Hôm nay,  

Song ngữ: Did the Buddha preach the Dharma, or did he not preach the Dharma? / Đức Phật có thuyết pháp hay không thuyết pháp

22/12/202317:31:00(Xem: 18576)
blank

Đức Phật có thuyết pháp hay không thuyết pháp

 

Tâm Diệu

 

Trong các thuật ngữ của đạo Phật, có lẽ không có từ ngữ nào mà người học Phật cần phải hiểu và cần phải phân biệt rõ ràng, nếu như muốn hiểu giáo lý thâm diệu của đạo Phật như hai thuật ngữ "Chân Đế" và "Tục Đế".

 

Thật vậy, Đức Phật, vì muốn độ chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi nên mới nương vào thế giới Tục đế mà nói pháp, nhằm chỉ bày cho chúng sinh thấy được cái bản chất chân thật tự nhiên của Tâm vốn sẵn có, để chúng sinh, tự nỗ lực tu hành giải thoát khỏi khổ đau sinh tử, lìa khỏi thế giới Tục đế, đến thế giới Chân đế.

 

Cũng vì thế mà Ngài Long Thọ Bồ tát nói rằng: "... Các Đức Phật vì chúng sinh, y vào Nhị đế mà nói pháp, thứ nhất là Thế tục đế và thứ hai là Đệ nhất nghĩa đế. Nếu người nào không nhận thức được hai chân lý này, thì đối với Phật pháp sâu xa, không thể hiểu được chân nghĩa. Nếu không nương tựa vào tục đế, thì không thể thấy được chân lý; nếu không thấy được chân lý, thì không thể ngộ được Niết bàn..." [1]

 

Tục đế là một hợp từ: "tục" nghĩa là thế tục, thế gian hay phàm tục, "đế" nghĩa là chân lý. Tục đế có nghĩa là những cái gì mà người thế tục đồng ý với nhau, gọi là chân lý quy ước hay còn gọi là chân lý tương đối, hoặc còn gọi là chân lý thế tục hoặc thực tại tương đối. Nó là tất cả những hiện tượng do duyên khởi tức là pháp sinh diệt trong thế gian nầy.

 

Còn Chân đế, cũng là một hợp từ, có nghĩa là chân lý chân thật không hư vọng, là chân lý tuyệt đối, là chân lý tối thượng, cũng còn gọi là Đệ nhất nghĩa đế, là chân tâm, là giác tánh, là chân như...

 

Chân lý tuyệt đối là gì? Không ai biết được ngoại trừ chính chư Phật và chư Tổ đã giác ngộ. Các Ngài cũng không thể nói cho chúng ta biết được. Toàn bộ giáo điển của chư Phật là pháp phương tiện, Ngài "dùng pháp thế gian, (tức thế tục đế) để giảng nói cho chúng sinh" [2], cốt để chúng sinh ngộ được cái chân lý tuyệt đối như Ngài vì Ngài thấy Tâm Phật và Tâm chúng sinh vốn không khác, vốn tự đầy đủ mênh mông khắp không gian và thời gian.

 

Thật vậy, xuyên qua lời dạy của Phật và chư Tổ, sở dĩ có sự sai khác là vì tâm chúng sinh bị mê mờ ô nhiễm. Cái Tâm bị bao vây bởi tham sân si, bởi vọng tưởng điên đảo, bởi tham nhiễm các pháp có không. Ngài Sogyal Rinpoche, một đại sư Tây tạng, ví Tâm chúng ta bị vây kín trong một cái bình mà "khoảng không trong bình cũng giống như khoảng không bên ngoài. Khi chúng ta giác ngộ, thì cũng như cái bình vỡ tan thành mảnh vụn... Ngay lúc đó và tại chỗ đó, chúng ta trực nhận được rằng chúng chưa từng bao giờ có sự ngăn cách hay sai khác..." [3]

 

Vì tâm sinh diệt của chúng sinh luôn luôn dính mắc vào các pháp "có không" nơi thế giới hiện tượng tức thế giới tục đế, nên Đức Phật thấy thật là khó nói về cái mà Ngài đã chứng ngộ, chẳng hạn như nói về Phật tánh, chân tâm, vốn không hình tướng, không số lượng. Nếu nói chúng sinh có Phật tánh là chấp trước, nói không có Phật tánh là hư vọng, nói Phật tánh cũng có cũng không là nói trái ngược nhau, nói Phật tánh chẳng có chẳng không là hý luận. Nên Phật mới dùng các pháp thế gian phương tiện, "giả lập kệ pháp, giả lập danh tự, vốn chẳng phải Phật, nói với họ là Phật, vốn chẳng phải Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, nói với họ là Bồ Đề, Niết Bàn, giải thoát, ... Biết họ gánh trăm tạ chẳng nổi, tạm cho họ gánh một lon, một chén, biết họ khó tin giáo liễu nghĩa, tạm nói với họ giáo bất liễu nghĩa, tạm được pháp lành lưu hành còn hơn là pháp ác..." [4].

 

Cũng chính vì chân lý tuyệt đối này rất khó hiểu, khó nhận, khó nói nên đôi khi Ngài phải dùng những thí dụ bằng lời nói, như trong Kinh Pháp Hoa, Phật dùng bảy thí dụ, trong đó có hai thí dụ là cái nhà lửa và câu chuyện đứa con cùng tử mà ai cũng biết. Ngoài ra còn nhiều kinh khác như Bách Dụ Kinh, Tạp Thí Dụ Kinh, Bồ Tát Bổn Sanh Kinh, ... Các thí dụ Ngài nói trong kinh thường dùng phương thức ngụ ngôn, hàm chứa những ý nghĩa thâm thúy, ám thị lý tuyệt đối mà chân lý tuyệt đối này không thể dùng lời trực tiếp mà giảng giải vì lời chỉ là khí cụ diễn đạt cái tư tưởng tương đối, cái có hình, có tướng trong thế giới nhị nguyên.

 

Chư Tổ chứng ngộ cũng vậy, không thể nói cho chúng ta biết được chân lý tuyệt đối là gì, mà quý Ngài chỉ dùng những câu chuyện ngụ ngôn, như câu chuyện con rùa và con cá để làm thí dụ mà thôi. Rằng con rùa từ dưới nước bò lên mặt đất, đi một vòng rồi trở về nước, bơi cạnh con cá, kể chuyện đất liền cho nó nghe. Nhưng con cá, vì chưa bao giờ rời khỏi nước, không thể tưởng tượng nổi lại có một môi trường có thể sống được mà không có nước, không bơi lội. Cho nên con rùa đành chịu mang tiếng là nói chuyện viển vông hoang đường, không có trong thực tế. [5]

 

Cảnh giới tuyệt đối, chân tâm, giác tánh, chân như, mà Phật đã giác ngộ không thể nói cho người chưa chứng ngộ biết được. Vì lẽ đó mà người đời đôi khi cũng phê bình: "Đạo Phật cao siêu quá, không có trong thực tế". Nhưng chính đó mới là cốt tủy của Phật Giáo.

 

Kinh Kim Cang là kinh liễu nghĩa, nói về cốt tủy của đạo Phật, về chân lý tuyệt đối, cho nên không có pháp gì để nói. Những lời Phật dạy trong kinh chỉ giúp chúng sinh phá bỏ những hiểu biết tương đối, phá bỏ những kiến chấp sai lầm cố hữu, những vướng mắc lâu đời vốn là nhân kiên cố của vòng xích luân hồi, đã lôi kéo chúng sinh vào vòng trầm luân muôn vạn kiếp. Ngài phá bỏ không còn một kiến chấp nào và Ngài cũng tuyên bố luôn là Ngài không thuyết pháp:

 

"- Tu Bồ Đề! Ông chớ cho Như Lai có nghĩ rằng: "Ta có nói pháp". Ông chớ nghĩ như vậy. Bởi vì sao?

- Vì nếu người nào nói rằng: Như Lai có nói pháp, tức là chê Phật, không hiểu được lời của ta nói.

- Tu Bồ Đề! Nói pháp, là không có pháp gì nói được, ấy gọi là nói pháp." (6)

 

Có nghĩa là Phật không nói về cái chân lý tuyệt đối, về cái chân tâm, Phật tánh, Chân Như, vì chân lý tuyệt đối vốn chẳng thể dùng ngôn ngữ tương đối thế tục để biểu thị. Ngài chỉ dùng ngôn ngữ thế gian tức chân lý thế tục để chỉ bảo chúng sinh, mà ngôn ngữ thế tục, là pháp tương đối thì không có tự tánh, chỉ do nhân duyên hòa hợp, và do nhân duyên hòa hợp nên không có thật.

 

Đức Phật khi giảng pháp, Ngài luôn luôn nói sự thật. Có khi Ngài nói về sự thật tương đối và có khi Ngài nói về sự thật tuyệt đốị Nếu không hiểu điều đó, chúng ta thấy nhiều điều Ngài nói trái ngược nhau và sẽ làm cho chúng ta bối rối, hiểu mập mờ, hỗn độn (confuse). Thí dụ như trong kinh Đại Bát Niết Bàn đức Phật nói:

 

Chư hành vô thường,

Thị sinh diệt pháp.

Sinh diệt diệt dĩ,

Tịch diệt vi lạc.

 

Tạm dịch là:

 

Các hành vô thường

Là pháp sinh diệt

Sinh diệt hết rồi

Tịch diệt là vui.

 

Hai câu đầu có nghĩa là tất cả các pháp trong thế giới hiện tượng đều vô thường, chúng đều là những pháp sinh diệt. Hai câu sau có nghĩa là khi sinh và diệt không còn sinh diệt nữa thì còn là niềm an lạc. Trong thế giới này, tức thế giới tương đối có sinh và có diệt, còn thế giới kia tức thế giới tuyệt đối thì không sinh không diệt. Nếu chúng ta không hiểu rõ tục đế và chân đế thì cho rằng đức Phật nói trái ngược nhau. Sự thật Ngài luôn luôn nói đúng sự thật. Hai câu đầu là tục đế tức thuộc thế giới hiện tượng tương đối, có sanh và có tử. Hai câu sau thuộc lãnh vực tuyệt đối tức chân đế, không có sinh và không có diệt, là thế giới của pháp tánh hay thế giới của bản thể.

 

Đến đây, chúng ta trở lại bài kệ của Bồ Tát Long Thọ đã nêu trên phần mở đầu. Bồ Tát dạy chúng ta rằng nếu chúng ta không phân biệt được chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối, tức thế tục đế và chân đế, thì chúng ta không thể hiểu được đạo Phật. Do sự không hiểu và không phân biệt rõ này, chúng ta lại nhập nhằng đem lời Đức Phật nói "Không thể nói pháp Tuyệt Đối", mà cho là Đức Phật nói "Không nói pháp Tương Đối" là chúng ta vô tình vướng mắc vào sự hủy báng kinh, chứa đựng những lời tâm huyết của Đức Phật. Ngài đã dùng ngôn ngữ và chân lý thế tục để dạy người thế tục biết cách mà tiến dần trên con đường từ bỏ thế tục, trở về bản thể tuyệt đối. Nếu chúng ta không hiểu được điều đó, mà tưởng rằng Đức Phật không nói pháp, thì chúng ta sẽ mất niềm tin nơi kinh, sẽ mất cơ hội có bản đồ chính xác để tìm đường trở lại bản thể chân tâm tuyệt đối.

 

 ----

 

Ghi Chú

 

 

 

(1).Thích Tâm Thiện, Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh Không, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh 1999.

 

(2). Kinh Đại Bát Nhã, Cuốn 2, Trang 275

 

(3). Sogyal Rinpoche -Thích Nữ Trí Hải dịch, Tinh Chất Cam Lồ, , TP HCM Việt Nam 1969

 

(4). Bá Trượng Ngữ Lục, Thích Duy Lực, Từ ân Thiền Đường xuất bản, 1999 trang 29-30

 

(5). Narada Maha Thera, Đức Phật và Phật Pháp, Phạm Kim Khánh Việt dịch, Đại Nam xuất bản 1987, trang 458-459

 

(6). Thích Huệ Hưng dịch, Kinh Kim Cang Giảng Lục, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản 1983, trang 82.

 

 

(Trích từ sách Phật Pháp Trong Đời Sống, Nhà xuất bản Hồng Đức 2014)

 

Nguồn:

https://thuvienhoasen.org/p22a21709/15-duc-phat-co-thuyet-phap-hay-khong-thuyet-phap

 

.... o ....

 

Did the Buddha preach the Dharma, or did he not preach the Dharma?

 

Author: Tâm Diệu

Translated by Nguyên Giác

 

 To comprehend the profound teachings of Buddhism, students of Buddhism must understand and clearly distinguish between the two terms "Ultimate Truth" and "Conventional Truth."

  

The Buddha relied on worldly truth to speak Dharma in order to save sentient beings from the cycle of birth and death. His aim was to reveal the true nature of the existing mind to sentient beings, so that they could make their own efforts to practice and liberate themselves from the suffering of birth and death. This would enable them to leave the world of conventional truths and reach the world of ultimate truth.

 

That's why Nagarjuna Bodhisattva said, "For the sake of sentient beings, the Buddhas speak the Dharma based on the Two Truths: the first is the conventional truth, and the second is the ultimate truth. Anyone who is unaware of these two truths cannot understand the profound meaning of the Dharma. If one does not rely on conventional truths, one cannot see the truth; if one cannot see the truth, one cannot realize Nirvana."

 

The conventional truth, also known as secular truth, is a compound word: "secular" refers to worldly, and "truth" denotes truth. Conventional truth refers to the consensus among secular individuals, also known as relative truth or secular reality. All phenomena arise due to conditions, known as dharmas, and they arise and pass away in this world.

 

As for the ultimate truth, it is a compound word signifying genuine truth, not falsehood. It represents the absolute truth, the supreme truth, the truth of highest significance, the true mind, the nature of awareness, or suchness.

 

What is the absolute truth? No one knows, except the enlightened Buddhas and Patriarchs. They also cannot inform us. The entire teachings of the Buddhas are expedient methods. The Buddha utilized worldly dharma, the conventional truth, to teach living beings so that they could comprehend the absolute truth, just as he did, perceiving no distinction between the mind of Buddha and the mind of any worldly being. The same mind is inherently self-sufficient and vast across space and time.

 

Indeed, the teachings of the Buddha and the Patriarchs are often misinterpreted due to the confusion and pollution of the reader's mind. When the mind is consumed by greed, anger, and ignorance, as well as contradictory delusions, and by clinging to attachments of existence or non-existence, that is the moment of turmoil. Sogyal Rinpoche, a renowned Tibetan master, compares our mind to being enclosed in a vase, stating that "the space inside the vase is the same as the space outside. When the practitioner achieves enlightenment, it is akin to seeing a vase shattered into pieces. Right then and there, the practitioner directly perceives that space has never had any separation or difference."

 

Because the minds of sentient beings are constantly arising and passing away, always attached to the existence or non-existence of the phenomenal world (i.e., the worldly truth), the Buddha found it difficult to articulate the Dharma that he realized, such as Buddha nature or the true mind, which has no form or quantity. If we assert that sentient beings possess Buddha nature, we embrace the mistaken concept of existence. If we deny the existence of Buddha nature, we are holding onto an illusion. If we assert that Buddha nature both exists and does not exist, it leads to a contradiction. If we assert that Buddha nature is neither existent nor nonexistent, it becomes nonsensical. That's why Buddha used the concept of worldly dharma, which refers to half-truths in verses, names, and words. Where there was no Buddha, he still claimed that there was a Buddha. Similarly, even in the absence of Bodhi, Nirvana, or liberation, the Buddha still informed the audience that it was Bodhi, Nirvana, or liberation. Understanding that the listeners were unable to carry a load of hundreds of kilograms, the Buddha temporarily allowed them to carry either one vase or one cup. The Buddha understood that his listeners struggled to believe in teachings with ultimate meanings. Therefore, he temporarily shared teachings that did not have ultimate meanings, allowing beneficial worldly teachings to circulate temporarily, rather than allowing harmful beliefs to arise.

 

Because this absolute truth is very difficult to understand, live with, and interpret, the Buddha sometimes had to use similes. As in the Lotus Sutra, Buddha used seven examples, two of which are well-known: the house on fire and the story of the wandering son. There are also numerous other sutras, including the Sutra of One Hundred Similes (Bách Dụ Kinh), the Sutra of Multiple Similes (Tạp Thí Dụ Kinh), the Jataka Tales (Bồ Tát Bổn Sanh Kinh), and more. In numerous sutras, the Buddha employed metaphors with profound meanings to illustrate the absolute truth, which cannot be directly conveyed in words because words can only express worldly ideas that have shape and form in the realm of duality.

 

Similarly, the Enlightened Patriarchs are unable to provide us with the absolute truth; instead, they rely on parables, such as the story of the turtle and the fish, to illustrate their points. The turtle emerged from the water, moved around on land, and then returned to the water. It swam alongside the fish and shared stories about the land. The fish, having never left the water, cannot imagine an environment where it can survive without water and without swimming. Consequently, the turtle had to bear the reputation of speaking about wild nonsense that had no basis in reality.

 

The absolute realm to which the Buddha was enlightened—such as the true mind, nature of awareness, and suchness—cannot be explained to ignorant people. For that reason, people sometimes criticize Buddhism as being too sublime, too abstract, and disconnected from reality. But that is the essence of Buddhism.

 

The Diamond Sutra is one of the most profound sutras, delving into the essence of Buddhism and the absolute truth, asserting that there is truly no dharma to speak of. The Buddha's teachings in this sutra assist sentient beings in overcoming their relative understandings, inherent wrong views, and long-standing entanglements that are significant causes of the cycle of reincarnation. These factors have led sentient beings into an almost eternal cycle of birth and death.

 

The Buddha rejected all attachment to views and stated that he never claimed to preach the Dharma. The Diamond Sutra states: "Subhuti! Do not let the Tathagata think that the Buddha taught the Dharma. Please do not think like that. Why? If anyone claims that the Tathagata spoke the Dharma, it implies that this person is criticizing the Buddha and does not understand my teachings. Subhuti! To speak the Dharma is to say that there is no Dharma to say; that is called speaking the Dharma."

 

Buddha does not discuss the absolute truth, the true mind, Buddha nature, or True Suchness, as these concepts cannot be expressed in the relative language of the world. He only employs mundane language, or the secular truth, to guide sentient beings. However, mundane language, which is conditioned dharma, is inherently empty. It appears through the combination of causes and conditions and therefore cannot indicate the unconditioned truth.

 

When preaching the Dharma, the Buddha always spoke the truth. Sometimes the Buddha discussed conventional truth, and at other times, he discussed absolute truth. If we fail to comprehend this, we may perceive many of the Buddha's teachings as contradictory, leading to misunderstanding or confusion.

 

For example, in the Mahaparinirvana Sutra, the Buddha said,

 

"All formations are impermanent;

they are the phenomena of birth and death.

When birth and death come to an end,

cessation is bliss."

 

The first two lines indicate that all phenomena in the secular world are impermanent; they are all subject to birth and death. The last two lines imply that once birth and death cease to exist, what will remain is blissful peace. This world is a realm of relative birth and death. As for the world on the other shore, the absolute world, there will be no birth and no death. If we do not have a clear understanding of the conventional truth and the ultimate truth, we may mistakenly believe that the Buddha made contradictory statements. In fact, Buddha always spoke the truth. The first two lines express the conventional truth, which pertains to the realm of relative phenomena, where birth and death occur. The last two lines pertain to the absolute realm, which represents the ultimate truth. In this realm, there is no birth or death; it is the world of dharma nature, or the world of inherent essence.

 

At this point, we return to the verse of Bodhisattva Nagarjuna mentioned in the opening of this article. Bodhisattva teaches us that if we cannot distinguish between relative truth and absolute truth, that is, worldly truth and ultimate truth, then we cannot fully comprehend Buddhism. Due to this lack of understanding and lack of distinction, we ambiguously interpret the Buddha's words to mean that the Absolute Dharma cannot be conveyed, and mistakenly believe that the Buddha did not speak about the Relative Dharma. This unintentionally leads to slandering the sutras, which contain the essential words of the Buddha. He employed everyday language and conventional truths to instruct ordinary people on how to gradually advance on the path of renouncing the phenomenal world in order to reconnect with their essential nature. If we fail to comprehend this and believe that the Buddha did not teach the Dharma, we may lose faith in the sutras and miss the chance to possess an accurate guide to rediscover the true nature of the absolute mind.

 

(Excerpted from the book Live The Buddhist Teachings, Hồng Đức Publishing House, 2014)

 

.... o ....




Theo bản tin của báo The Independent: Việt Nam di dời mộ phần để nhường chỗ cho sân golf của ông Trump, theo bài viết của phóng viên Brendan Rascius. Theo một báo cáo mới, những người nông dân Việt Nam đang tiến hành bốc mộ tổ tiên của họ nhằm giải phóng mặt bằng cho một khu phức hợp rộng lớn của Tổ chức Trump (Trump Organization) — dự kiến ​​bao gồm các khách sạn năm sao, biệt thự cao cấp và một sân golf.
. Mạng lưới các căn cứ lớn của Mỹ trải khắp châu Á — vốn là quân bài chủ chốt của Mỹ nhằm răn đe Trung Quốc — hiện nằm trọn trong tầm bắn của kho vũ khí khổng lồ gồm tên lửa, máy bay không người lái và vũ khí siêu thanh của Bắc Kinh; quy mô và sức mạnh của kho vũ khí này vượt xa bất cứ thứ gì mà Iran từng huy động trong cuộc chiến gần đây. . Các địa điểm trọng yếu như đảo Guam vẫn chưa được làm kiên cố đúng mức
Tom Steyer. là một nhà hoạt động cấp tiến, có bề dày thành tích giành nhiều thắng lợi cho tầng lớp lao động tại California, cho học sinh trường công, và cho môi trường. Trong hơn 15 năm qua, Tom đã đương đầu với các nhóm lợi ích quyền lực, mang lại những thành quả thiết thực cho California. Tom đã dẫn dắt các chiến dịch vận động bỏ phiếu nhằm đánh bại các tập đoàn dầu khí lớn trong vấn đề khí hậu, đối đầu với các tập đoàn thuốc lá lớn để tăng thuế thuốc lá.
- Cố vấn Khamenei: Trump đưa ra “yêu cầu phi lý”. - Nhân viên ICE trong vụ nổ súng tại Minnesota bị bắt giữ. - Chính quyền Trump cân nhắc bán các kho giam giữ nhập cư của ICE. - Mỹ chưa xác thực Iran rải thủy lôi ở eo biển Hormuz dù tăng cường tìm kiếm. - Marcia Lucas, biên tập phim ‘Star Wars’, qua đời ở tuổi 80. - Chuyến bay của United buộc phải chuyển hướng do hành khách gây rối. - Thái Bình Dương: Mỹ không kích tàu nghi buôn ma túy, 3 người thiệt mạng. - Xe buýt gây tai nạn liên hoàn trên cao tốc Virginia, ít nhất 5 người thiệt mạng. - Mỹ mở điều tra Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ theo Điều 301.
Theo tờ New York Times, dân số Nhật Bản từng đạt đỉnh 128 triệu người vào năm 2008 và hiện đã tụt về mức tương đương năm 1989; các dự báo cho thấy dân số nước này sẽ tiếp tục giảm xuống còn 87 triệu người vào năm 2070.
• Tòa Bạch Ốc Ra Mắt Trang ‘Aliens’ Để Gắn Mác Người Nhập Cư Là “Kẻ Lạ Xâm Nhập” • Thẩm Phán Liên Bang Tạm Ngăn Chi Tiền Từ Quỹ 1,8 Tỷ Mỹ Kim Của Trump • Hỏa Hoạn Trên Tàu Bảo Trì Ở Nhà Ga Penn: 5 Người Bị Thương, Tê Liệt Một Phần Mạng Lưới Tàu Hỏa • Mỹ – Iran Tạm Đạt Thỏa Thuận Gia Hạn Ngừng Bắn, Mở Đàm Phán Hạt Nhân • Drone Nga Rơi Vào Romania, Hai Người Bị Thương • Cuộc Điều Tra Hình Sự Nhắm Vào E. Jean Carroll Gây Nhức Đầu Cho Khối Cộng Hòa Tại Thượng Viện • Hội Đồng Cố Vấn Vaccine Của FDA Đề Nghị Cập Nhật Liều Tiêm Covid Mùa Tới • Phong Trào ‘No Kings’ Chuẩn Bị Biểu Tình Toàn Quốc Đúng Sinh Nhật 80 Tuổi Của Trump • Chính Quyền Trump Chuẩn Bị In Tờ 250 Đôla Có Hình Tổng Thống Đương Nhiệm • Con Trai Thẩm Phán Samuel Alito Âm Thầm Làm Luật Sư Cho Bộ Ngân Khố Của Trump • Ba Phi Hành Gia Trung Hoa Trở Về Trái Đất Sau Gần 7 Tháng Trên Quỹ Đạo • Hỏa Tiễn Không Gian Nổ Trên Bệ Phóng Trong Khi Thử Động Cơ, Không Ai Bị Thương • Virus Gây Ói Mửa Lây Lan Rộng Ở Nhiều Tiểu Bang Ho
Trong Thiền Tông, ý nghĩa của Phật đản không nằm ở một sự kiện cách đây hơn hai ngàn năm, mà ở nơi sinh khởi của tánh giác ngay trong tâm mỗi người. Các Thiền sư Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam đều chỉ về một điểm: Phật sinh khi tâm sáng, Phật mất khi tâm mê. Do vậy, trong nhà Thiền, khi chúng ta mừng lễ hội Phật đản với thắp đèn tuần hành chỉ là mượn phương tiện để tiếp cận chúng sinh đời thường. Trong tận cùng, lễ Phật đản không chỉ đơn giản tưởng nhớ một đức Phật Thích Ca, mà còn để nhận ra ánh sáng tỉnh thức, xa lìa vọng tưởng trong tâm mỗi người.
Ngành tư pháp Hoa Kỳ đang áp dụng một phương thức mới nhằm đẩy nhanh tiến trình trục xuất di dân: gom nhiều hồ sơ vào các phiên xử tập thể quy mô lớn, với mục tiêu ban hành nhiều lệnh trục xuất hơn trong thời gian ngắn. Theo các luật sư di trú và Hiệp hội Luật sư Di trú Hoa Kỳ (AILA), những phiên xử sơ khởi — thường gọi là “master calendar hearings” — nay được tổ chức dưới dạng “đại phiên”, hay “phiên tòa tập thể”, có khi lên tới hơn 100 người trong một buổi. Trước đây, mỗi phiên như vậy chỉ có vài chục hồ sơ.
Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ (USCIS) đã công bố một chính sách mới nhắc nhở mọi người rằng phần lớn người nước ngoài đang tạm thời ở Hoa Kỳ và muốn xin Thẻ Xanh nên nộp đơn thông qua lãnh sự quán Hoa Kỳ tại quốc gia quê nhà của họ, thay vì nộp bên trong Hoa Kỳ.
Ứng cử viên Đảng Cộng Hòa cho chức vị Thống đốc California, Steve Hilton (56 tuổi), đang nỗ lực giành một trong hai vị trí dẫn đầu trong kỳ bầu cử sơ bộ 2 tháng 6 tới đây. Theo cuộc thăm dò mới nhất do Đảng Dân Chủ California công bố vào ngày 19/05, ứng cử viên Steve Hilton và ứng cử viên Đảng Dân Chủ Xavier Becerra tiếp tục dẫn đầu cuộc đua. Chỉ có hai ứng cử viên đứng đầu được đi tiếp vào vòng bầu cử tháng 11, bất kể đảng phái. Cuộc đua sẽ kiểm chứng liệu Đảng Cộng Hòa có thể tạo nên một thách thức đáng kể tại California hay không. Tiểu bang chưa bầu chọn một thống đốc Cộng Hòa nào kể từ khi ông Arnold Schwarzenegger rời nhiệm sở vào năm 2011.
Vào ngày 29 tháng 4, Tối Cao Pháp Viện (TCPV) đưa ra phán quyết đa số (tỷ lệ 6-3) đã bác bỏ bản đồ phân chia khu vực bầu cử Quốc Hội của Louisiana, vốn bao gồm hai khu vực có đa số cử tri là người da đen. Phán quyết này đã vô hiệu hóa Điều 2 của Đạo luật Quyền bầu cử năm 1965 (VRA) nghiêm cấm các quy trình bầu cử làm suy giảm sự đại diện của các nhóm thiểu số. Phán quyết đặt ra tiêu chuẩn mới, yêu cầu các nguyên đơn phải chứng minh được rằng cơ quan lập pháp tiểu bang đã có hành vi phân biệt chủng tộc một cách có chủ ý khi vẽ lại bản đồ bầu cử. Đây là một yêu cầu gần như bất khả thi. Trước đây, tòa chỉ yêu cầu người kiện chứng minh rằng bản đồ phân chia khu vực bầu cử mới tước đi cơ hội của cử tri da đen trong việc bầu chọn các ứng viên mà họ chọn.
Sau hơn sáu năm sống chung với COVID-19, giới y khoa có thể sắp có thêm một phương tiện phòng ngừa mới: một loại thuốc uống dùng sau khi đã tiếp xúc với siêu vi khuẩn gây bệnh. Loại thuốc này tên là ensitrelvir, do công ty dược phẩm Nhật Bản Shionogi phát triển, hiện được bán tại Nhật dưới nhãn hiệu Xocova. Kết quả một cuộc thử nghiệm lâm sàng quốc tế, công bố ngày 13 tháng 5 trên New England Journal of Medicine, cho thấy thuốc có thể làm giảm đáng kể nguy cơ phát bệnh nơi những người sống chung nhà với người mắc COVID-19.
Một nhóm cựu chiến binh từng tham chiến Việt Nam đang đưa chính quyền Tổng thống Donald Trump ra tòa, nhằm chặn kế hoạch dựng một khải hoàn môn cao 250 foot tại vòng xoay giữa Nghĩa trang Quốc gia Arlington và Đài Tưởng niệm Lincoln. Trong đơn kiện nộp hồi tháng Hai, ba cựu binh Vietnam War cùng một sử gia kiến trúc, nhờ nhóm Public Citizen Litigation Group đại diện, yêu cầu tòa án liên bang ngưng dự án “Independence Arch” mà họ gọi mỉa là “Arc de Trump”. Họ lập luận rằng Tòa Bạch Ốc đã đốt giai đoạn, chưa có đạo luật riêng của Quốc hội cho phép xây một công trình tưởng niệm mới trên khu đất liên bang này, như luật hiện hành đòi hỏi.
Một nghiên cứu mới cho thấy phần lớn người nhận không hề nghĩ rằng những thông điệp cá nhân họ đọc có thể do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra — ngay cả khi chính họ cũng đang sử dụng công cụ này. Nhóm thực hiện nghiên cứu đã khảo sát hơn 1.300 người tại Hoa Kỳ, tuổi từ 18 đến 84. Người tham gia được cho đọc nhiều thông điệp do AI soạn, như thư xin lỗi qua email.Họ được chia thành bốn nhóm: một nhóm không được cho biết ai là tác giả; các nhóm còn lại được thông báo rõ ràng rằng nội dung do con người viết, do AI viết, hoặc có thể do một trong hai.
Tại sao Mỹ cấm vận Cuba từ 65 năm qua trong khi Mỹ vẫn giao thương với các nước CS như Trung Quốc, Việt Nam và Nga, đầu tư, hỗ trợ khoa học và mở cửa đón du học sinh từ các nước này để giúp họ phát triển nhanh hơn? Có phải vì phiếu bầu của cử tri gốc Cuba ở Florida? Chúng ta không biết chính xác. Bây giờ thì Trump hăm dọa đưa quân xâm chiếm Cuba, và nhiều học giả đang lên tiếng ngăn cản.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.