trẻ em VN. - Nhật Bản siết nhập cư: GS Nhật nói có quá nhiều tin giả để thổi phồng số lượng người nhập cư gây tội phạm, lạm dụng phúc lợi xã hội, và nỗi lo nhập cư ồ ạt. Dân gốc Việt than trời. - Biển Đông: Hải quân Philippines truy bắt 1 tàu lạ nghị đánh bắt cá bằng thuốc nổ, 2 tàu Hải Cảnh TQ và 1 trực thăng TQ tới quậy phá, cứu tàu lạ. - Trump đe dọa áp thuế 300% nếu các hãng Nam Hàn, TQ, Nhật, Canada không mở xưởng ở Mỹ. Nam Hàn lo ngại có dự án sẽ lỗ. Nếu bị thuế 300%, thùng mì gói Nam Hàn 10 USD sẽ bán giá 40 USD? - Iran: Mỹ đang xét thỏa thuận do Iran đề ra // Iraq bắt những người xúc phạm quốc kỳ Mỹ trong cuộc biểu tình vì chủ quyền // Anh: 1 tàu dầu Anh bị phi đạn lạ bắn trúng, bể phòng máy. - Trump thành lập Lực lượng Siêu trí tuệ (SIF), tận dụng trí tuệ nhân tạo vào đời sống. - Trump tới Ohio kêu gọi bầu cho các ứng cử viên Cộng Hòa, hăm dọa nếu Dân Chủ thắng Ohio, Trump sẽ cắt viện trợ liên
Tôi từng được Thầy bổn sư dạy rằng, "Con đừng nên tranh cãi." Thế rồi nhiều năm sau, tôi bước vào nghề báo. Và thế rồi, tôi tự nhận thấy, từng dòng chữ mình viết xuống, từ trong thời chưa có máy vi tính, và từng chữ gõ xuống bàn phím từ khi có vi tính, là đi giữa những trận đồ tranh cãi. Thí dụ, chữ "máy vi tính" tôi vừa gõ hiển nhiên là một lựa chọn, và những lý luận, rằng tại sao không gõ chữ "máy điện toán" và rằng chữ này hay chữ kia là mang theo cả một khung trời giáo dục. Hay lựa chọn giữa chữ "tàu sân bay" và "hàng không mẫu hạm" và rất nhiều nữa.
Bài phân tích sau là của báo Dagens.com US hôm Thứ Bảy ngày 3/10/2026, tựa đề "America's clean car surrender: How the US auto industry lobbied to become globally obsolete" (Mỹ đầu hàng trong cuộc đua xe sạch: Kỹ nghệ xe hơi Mỹ đã vận động hành lang để tự trở nên lạc hậu trên toàn cầu) của nhà phân tích Asger Risom.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.